Cần sửa đổi một số quy định của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên

Ths. Hoàng Hải Yến - Giảng viên khoa PLHS&KSHS, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

 

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" có đặt ra yêu cầu là "phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán để họ chủ động trong việc thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình”. Việc thực hiện yêu cầu này là hết sức cần thiết để hoạt động tư pháp tiến hành trôi chảy, khắc phục tính hình thức, quan liêu. Trong đó, một trong những vấn đề trọng tâm của ngành kiểm sát là nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên làm sao để họ phát huy được tính tự thực hiện, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng Viện kiểm sát về những hành vi và quyết định tố tụng của mình.

Trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự có hai loại thẩm quyền thường được sử dụng, vừa có sự độc lập lại vừa có quan hệ chặt chẽ với nhau đó là là thẩm quyền quản lý hành chính và thẩm quyền tố tụng(quyền hạn tư pháp). Thẩm quyền quản lý hành chính là quyền tổ chức, quản lý, điều hành, phân công, kiểm tra, giám sát của những người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng (trong Viện kiểm sát và Viện trưởng, Phó Viện trưởng) đối với người được giao nhiệm vụ tiến hành tố tụng đối với vụ án (kiểm sát viên) được thực hiện bằng phương pháp quyền uy - phục tùng. Thẩm quyền tố tụng (quyền hạn tư pháp) là quyền hạn của người tiến hành tố tụng (kiểm sát viên) được thực hiện một cách độc lập theo trình tự, thủ tục tố tụng để giải quyết một vụ án và phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi và quyết định của mình[1]. Thẩm quyền quản lý hành chính chịu sự điều chỉnh và tuân thủ các quy định trong luật hành chính trong khi đó thẩm quyền tố tụng chịu sự điều chỉnh và phải tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Tính độc lập của thẩm quyền tố tụng đối với thẩm quyền quản lý hành chính xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính khách quan của việc giải quyết một vụ án hình sự. Kiểm sát viên là những người trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, xét xử một vụ án hình sự sẽ có những hành vi, đưa ra những quyết định tố tụng nhất định, gắn liền với một sự kiện, tình huống cụ thể. Kiểm sát viên phải được độc lập để chỉ giải quyết vụ án hình sự theo các quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi, quyết định của mình, không bị chi phối bởi các thẩm quyền khác. Mối quan hệ tương tác lẫn nhaugiữa thẩm quyền tố tụng với thẩm quyền quản lý hành chính thể hiện ở việc trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, thẩm quyền quản lý hành chính có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm việc thực hiện các thẩm quyền tố tụng. Nếu Viện trưởng, Phó Viện trưởng viện kiểm sát các cấp phân biệt rõ ranh giới, phạm vi giữa hai thẩm quyền này sẽ tạo điều kiện cho quá trình tố tụng được tiến hành trôi chảy, xử lý vụ án được khách quan, kịp thời, toàn diện và đúng đắn. Nếu thẩm quyền quản lý hành chính lấn át thẩm quyền tố tụng sẽ phát sinh tình trạng kiểm sát viên luôn thụ động, không phát huy trách nhiệm, dựa dẫm. Sau khi được phân công thụ lý vụ án, kiểm sát viên phải được độc lập thực hiện các hành vi theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự, nếu Viện trưởng, Phó Viện trưởng dùng mệnh lệnh hành chính chi phối hoạt động tố tụng của những người này thì sẽ hạn chế, làm mất đi tính độc lập của họ trong việc tìm kiếm, đánh giá sự thật khách quan của vụ án hình sự. Thẩm quyền tố tụng cũng tác động đến chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện thẩm quyền quản lý hành chính, nếu kiểm sát viên không chấp hành đầy đủ, đúng các mệnh lệnh, quyết định, chỉ thị hành chính của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, tất yếu phát sinh tình trạng "vô kỷ luật”, tùy tiện và như vậy sẽ hạn chế chất lượng hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng.

Để kiểm sát viên bảo đảm tính "công minh, chính trực, khách quan” trong việc giải quyết các vụ án hình sự theo chức năng, nhiệm vụ của mình thì vấn đề xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật được đặt ra hơn bao giờ hết. Các quy định của pháp luật càng cụ thể, đầy đủ, dễ áp dụng vào thực tiễn bao nhiêu thì việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên càng hiệu quả bấy nhiêu. Nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 37 BLTTHS. Những quy định này nhìn chung đã khái quát được nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng lại chưa làm giải quyết được vấn đề phân định rõ ràng đâu là hoạt động thể hiện quyền hạn tố tụng, đâu là hoạt động thể hiện việc chấp hành sự phân công của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, cụ thể như sau:

Thứ nhất, kiểm sát viên là nhân vật trung tâm, trực tiếp tiến hành hầu hết các hành vi tố tụng để giải quyết một vụ án hình sự nhưngcó quyền năng tố tụng rất hạn chế. Kiểm sát viên chỉ độc lập thực hiện một số hoạt động tố tụng như: kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra; đề ra yêu cầu điều tra; triệu tập và hỏi cung bị can, triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam; tham gia phiên toà, đọc cáo trạng, hỏi, đưa ra chứng cứ và thực hiện việc luận tội, tranh luận với những người tham gia tố tụng tại phiên toà. Trong đó, kiểm sát viên không được ban hành bất kỳ một quyết định tố tụng nào mà chỉ viết báo cáo đề xuất để Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra quyết định. Đối với quyền đề ra yêu cầu điều tra thì không được thể hiện dưới dạng quyết định nên tính ràng buộc pháp lý không cao[2].So sánh quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại Điều 37 BLTTHS và nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa tại Điều 39 BLTTHS có thể thấy, mặc dù cùng là người tiến hành tố tụng nhưng kiểm sát viên không được giao những quyền độc lập như Thẩm phán. Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (trừ biện pháp ngăn chặn tạm giam thuộc thẩm quyền của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án), trong khi đó kiểm sát viên là người trực tiếp xử lý vụ án chỉ có quyền đề xuất áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Tương tự, Thẩm phán có quyền quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án nếu thấy có đủ căn cứ, còn kiểm sát viên chỉ là người báo cáo đề xuất để Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra những quyết định đó.

Thứ hai, kiểm sát viên không thực sự được độc lập khi thực hiện các quyền hạn tố tụngcủa mình. Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, kiểm sát viên là người trực tiếp kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra nên là người nắm bắt rõ nhất những trường hợp đủ căn cứ để khởi tố vụ án hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; căn cứ truy nã bị can; căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án hoặc căn cứ thay đổi điều tra viên... nhưng lại không có những quyền hạn này mà vẫn phải báo cáo Viện trưởng, phó Viện trưởng quyết định. Chẳng hạn, tại Điều 43 và Điều 202 BLTTHS có quy định kiểm sát viên có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng nhưng tại Điều 36 BLTTHS thì lại quy định quyền yêu cầu Cơ quan điều tra thay đổi điều tra viên thuộc về lãnh đạo viện. Sự không độc lập này xuất phát từ nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành (nguyên tắc thủ trưởng chế). Tuy nhiên, sự thống nhất lãnh đạo là sự chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của Viện trưởng, Phó Viện trưởng đối với kiểm sát viên, còn khi giải quyết vụ án, kiểm sát viên vẫn phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về quyết định và hành vi của mình. Hơn nữa, những căn cứ để xác định những trường hợp nêu trên đều được quy định cụ thể trong BLTTHS nên không quá khó khăn để kiểm sát viên có thể độc lập thực hiện và xác định trách nhiệm của bản thân mình...

Thứ ba, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự có những quyết định mà sự nhanh chóng, chính xác ảnh hưởng lớn đến chất lượng giải quyết vụ án như: quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung; quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án; quyết định việc thay đổi quyết định truy tố tại phiên tòa… nhưng lại phụ thuộc vào tính đúng đắn, kịp thời của các quyết định tố tụng do Viện trưởng, Phó Viện trưởng ban hành[3]. Đối với các quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn thì chỉ có Viện trưởng, phó Viện trưởng được phép ban hành với lý do một số biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích cơ bản của bị can bị cáo nên phải bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp cho họ. Tuy nhiên ngoài các biện pháp ngăn chặn nêu trên còn có một số biện pháp ngăn chặn mà kiểm sát viên hoàn toàn có thể thực hiện như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Đối với quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì xét về tính chất cũng tương tự như việc đề ra yêu cầu điều tra, chỉ khác là yêu cầu điều tra được thực hiện trong giai đoạn điều tra còn trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung được thực hiện trong giai đoạn truy tố. Đối với quyết định thay đổi quyết định truy tố tại phiên tòa thì theo quy định tại Điều 195, 217, 222 BLTTHS, kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn. Trong quy chế Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm của ngành kiểm sát có quy định "sau khi xét hỏi, nếu có căn cứ rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố; có tình tiết mới theo hướng có lợi cho bị cáo làm thay đổi quyết định truy tố thì kiểm sát viên quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình", còn nếu "có đủ căn cứ để kết luận về một tội danh khác nặng hơn thì kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và báo cáo lãnh đạo Viện quyết định" (khoản 3 Điều 19). Xét thấy những quy định này tuy đã trao cho kiểm sát viên những quyền hạn tố tụng nhất định đối với việc thay đổi quyết định truy tố tại phiên tòa nhưng vẫn hạn chế trong trường hợp phát sinh tội danh khác nặng hơn. Nếu không quy định quyền thay đổi quyết định truy tố tại phiên tòa thì vô hình chung chưa giải quyết được vấn đề tăng cường khả năng tranh tụng của kiểm sát viên, thậm chí dẫn đến hậu quả nhiều kiểm sát viên không có quan điểm cá nhân về các vụ án mà dựa dẫm, phụ thuộc vào lãnh đạo viện, không có tư tưởng chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

Từ những phân tích trên, tác giả đề xuất sửa đổi một số quy định tại khoản 1 Điều 37 BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên theo hướng giao thêm một số quyền hạn tố tụng cho kiểm sát viên như: quyền quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; quyền quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, ra quyết định áp dụng, thay đổi hủy bỏ biện pháp ngăn chặn trừ biện pháp tạm giam. Bên cạnh đó, tăng cường chức năng buộc tội trong thủ tục xét xử, chủ động thay đổi nội dung buộc tội. Điều này không những làm tăng lên trách nhiệm, uy tín của Viện kiểm sát mà còn khẳng định tính khách quan, công minh, tuân thủ pháp luật trong hoạt động của kiểm sát viên. Cụ thể là:

"Điều 37. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên

1. Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a) Kiểm sát việc khởi tố; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; kiểm sát các hoạt động điều tra và lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra;

b) Đề ra yêu cầu điều tra;

c) Yêu cầu Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên, yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can;

d) Triệu tập và hỏi cung bị can, triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;

đ) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật này (riêng biện pháp tạm giam phải do Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS quyết định); kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam;

e) Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

g) Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án;

h) Tham gia phiên toà; đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vụ án; hỏi, đưa ra chứng cứ và thực hiện việc luận tội; phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, tranh luận với những người tham gia tố tụng tại phiên toà, quyết định việc thay đổi quan điểm truy tố tại phiên tòa;

i) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án, của những người tham gia tố tụng và kiểm sát các bản án, quyết định của Toà án;

k) Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Toà án;

l) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát.”

Việc sửa đổi Điều 37 BLTTHS như trên kéo theo việc sửa đổi khoản 2 Điều 91. Cấm đi khỏi nơi cư trú; khoản 3 Điều 92. Bảo lĩnh; khoản 2 Điều 93. Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm như sau:

"Điều 91. Cấm đi khỏi nơi cư trú

1...

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này (trừ Viện trường, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp), Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú…”

"Điều 92. Bảo lĩnh

1…

2…

3. Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này (trừ Viện trường, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp), Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định về việc bảo lĩnh…”

"Điều 93. Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

1…

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này (trừ Viện trường, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp), Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Quyết định của những người quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành…”.


[1] PGS, TS. Trần Văn Độ (2012), "Phân định thẩm quyền trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử

[2] Nguyễn Ngọc Kiện, "Tăng quyền hạn tố tụng hình sự cho kiểm sát viên để bảo đảm hoạt động tranh tụng", Tạp chí kiểm sát, số 17/2013, trg 19.

[3] Ths. Đỗ Văn Đương (2008), "Cần phân định rõ thẩm quyền hành chính với trách nhiệm và quyền hạn tố tụng trong TTHS”, Tạp chí Kiểm sát, (18), tr. 37.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi