Tổng quan về mô hình Tố tụng hình sự Việt Nam thực trạng và phương hướng hoàn thiện

GS. TSKH. Đào Trí Úc  Đại học Quốc gia Hà Nội

Phần thứ Nhất: Khái niệm, thực trạng của tố tụng hình sự Việt Nam

1. Tố tụng hình sự và mô hình tố tụng hình sự

1.1. Khái niệm tố tụng hình sự

Một trong những lĩnh vực được công chúng đặc biệt quan tâm trong những năm đổi mới và cải cách ở Việt Nam là lĩnh vực hoạt động của các cơ quan tư pháp, trước hết là hoạt động của các cơ quan tư pháp hình sự. Như một phản ửng tự nhiên, ban đầu người ta quan tâm đến năng lực của Nhà nước, của xã hội trong việc ngăn chặn và đẩy lùi tội phạm, vì đó là một trong những điều kiện quan trọng cho việc bảo vệ các thành quả cách mạng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự và nhân phẩm của công dân, các lợi ích của quốc gia và xã hội và là điều kiện bảo đảm ổn định và sự phát triển của đất nước. Về sau, trọng tâm của dư luận xã hội đã dịch chuyển theo hướng bảo đảm sự công bằng, dân chủ, sự nghiêm minh của pháp luật, chất lượng và hiệu quả của các hoạt động tư pháp, yêu cầu về phòng chống oan sai, tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong các hoạt động tư pháp, bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng của công dân. Đó cũng chính là những định hướng và yêu cầu cơ bản đối với các hoạt động tư pháp được đặt ra trong các văn kiện chính trị có tính chỉ đạo chiến lược của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong những năm gần đây ([1]).

Đó trước hết là lĩnh vực hoạt động của các cơ quan với vị trí, vai trò, chức năng và phạm vi thẩm quyền tương ứng được Hiến pháp và pháp luật quy định chặt chẽ, bao gồm:

- Các Tòa án, là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp (Điều 127) và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân.

- Các Cơ quan điều tra, được tổ chức và hoạt động theo Pháp lệnh tổ chức các Cơ quan điều tra

- Viện kiểm sát nhân dân, tổ chức và hoạt động theo quy định của Hiến pháp (các điều 137 - 140 Hiến pháp) và Luật Tổ chức VKSND với hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.

- Các cơ quan thi hành án hình sự.

Đây cũng là lĩnh vực với sự có mặt của những người mà theo pháp luật là người bị tạm giữ (Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự), bị can (Điều 149 Bộ luật TTHS), bị cáo (Điều 50 Bộ luật TTHS), người bị hại (Điều 5 1 Bộ luật TTHS), nguyên đơn dân sự (Điều 52 Bộ luật TTHS), bị đơn dân sự (Điều 53 Bộ luật TTHS), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Điều 54 Bộ luật TTHS), người làm chứng (Điều 56 Bộ luật TTHS), người bào chữa (Điều 56 Bộ luật TTHS), người bảo vệ quyền lợi của đương sự (Điều 57 Bộ luật TTHS), người giám định (Điều 60 Bộ luật TTHS), người phiên dịch (Điều 61 Bộ luật TTHS).

Để vận hành tố tụng hình sự, các cơ quan tư pháp hình sự, những cá nhân có liên quan được xác định một phạm vi và mức độ cho địa vị pháp lý tố tụng. Những cá nhân có liên quan cũng được pháp luật quy định các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định. Sự vận hành các chức năng, thẩm quyền cũng như việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng đó được diễn ra trong phạm vi những quan hệ tố tụng nhằm bảo đảm để thực hiện các chức năng, thẩm quyền, các quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Toàn bộ các hoạt động đó phải được diễn ra theo một trình tự với sự tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục pháp lý. Yêu cầu về sự tuân thủ trình tự và thủ tục chặt chẽ là một trong những yêu cầu quan trọng đối với các hoạt động tố tụng và có thể nói không sai rằng, nếu đứng ở giác độ của yêu cầu bảo vệ phẩm giá con người trong Nhà nước pháp quyền thì đây là yêu cầu quan trọng nhất.

Cuối cùng, những chức năng, thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ cũng như tính hệ thống của các trình tự, thủ tục được phản ánh nhất quán qua các giai đoạn theo sự diễn biến của các sự kiện.

Như vậy, trong lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm có một phạm vi hay lĩnh vực có những mục đích nhất định với sự hiện diện của những cơ quan, cá nhân mà pháp luật xác định cho những mức độ thẩm quyền, địa vị pháp lý; với những mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện các chức năng, thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ đó và theo một trình tự, với những thủ tục pháp lý chặt chẽ nhằm hướng tới sự xác định các yếu tố về tội phạm và hình phạt trong hành vi của cá nhân con người. Lĩnh vực hay phạm vi đó được gọi là tố tụng hình sự.

1.2. Khái niệm mô hình tố tụng hình sự và cấu trúc của nó

Từ khái niệm tổng quát về tố tụng hình sự có thể thấy rằng, bất kỳ một hệ thống tố tụng hình sự nào cũng bao gồm những yếu tố chủ đạo sau đây:

- Mục đích của tố tụng hình sự;

- Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự;

- Các chức năng chủ yếu trong tố tụng hình sự;

- Vị trí pháp lý của các chủ thể hoạt động tố tụng hình sự và quan hệ giữa các chủ thể đó trong tố tụng hình sự;

- Các giai đoạn tố tụng hình sự;

- Phương thức đạt được mục đích của tố tụng hình sự hay là vấn đề chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự.

Các yếu tố này trong tổng thể là xương sống của tố tụng hình sự. Những yếu tố đó hợp thành một hệ thống tố tụng hình sự thống nhất, nhất quán với nhau, trong đó mục đích của tố tụng hình sự là yếu tố quan trọng nhất, chi phối các yếu tố khác. Mục đích nào thì sẽ đặt ra những yêu cầu đòi hỏi như vậy cho các hoạt động tố tụng hình sự, tức là các nguyên tắc của tố tụng hình sự. Đến lượt chúng, cùng với mục đích, các nguyên tắc của tố tụng hình sự là điểm xuất phát để xác định chức năng, vị trí và các mối quan hệ giữa các chủ thể tố tụng hình sự, phương thức của việc bảo đảm chứng cứ và của quá trình chứng minh trong vụ án hình sự.

Tính chất và đặc điểm của các yếu tố hợp thành tố tụng hình sự đều được quyết định bởi mục đích của tố tụng hình sự. Cũng căn cứ vào đó mà người ta phân biệt sự khác nhau căn bản của các mô hình tố tụng hình sự. Còn trong khuôn khố của một mô hình thì tính chất và đặc điểm của các yếu tố đó của TTHS có thể có những sự khác nhau bắt nguồn từ đặc điểm phát triển của TTHS, đặc điểm của hệ thống pháp luật cũng như của hệ thống tư pháp của mỗi quốc gia, trong từng thời đại lịch sử nhất định.

Trên tinh thần đó, có thể nêu những tính chất, đặc điểm của hệ thống tố tụng hình sự Việt Nam như sau:

2. Mục đích của tố tụng hình sự Việt Nam

2.1. Hiện trạng

Bộ luật TTHS Việt Nam hiện hành (2003) tại Điều 1, mặc dù không sử dụng khái niệm "mục đích" nhưng đã dùng từ "nhằm". Trong tiếng Việt "nhằm" cũng có thể được hiểu là mục đích cần đạt được. Theo đó, TTHS có mục đích "phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội".

TTHS Việt Nam cũng có mục đích "bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”.

Có thể thấy rằng, quy định trên đây của Bộ luật TTHS đã xác định hai nhóm mục đích của TTHS: Nhóm các mục đích cụ thể, trực tiếp và nhóm các mục đích chung, gián tiếp. "Ngăn chặn tội phạm", "phát hiện chính xác và nhanh chóng tội phạm"; "xử lý công minh, kịp thời tội phạm", "không để lọt tội phạm", "không làm oan người vô tội” là những mục đích thuộc nhóm thứ nhất. Nhóm các mục đích thứ hai gồm mục đích: "Phòng ngừa tội phạm", "bảo vệ chế độ XHCN", "bảo vệ lợi ích của Nhà nước", "bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức", "bảo vệ trật tự pháp luật XHCN", “giáo dục ý thức pháp luật”.

2.2. Nhận xét

Các mục đích chung hay cụ thể, gần hay xa được nêu trên đây của TTHS Việt Nam đều nhất quán ở một định hướng về ưu thế vượt trội của Nhà nước mà người đại diện là những cơ quan và cá nhân được pháp luật TTHS xác định là "cơ quan tiến hành tố tụng”“người tiến hành tố tụng”. Những khái niệm này cũng đã đủ để nói lên vị thế đó của các cơ quan công quyền. Mục đích hoạt động của các cơ quan đó đều xuất phát từ quyền lực của Nhà nước để "phát hiện", "xử lý", để "không để lọt tội phạm" và "không làm oan người vô tội"; để bảo vệ chế độ XHCN, các lợi ích của Nhà nước, "trật tự pháp luật", "quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của tổ chức"… tại Điều 10 của Bộ luật TTHS Việt Nam, các mục đích nêu trên đã được cụ thể hóa hơn nữa thông qua việc quy định trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng phải "xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ”, trong đó có trách nhiệm“làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo". Một lần nữa, trách nhiệm đó chỉ thuộc về Nhà nước.

Để làm rõ tính chất và đặc điểm của TTHS Việt Nam thông qua phạm trù "mục đích" của TTHS, có lẽ cần lấy thêm một yếu tố khác là thực chất của TTHS, nói khác đi, cần bắt đầu từ câu hỏi: Vì sao cần đến TTHS? Hoặc "Từ khi nào nảy sinh một vụ án hình sự và nó phải kết thúc khi nào và bằng cách nào?".

Nếu nhìn nhận TTHS từ góc độ một vụ kiện thì sẽ thấy TTHS thực chất là sự tranh chấp hình sự về vấn đề có tội hay vô tội, tội nặng hay tội nhẹ giữa Nhà nước - người đưa ra điều cấm và bị can, bị cáo - người bị coi là vi phạm điều cấm đó. Lịch sử của nhân loại đã chứng kiến nhiều kiểu giải quyết tranh chấp đó bằng những cách không dính dáng gì đến tố tụng như đền nợ máu, hòa giải các bên trong vụ kiện, kiểu hành xử của chủ nô đối với nô lệ, chặt chân tay của kẻ trộm, cạo trọc bôi vôi với kẻ chửa hoang v.v. . . Khi con người đã trở nên văn minh hơn, sự tranh chấp như trên đã được giải quyết bằng con đường tố tụng và vì vậy phương thức giải quyết phải có điểm dừng nhất định. Điểm dừng thứ nhất: Hoặc là các bên tìm ra giải pháp chung và đều thỏa mãn với nó hoặc là bên này thừa nhận đòi hỏi của bên kia. Điểm dừng thứ hai: Đó là việc tìm ra chân lý, sự thật đã xảy ra, các bên buộc phải tìm ra chân lý, sự thật của vụ án. Tố tụng hình sự Việt Nam chọn con đường thứ hai.

Trong trường hợp một vụ án hình sự, tìm ra sự thật thực chất chỉ là khôi phục lại, tạo dựng lại những gì đã xảy ra trong quá khứ. Đó chính là một quá trình nhận thức, mà nhận thức thì phải có khách thể nhận thức (nhận thức cái gì?) và chủ thể nhận thức (ai nhận thức). Nội dung nhận thức bao gồm sự lĩnh hội của chủ thể về khách thể bằng con đường nhận biết, rồi qua tư duy, và cuối cùng là kiểm tra cảm nhận và tư duy đó trong thực tiễn theo logic: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan" ([2]) Trong khi đó, TTHS lại cho thấy một tính đặc thù của quá trình nói trên: Đó là sự nhận thức những sự việc đã xảy ra. Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng với tư cách là chủ thể nhận thức ở đây lại không có được khả năng của một chủ thể nhận thức như công thức nêu trên. Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên không thề đồng thời là “người chứng kiến những gì đã xảy ra để có được cảm nhận của trực quan sinh động" của mình. Họ lại vừa là người có nhiệm vụ thể hiện cái "tư duy trừu tượng của mình rồi ra kết luận về vụ án”. Về mặt thực tế, có thể xẩy ra trường hợp đó, nhưng về mặt pháp lý nếu có vậy thì họ bị cấm trở thành người tiến hành tố tụng khi họ đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Khoản 1 Điều 42 Bộ luật TTHS Việt Nam). Mặc dù có những hạn chế của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng trong quá trình nhận thức sự thật khách quan nhưng họ lại được quyền chủ động điều tra, truy tố và xét xử vụ án. Điều đáng nói ở đây không phải là vấn đề giao hay không giao cho các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng quyền đi tìm sự thật khách quan, vì như đã nói ở trên, một khi có người gây ra hành vi tội phạm và có người bị hại thì nếu không có người thứ ba công minh, chân lý thường là thuộc về kẻ mạnh. Đó chính là lý do sinh ra TTHS với sự xuất hiện của người thứ ba công minh ấy là Cơ quan điều tra, Công tố và Tòa án, đặc biệt là vai trò của Tòa án, người phán quyết cuối cùng về vụ án. Vấn đề cần bàn là ở chỗ, làm thế nào để chân lý được sáng tỏ trên tinh thần công bằng, không có độc quyền chân lý vì đó là mầm mống của một nửa chân lý hoặc là chân lý ngụy tạo. Nói khác đi, cần có một bảo đảm để vừa đạt được sự thật, vừa để không có được cái không phải sự thật.

Những điều vừa trình bày trên đây cho thấy hai vấn đề cần được nghiên cứu:

- Thứ nhất, những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành đang ở trạng thái tạo ra sự chủ quan cho chủ thể đi tìm sự thật của vụ án hình sự. Mặc dù pháp luật có xác định phải xử lý công minh, không làm oan người vô tội, nhưng đứng ở vị thế độc quyền chân lý, sự chủ quan là không tránh khỏi.

- Thứ hai, các mục đích được đặt ra cho TTHS mà thực chất là mục đích hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nặng về bảo vệ lợi ích công và coi nhẹ lợi ích của cá nhân những con người cụ thể trong vụ án hình sự. Bộ luật TTHS chỉ nhắc đến mục đích "bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân" một cách chung chung mà không chỉ rõ là bảo vệ quyền và lợi ích của những người ở vào vị thế bị động và yếu hơn so với bộ máy công quyền hiện diện trong TTHS, vả lại, cũng chỉ được nhắc đến sau cùng. Vì vậy, ai sẽ là người quan tâm nhiều hơn đến họ: Luật sư? Bản thân những cá nhân đó (bị can, bị cáo, bị đơn dân sự)? Chắc chắn là như vậy! Thế nhưng ở đây họ chỉ là những người không có quyền chủ động trong tiến trình TTHS, họ được xếp vào thể loại "người tham gia tố tụng" vì đúng là tố tụng này không phải của họ. Mặt khác, giả sử họ là chủ thể đi tìm sự thật thì liệu họ có đi tìm và tìm ra những gì chống lại họ (nếu là bị can, bị cáo), hay thân chủ của họ (nếu là luật sư)? Trong trường hợp này, mục đích hợp pháp của những chủ thể này chỉ có thể là đi tìm những gì chống lại cái không phải là sự thật đang có nguy cơ được thừa nhận là sự thật. Muốn vậy, cần tạo cho bị can, bị cáo, người bào chữa của họ có được khả năng và vị thế ngang với khả năng và vị thế của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc đi tìm sự thật cũng như chống lại những gì phi sự thật, phản sự thật. Cách duy nhất để thỏa mãn được yêu cầu đó là đổi mới cách nhìn về mục đích của TTHS theo hướng bình đẳng đối với các giá trị, lợi ích cần đạt được của TTHS, lợi ích của trật tự pháp luật và lợi ích của cá nhân những con người nằm trong vòng tố tụng. Từ đó, hai mục đích khác nhau của TTHS cần được đặt ở vị trí ngang bằng nhau là: 1) xác định sự thật của vụ án và 2) loại trừ những gì không phải là sự thật trong vụ án. Với logic đó, việc xác định mục đích của TTHS cần được thực hiện theo hướng bảo đảm lợi ích của trật tự pháp luật và lợi ích, quyền và tự do của công dân.

3. Các nguyên tắc của tố tụng hình sự

3.1. Hiện trạng

Khi bàn về các nguyên tắc của tố tụng hình sự, ở Việt Nam có hai luồng ý kiến khác nhau. Loại quan niệm thứ nhất cho rằng, nguyên tắc pháp lý đòi hỏi phải được pháp luật ghi nhận. Nhờ sự ghi nhận của pháp luật mà nguyên tắc mang tính quy phạm và được bảo đảm thực hiện bởi sức mạnh của quyền lực Nhà nước. Kết quả là một nguyên tắc được pháp luật quy định sẽ có hiệu lực điều chỉnh mà không còn là yêu cầu, đòi hỏi chung chung.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng, nguyên tắc là những tư tưởng chủ đạo chung phản ánh các quy luật khách quan của quá trình phát triển xã hội, có mức độ phổ quát hơn nhiều so với những gì được pháp luật quy định, nhiều khi phải đi trước một bước so với pháp luật và có khả năng chỉ đạo cả hoạt động xây dựng pháp luật, định hướng nhận thức pháp luật và hoạt động áp dụng pháp luật.

Theo quan điểm và hiểu biết của chúng tôi, đây thực chất là hai mức độ khác nhau trong sự thể hiện của khái niệm nguyên tắc pháp lý. (Do đó, chúng tôi chủ ý không dùng khái niệm: “Nguyên tắc pháp luật" mà dùng "khái niệm nguyên tắc pháp lý"). Nguyên tắc pháp lý có hai mức độ biểu hiện: Mức độ nằm trong ý thức pháp luật và tư tưởng pháp lý; mức độ nằm trong các quy định của pháp luật. Ớ mức độ thứ nhất, các nguyên tắc pháp lý có khả năng là nhân tố chỉ đạo hoạt động xây dựng pháp luật, nó có trước pháp luật thực định. Ở mức độ thứ hai, khi được ghi nhận thông qua các quy phạm và chế định của pháp luật thực định, các nguyên tắc sẽ có năng lực điều chỉnh cao hơn, cụ thể hơn. Thiếu sự điều chỉnh của pháp luật hoặc điều chỉnh không đầy đủ, không đồng bộ, thiếu rõ ràng sẽ làm cho việc áp dụng các nguyên tắc thiếu nhất quán và dễ dẫn đến sự vi phạm các nguyên tắc đó. Đương nhiên, phương pháp ghi nhận bởi pháp luật đối với các nguyên tắc là rất đa dạng và cũng là vấn đề cần được bàn đến.

Đồng thời với việc xác nhận hai mức độ thể hiện của nguyên tắc pháp lý, cần khẳng định rằng hai mức độ đó phải nhất quán với nhau, mức độ mang tính quy phạm phải là sự biểu hiện tốt nhất mức độ lý tưởng của các nguyên tắc. Pháp luật thực định của bất kỳ một Nhà nước nào cũng không thể hoàn thiện ngay được theo đúng nhận thức của giai cấp cầm quyền nói riêng và của nhân dân nói chung và luôn luôn được đặt trước yêu cầu ngày càng hoàn thiện theo những lý tưởng, quan điểm chủ đạo (tức là nguyên tắc đã được đặt ở trạng thái đã được nhận thức khoa học). Có thể thấy rõ điều đó qua những bất cập hoặc khoảng cách giữa hệ thống pháp luật đã được đổi mới nhiều năm ở nước ta so với những tư tưởng và quan điểm chỉ đạo trong “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, tầm nhìn 2020".

Nguyên tắc pháp lý còn là kim chỉ nam định hướng cho việc hiểu biết về pháp luật. Do vậy, để hiểu đúng nội dung và ý nghĩa của một quy phạm pháp luật hay chế định pháp luật thì vai trò của nguyên tắc pháp lý là rất quan trọng. Chỉ có nắm vững nguyên tắc thì mới hiểu được lời văn và tinh thần của pháp luật.

Trong tố tụng hình sự Việt Nam, nguyên tắc của tố tụng hình sự là những tư tưởng và quan điểm chủ đạo được thể chế hóa bằng pháp luật, có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định và thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự và các quan hệ tố tụng hình sự, đối với các hình thức và phương pháp thực hiện những hoạt động và quan hệ đó. Cũng như các nguyên tắc pháp lý khác, các nguyên tắc của tố tụng hình sự có những đặc điểm sau đây:

a) Nguyên tắc của tố tụng hình sự phải là những tư tưởng, quan điểm phù hợp với yêu cầu phát triển khách quan của đời sống xã hội. Nguyên tắc của tố tụng hình sự là những quan điểm chủ đạo, những tư tưởng xuất phát điểm quyết định cấu trúc và nội dung tổ chức và các hoạt động trong tố tụng hình sự.

b) Nguyên tắc của tố tụng hình sự phản ánh những đòi hỏi khách quan và nhận thức tư tưởng của xã hội trong quá trình phát triển về nền tư pháp nói chung và về Tố tụng hình sự nói riêng.

Nguyên tắc của tố tụng hình sự gắn liền với nhiệm vụ và mục đích của tố tụng hình sự và do vậy, tuân thủ các nguyên tắc của tố tụng hình sự là bảo đảm quan trọng hàng đầu cho việc thực hiện có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ của tố tụng hình sự.

c) Nguyên tắc của tố tụng hình sự được thể hiện trong những hình thức đặc trưng dưới dạng tư tưởng, quan điểm và dưới dạng quy phạm pháp luật. Ở dạng những tư tưởng và quan điểm, các nguyên tắc có tác dụng dẫn dắt nhận thức, định hướng ý thức xã hội và ý thức chuyên nghiệp dưới dạng các quy phạm, các nguyên tắc là những quy định pháp lý có tính chất chỉ đạo bắt buộc đối với mọi quyết định tố tụng và hành vi tố tụng.

Nguyên tắc của tố tụng hình sự nếu được ghi nhận bởi pháp luật sẽ tạo ra khả năng điều chỉnh và làm tăng hiệu lực thực hiện của các nguyên tắc đó. Mặt khác, các nguyên tắc của tố tụng hình sự là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Tố tụng hình sự. Trong tố tụng hình sự Việt Nam, các nguyên tắc của tố tụng hình sự là đòi hỏi bắt buộc đối với thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự; vi phạm nguyên tắc tố tụng hình sự trong các hoạt động tố tụng dẫn đến hậu quả pháp lý là hủy các quyết định đã vi phạm.

d) Các nguyên tắc của tố tụng hình sự là yếu tố quan trọng và là sản phẩm mô hình của tố tụng hình sự, là những đòi hỏi và phương châm cụ thể bảo đảm đưa nội dung của mô hình tố tụng trở thành hiện thực pháp lý thông qua các chế định, các quy phạm pháp luật Tố tụng hình sự và thông qua tổ chức và hoạt động của chủ thể tham gia tố tụng. Mỗi một mô hình tố tụng hình sự có một hệ thống các nguyên tắc đặc trưng của nó.

e) Nguyên tắc của tố tụng hình sự là điều kiện cho việc thực hiện các mục đích của tố tụng hình sự. Nếu như mục đích của tố tụng là cái mà các hoạt động của tố tụng hình sự cần đạt được thì nguyên tắc chỉ cho chúng ta thấy rằng, cần đạt được kết quả đó như thế nào. Điều đó có nghĩa là, nguyên tắc có vai trò hỗ trợ cho việc thực hiện mục đích của tố tụng hình sự.

Như vậy, nguyên tắc của tố tụng hình sự là cái có trước mô hình cấu trúc của tố tụng hình sự và trước cả các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Nguyên tắc không phải là pháp luật thực định mà là những đòi hỏi pháp lý có tính khái quát cao, mang màu sắc lý tưởng, là những yêu cầu, đòi hỏi, là cái cần có. Trong khi đó, pháp luật tố tụng hình sự là cái tồn tại. Cái tồn tại phải được cải biến cho phù hợp với yêu cầu của cái cần có, nhưng trong hiện thực luôn luôn có một khoảng cách giữa hai phạm trù đó. Có thể lấy ví dụ về nguyên tắc tranh tụng trong cải cách tư pháp hình sự hiện nay ở Việt Nam theo tinh thần của Chiến lược cải cách tư pháp. Thực hiện tranh tụng trong tố tụng hình sự là yêu cầu được đặt ra trong Chiến lược, nhưng yếu tố tranh tụng có được bao nhiêu trong cả hệ thống tố tụng hình sự, được phản ánh như thế nào trong các chế định và quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự lại là một vấn đề khác. Tuy nhiên, tư tưởng về việc thực hiện tranh tụng luôn luôn là cơ sở, là thước đo cho việc đánh giá tính hoàn thiện của các chế định pháp luật và của thực tiễn tư pháp hình sự ở Việt Nam hiện nay.

Cùng với các thành tựu đổi mới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội theo hướng cải cách và hội nhập, tố tụng hình sự Việt Nam cũng đã từng bước đổi mới và hoàn thiện, nhận thức về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tư pháp hình sự nói chung và của tố tụng hình sự nói riêng đã có nhiều chuyển biến và theo đó là sự nhận thức lại về hệ thống các nguyên tắc của tố tụng hình sự.

Việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự vào năm 2003 đã ghi nhận những chuyển biến đó. Trong số các sửa đổi, bổ sung căn bản nội dung các quy phạm và chế định của tố tụng hình sự thì sự thay đổi, bổ sung các nguyên tắc của tố tụng hình sự đã cho thấy sự chuyển hướng về chất của tố tụng hình sự nước ta. Điều đó, chắc chắn đã bắt nguồn từ những thay đổi quan trọng trong nhận thức về vai trò, tính chất, mục đích và các chức năng của tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ([3]).

Nếu căn cứ vào tên gọi của các điều luật cũng đồng thời là tiêu đề của các nguyên tắc, có thể xác định được 30 nguyên tắc được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 hiện hành. Tuy nhiên, xem xét kỹ nội dung cụ thể của Điều 10 của Bộ luật Tố tụng hình sự sẽ thấy rằng, bên cạnh việc quy định nguyên tắc về xác định sự thật của vụ án, tại phần thứ hai của điều luật còn có một quy định quan trọng về nguyên tắc trách nhiệm chứng minh, theo đó, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. (Đoạn 2, Điều 10 Bộ luật TTHS) Có thể phân loại các nguyên tắc kể trên theo các nhóm sau đây:

a) Nhóm các nguyên tắc có nội dung liên quan đến yêu cầu về bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự

Đó là nội dung của các nguyên tắc được quy định tại Điều 3 của Bộ luật Tố tụng hình sự: "Bảo đảm pháp chế XHCN trong tố tụng hình sự". Theo đó, mọi hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự

Yêu cầu về pháp chế trong tố tụng hình sự cũng được thể hiện rõ trong nguyên tắc được quy định tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự về việc xác định sự thật của vụ án. Theo nguyên tắc này, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

Yêu cầu về việc nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật trong các hoạt động và quyết định tố tụng cũng là nội dung của nguyên tắc về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng (Điều 12 Bộ luật Tố tụng hình sự), theo đó, trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điều tương ứng của Bộ luật hình sự. Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự xác định trách nhiệm của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong việc khởi tố và xử lý vụ án hình sự. Theo nguyên tắc này, khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì các cơ quan nói trên, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp theo luật định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội. Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ đã được quy định tại các điều 100 và 107 của Bộ luật Tố tụng hình sự và ngoài trình tự được quy định tại Chương VIII của Bộ luật này.

Việc giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với bản án và quyết định của Tòa án cấp dưới, của Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án và quyết định của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp (Điều 21 Bộ luật Tố tụng hình sự) cũng là một nguyên tắc bảo đảm pháp chế nhằm làm cho việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất. Nội dung những đòi hỏi được quy định tại Điều 22 Bộ luật Tố tụng hình sự về bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Tòa án; quy định tại Điều 23 và thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật; Điều 27 của Bộ luật Tố tụng hình sự về phát hiện và khắc phục nguyên nhân và điều kiện phạm tội đều hàm chứa yêu cầu về pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự. Như vậy, nhóm "các nguyên tắc pháp chế" có 8 nguyên tắc được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

b) Nhóm các nguyên tắc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung và quyền của bị can, bị cáo nói riêng trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự

Trong nhóm này, trước hết đó là nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân được quy định tại Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo đó, khi tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa. Có thể nói rằng, nguyên tắc này có nội dung rất gần với đòi hỏi về pháp chế vì hàm chứa trong đó đòi hỏi về việc xem xét, đánh giá, kiểm tra tính hợp pháp của các biện pháp đã áp dụng. Tuy nhiên, mục đích của việc đặt ra nguyên tắc này là để bảo đảm sự tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong các hoạt động tố tụng hình sự mà không chỉ dừng lại ở yêu cầu về việc nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật.

Khách thể ở đây là quyền của công dân. Cùng hướng bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự là nội dung của các nguyên tắc được quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng hình sự "Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật", theo đó Bộ luật nhấn mạnh đến việc không phân biệt đối xử trong tố tụng hình sự, bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật. Kế đó là các nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (Điều 7); nguyên tắc về quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín điện thoại, điện tín của công dân (Điều 8); Nguyên tắc "Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" (Điều 9); Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 1l); Nguyên tắc về tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự (Điều 24); Nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (Điều 29); Nguyên tắc bảo đám quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra (Điều 30). Như vậy, nhóm này bao gồm 10 nguyên tắc.

c) Nhóm các nguyên tắc về tính chất của hoạt động tố tụng hình sự

Những nguyên tắc thuộc nhóm này là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự nói lên tính chất và đặc điểm hoạt động của các cơ quan tố tụng, những bảo đảm về tính thận trọng, vô tư, khách quan trong các hoạt động tố tụng. Đó là nguyên tắc quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội (Phần thứ hai của Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự); Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng (Điều 14, Bộ luật Tố tụng hình sự); Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16); Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số (Điều 17); Nguyên tắc xét xử công khai (Điều 18); Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án, theo đó, Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án (Điều 19); Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử (Điều 20); Nguyên tắc giải quyết các vân đề dân sự trong vụ án hình sự (Điều 28); Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự (Điều 31). Như vậy, nhóm này bao gồm 8 nguyên tắc.

d) Nhóm các nguyên tắc về sự tham gia của nhân dân và sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan Nhà nước khác đối với hoạt động tố tụng hình sự

Những nguyên tắc này được coi như là những bảo đảm quan trọng cho hiệu quả hoạt động của tố tụng hình sự. Đó là: Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia, theo đó, việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán (Điều 15, Bộ luật Tố tụng hình sự); Nguyên tắc về trách nhiệm của các tổ chức và công dân trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm (Điều 25). Theo quy định của điều luật này, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện để các tổ chức và công dân tham gia tố tụng hình sự; phải trả lời kết quả giải quyết tin báo, tố giác và tội phạm cho tổ chức đã báo tin người đã tố giác tội phạm biết; Nguyên tắc về sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước và các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự); Nguyên tắc về sự giám sát của các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng (Điều 32). Nhóm này có 4 nguyên tắc.

3.2. Nhận xét

Nhìn vào con số của danh mục các nguyên tắc của tố tụng hình sự Việt Nam được phân loại trên đây có thể nêu một số nhận xét sau đây:

Thứ nhất, các nguyên tắc của tố tụng hình sự Việt Nam chứa đựng những tư tưởng chỉ đạo chặt chẽ cụ thể, rõ ràng, tạo điều kiện cho sự vận dụng chúng trong các hoạt động tố tụng hình sự. Tính chất đó của các nguyên tắc hoàn toàn phù hợp với yêu cầu và đặc điểm của tố tụng hình sự là một loại hoạt động quyền lực, do đó, khả năng vi phạm các quy định về quyền hạn và nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền là rất lớn. Ở đây không cho phép một sự linh hoạt hoặc sự tùy nghi vượt khỏi yêu cầu của pháp luật tố tụng. Chính vì vậy, những đòi hỏi, những yêu cầu có tính nguyên tắc của pháp luật phải hết sức rõ ràng và cụ thể để tránh sự giải thích tùy tiện.

Thứ hai, cơ cấu về số lượng các nguyên tắc của tố tụng hình sự đã cho thấy sự quan tâm thích đáng của Nhà nước Việt Nam đối với yêu cầu về tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân trong quá trình tố tụng (10/31 nguyên tắc) . Điều đó phản ánh rõ nét quan điểm và tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam cho rằng, các cơ quan tư pháp phải thực sự là chỗ dựa đáng tin cậy của công dân, phải triệt để tôn trọng quyền con người, quyền công dân mà trước hết là tự do, danh dự và nhân phẩm của họ trong các hoạt động tố tụng.

Thứ ba, các nguyên tắc của tố tụng hình sự Việt Nam phản ánh quan điểm của về mục đích, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống tư pháp hình sự nói chung và của tố tụng hình sự nói riêng là bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, duy trì và bảo vệ công lý; xác định trách nhiệm và chức năng của các cơ quan tư pháp là "phụng công thủ pháp", “chí công vô tư", thực sự khách quan. Các nguyên tắc của tố tụng hình sự hiện hành Việt Nam phản ánh rõ nét tính chất pha trộn của tố tụng hình sự, trong đó tính chất chủ đạo của nó là tố tụng thẩm vấn với sự tiếp thu một số rất ít các đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng. Có thể nói rằng, đây chính là lĩnh vực của những sự tìm tòi, thể nghiệm vừa nghiêm túc, thận trọng, vừa cầu thị trong quá trình thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới vừa qua.

Khi bàn về hệ thống các nguyên tắc trên đây của tố tụng hình sự, các nhà nghiên cứu và chuyên gia về Luật tố tụng hình sự đã thống nhất nhận xét rằng, các nguyên tắc đó về cơ bản đã phản ánh được các quan điểm chủ đạo của Đảng và Nhà nước ta về hoạt động tố tụng hình sự, đã tạo được những cơ sở xuất phát điểm quan trọng cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Các nguyên tắc trên đây đã phản ánh được những nét bản chất và đặc điểm của tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, theo suy nghĩ của chúng tôi các nguyên tắc đó cũng đã xuất phát từ một định hướng mô hình tố tụng đặc trưng của giai đoạn này. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng đã có những nhận xét xác đáng cho rằng tinh thần và nội dung của một số nguyên tắc được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành (Bộ luật Tố tụng hình sự 2003) chưa phản ánh được đầy đủ những đổi mới quan trọng trong quan điểm chỉ đạo về đổi mới các hoạt động tư pháp nói chung và các hoạt động tố tụng hình sự nói riêng trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế được xác định rõ trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị và Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Xét về mặt thời gian của sự ra đời của Bộ luật Tố tụng hình sự (năm 2003) thì sự bất cập đó cũng là điều dễ hiểu.

Các nỗ lực cải cách cũng như hoạt động thực tiễn của các cơ quan tư pháp hình sự ở Việt Nam trong những năm qua đã lấy những mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc làm căn cứ. Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành tố tụng vẫn còn nảy sinh nhiều vướng mắc và bất cập. Có nhiều nguyên nhân khác nhau của những bất cập và vướng mắc đó, trong đó phải kể đến những bất cập trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự mà trước hết là quy định về hệ thống các nguyên tắc của tố tụng hình sự. Có thể nêu ba biểu hiện sau đây:

Thứ nhất, đó là sự thiếu vắng các nguyên tắc đủ khả năng phản ánh những tư tưởng, định hướng chỉ đạo quan trọng về cải cách tư pháp mà trọng tâm là cải cách hoạt động xét xử. Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tố tụng hình sự đã có lý khi đề xuất kiến nghị về việc khẳng định nhận thức và quy định trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam các nguyên tắc quan trọng và phổ biến của tố tụng hình sự như nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc tranh tụng.

Thứ hai, đó là sự quy định tản mạn và trùng lặp về nội dung các nguyên tắc, gây khó khăn cho sự nhận thức mục đích, ý nghĩa, nội dung và cho việc áp dụng các nguyên tắc đó trong thực tiễn. Do đó, cần phải căn cứ vào nội dung của các quy định đó để sắp xếp một cách hợp lý.

Thứ ba, nội dung của một số nguyên tắc được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không phù hợp với tính chất là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo các hoạt động tố tụng và quan hệ tố tụng mà chỉ là những quy định có tầm khái quát ở những mức độ nhất định về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền hoặc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, cần đưa những quy định đó về đúng chỗ, đưa khỏi danh mục (chương 2) các nguyên tắc tố tụng hình sự.

Hệ thống tư pháp và hệ thống pháp luật Việt Nam là hệ thống chỉ dựa vào các quy định của pháp luật với nguyên tắc đặc trưng là nguyên tắc pháp chế. Đòi hỏi quan trọng nhất đối với tố tụng hình sự là sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật cả về hình thức và nội dung. Ở đây không có sự lựa chọn, sự tùy nghi suy xét, tùy nghi truy tố, ở đây chứng minh không chỉ là nghĩa vụ bên buộc tội mà còn là của chính Tòa án với mục đích chứng minh sự thật khách quan của vụ án. Những đòi hỏi đó là hòn đá tảng của hệ thống tư pháp thực định, theo đó, mọi kết luận đều phải dựa vào pháp luật, mọi hành vi tố tụng và quyết định tố tụng phải tuân thủ pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng. Giải thích của Tòa án không có giá trị là nguồn pháp lý; các quan điểm, kể cả những quan điểm phổ biến, chính thống của đa số, của các cơ quan lãnh đạo, nếu chưa được "thể chế hóa" thành các quy định của pháp luật, cũng không thể được coi là căn cứ để áp dụng pháp luật.

Việc coi các các nguyên tắc của tố tụng hình sự có tính quy phạm đồng nghĩa với sự thừa nhận có hai loại nguyên tắc: những nguyên tắc "nằm" trong pháp luật và những nguyên tắc "nằm" ngoài pháp luật. Tình trạng đó dẫn đến sự khó khăn không thể tránh khỏi đối với các cơ quan thực tiễn.

Quan điểm "rộng" về các nguyên tắc của tố tụng hình sự chính là quan điểm về nguyên tắc của hệ ý thức pháp luật, phù hợp với hệ thống tố tụng tranh tụng và rộng hơn là hệ thống tư pháp coi trọng án lệ của Tòa án. Theo đó, vai trò "làm ra luật" của Tòa án với đặc trưng của quyền suy diễn từ "luật" là rất lớn. Cùng với tính chất đó là các tính chất của tố tụng tranh tụng với những biểu hiện đặc trưng như tùy nghi truy tố, chân lý hình thức tuân theo kết quả xét xử, suy đoán vô tội v.v. Rõ ràng là với những tính chất ấy thì yếu tố nền tảng, cơ sở định hướng của tố tụng hình sự là những tư tưởng, quan điểm được "cài đặt" trong ý thức của tất cả những ai liên quan đến hệ thống tư pháp cũng như tất cả các chủ thể của các quan hệ tố tụng. Chúng không đòi hỏi nhất thiết phải được quy định vào trong các điều luật. Nói khác đi, các nguyên tắc của tố tụng hình sự không nhất thiết phải có tính quy phạm.

Hệ thống các nguyên tắc của tố tụng hình sự được xác lập trên cơ sở những đòi hỏi khác nhau, nhưng thống nhất với nhau về mục tiêu và chức năng của tố tụng hình sự, về hình thức và phương thức tổ chức và hoạt động của tư pháp hình sự. Sự đa dạng, sự khác biệt và sự thống nhất của các chức năng, địa vị pháp lý tố tụng tạo nên sự đa dạng, sự khác biệt và sự thống nhất cửa các nguyên tắc của tố tụng hình sự.

Trước hết nói về sự khác biệt và đa dạng của các nguyên tắc Tố tụng hình sự. Như đã nói ở trên, nguyên tắc của tố tụng hình sự đóng vai trò là phương thức, công cụ để đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ của tố tụng hình sự. Trong khi đó, mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể của tố tụng hình sự không thể giống nhau, thậm chí về hình thức có lúc là "trái chiếu" với nhau mà chỉ trong tổng thể, với mục tiêu và nhiệm vụ chung thì chúng mới nhất quán được với nhau. Như đã nêu ở phần trên, Tố tụng hình sự có nhiệm vụ: "(. . .) chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội (. . .), góp phần bảo vệ chế đội xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm". Nội dung của quy định pháp luật này phản ánh những định hướng, mục đích và nhiệm vụ khác nhau của tố tụng hình sự Việt Nam: vừa phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý để "không để lọt" tội phạm, lại vừa phải "không làm oan người vô tội"; vừa bảo vệ chế độ, lợi ích của Nhà nước, trật tự pháp luật, lại vừa bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân (đương nhiên trong đó có cả lợi ích của bị can, bị cáo trong vụ án hình sự).

Thực tế cho thấy rằng, những đòi hỏi về tổ chức và hoạt động của tư pháp hình sự, trong đó có các nguyên tắc Tố tụng hình sự không thể phát huy được hiệu lực và hiệu quả điều chỉnh của nó nếu đặt chúng riêng rẽ. Mỗi nguyên tắc của TTHS phải luôn luôn được kết hợp với các đòi hỏi và nguyên tắc khác. Thực tế cũng cho thấy rằng, những tính chất của tố tụng như tố tụng xét hỏi hay tố tụng tranh tụng chỉ là những đòi hỏi lý thuyết, có tính lý tưởng mà không một hệ thống tố tụng nào có thể theo đuổi được một cách triệt để, mặc dù có thể khẳng định về tính trội của nguyên tắc này so với tính trội của nhóm các nguyên tắc khác trong từng hệ thống tố tụng hình sự.

Vì sao lại có thể có hiện tượng đó trong thực tế? Để hiểu được điều này, chúng ta phải trở lại với vấn đề về bản chất khách quan của các nguyên tắc của tố tụng hình sự. Việc sử dụng nguyên tắc này hay nguyên tắc khác trong tố tụng hình sự không chỉ phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước, hay nói khác đi, đó không chỉ là quan điểm, tư tưởng chính thống của Nhà nước mà còn phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức xã hội. Trong bất kỳ lĩnh vực nào thì nhận thức xã hội cũng đều có những chiều hướng, những mức độ và gam màu khác nhau. Những đòi hỏi về một hệ thống tư pháp nói chung và hệ thống tư pháp hình sự và tố tụng hình sự nói riêng cũng có tình hình này. Chừng nào những đòi hỏi đó được kết hợp với nhau thì chừng đó các đòi hỏi, nguyên tắc đó mới tạo nên được những xung lực cần thiết để vận hành tố tụng hình sự một cách có hiệu quả. Vì vậy, một hệ thống tố tụng hình sự có hiệu quả phải được đặt trên nền tảng những nguyên tắc đa dạng, đa chiều nhưng nhất quán với nhau.

Mặt khác, như đã nói ở trên, là sản phẩm của ý thức hệ, chắc chắn rằng hệ thống các nguyên tắc luôn luôn có tính lịch sử. Tính lịch sử đó thể hiện ở chỗ, trong những giai đoạn lịch sử nhất định có tính trội của nhóm các nguyên tắc này hay nhóm các nguyên tắc khác trong mối quan hệ tương hỗ của các cặp phạm trù nguyên tắc đối lập nêu trên. Đây là một quá trình của sự phát triển mang tính lịch sử khách quan, phản ánh thực trạng của các quan điểm xã hội về nền tư pháp, đòi hỏi chung của xã hội về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp. Chẳng hạn, ở Việt Nam trong quá trình đổi mới kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền nhu cầu bức thiết của nhân dân về một nền tư pháp dân chủ, công minh đã thúc đẩy hình thành quan điểm cải cách tư pháp theo hướng nhấn mạnh yêu cầu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, khẳng định vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp và đề cao nguyên tắc tranh tụng, điều mà trước đây còn là những phạm trù mới mẻ và khá xa lạ với tố tụng hình sự nước ta. Mặt khác cũng cần nhìn nhận rõ hơn rằng, việc thừa nhận và đề cao các nguyên tắc đó mới chỉ. là điểm khởi đầu của sự việc. Thực hiện và khẳng định mạnh mẽ các nguyên tắc đó trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nhất là trong thực tiễn của tư pháp hình sự mới là bước khó khăn nhất. Điều đó càng khẳng định rõ hơn sự "đấu tranh giữa hai mặt đối lập" trong quá trình nhận thức và áp dụng các nguyên tắc của tố tụng hình sự.

Có thể thấy rằng, một hệ thống tố tụng hình sự muốn có được hiệu quả cao là một hệ thống có khá năng phản ánh và ghi nhận sự giao thoa của các nguyên tắc với sự bắt nhịp nhạy bén với khuynh hướng của nhận thức xã hội tiến bộ, phản ánh tính trội của những nguyên tắc thể hiện bản chất dân chủ và tiến bộ của tố tụng hình sự hiện đại. Tư tưởng về sự tôn trọng quyền và tự do của các bên, về tranh tụng trong tố tụng hình sự, nguyên tắc suy đoán vô tội phản ánh sự triệt để tôn trọng quyền con người là những tư tưởng nhân văn lớn và có tính pháp quyền cao phải được coi là những điểm trội trong hệ thống các nguyên tắc của tố tụng hình sự tiến bộ.

Trên thế giới có hai quan điểm chủ yếu về mục đích của tố tụng hình sự: mục đích xác định sự thật khách quan của vụ án và mục đích công nhận sự thật pháp lý theo cách diễn đạt của các luật gia La Mã "quod non est in actua non in mun do" ("Cái không có trong hồ sơ là cái không tồn tại"). Mục đích nào sẽ đặt ra các nguyên tắc ấy. Nếu vì mục đích thứ nhất, Tố tụng hình sự phải tuân theo các nguyên tắc của mô hình tố tụng thẩm vấn, theo đó mục đích của tố tụng hình sự là đấu tranh chống tội phạm, Tố tụng hình sự thiên về hướng sử dụng quyền lực và uy thế của các cơ quan Nhà nước; coi trọng vai trò chứng minh của Tòa án, nguyên tắc bắt buộc khởi tố và xử lý vụ án hình sự. Nếu vì mục đích thứ hai, Tố tụng hình sự phải tuân theo các nguyên tắc của tố tụng hình sự tranh tụng, theo đó, Tố tụng hình sự không được coi chủ yếu hoạt động quyền lực mà được hình dung như sự giải quyết tranh chấp giữa một bên là Nhà nước - người đặt ra các điều cấm và một bên khác là bị can, bị cáo đã vi phạm các điều cấm đó. Đồng thời, ở đây điều đáng quan tâm nhất không phải là áp dụng luật nội dung mà là thủ tục pháp lý ("dueej process of law"), thủ tục tố tụng hình sự. Nói khác đi, mục đích của Tố tụng tranh tụng đặt ra các nguyên tắc đòi hỏi có vị trí bình đẳng của các bên tranh tụng, xác định trách nhiệm và khả năng chứng minh trong vụ án hình sự, khuyến khích cả hai phía: người buộc tội và bị cáo tìm kiếm những hình thức và khả năng khác nhau để giải quyết vụ án.

4. Các chức năng trong tố tụng hình sự Việt Nam

4.1. Hiện trạng

Theo những quy định hiện nay của Bộ luật TTHS Việt Nam thì các chức năng tố tụng chưa được xác định rõ. Ớ đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh về chức năng tố tụng và có thêm một lưu ý rằng cần phân biệt chức năng tố tụng với chức năng về mặt tổ chức của các cơ quan, thiết chế tương ứng. Chẳng hạn, Tòa án có chức năng xét xử vì đó là cơ quan xét xử duy nhất ở Việt Nam; Viện kiểm sát có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; Cơ quan điều tra có chức năng điều tra tội phạm; người bào chữa có quyền bào chữa. Chính vì theo cách hiểu về chức năng được đặt ra từ tổ chức và tính chất hoạt động của các chủ thể TTHS mà lâu nay có quan niệm về sự tồn tại trong TTHS các chức năng: Chức năng điều tra, chức năng công tố, chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, chức năng xét xử, chức năng bào chữa. Trong khi đó, trong bất kỳ một hệ thống TTHS nào cũng đều tồn tại các nhu cầu được đặt ra bởi tính chất của tố tụng là: Truy tố tội phạm và người phạm tội; bào chữa của bị can, bị cáo và luật sư của họ; hoạt động xét xử của Tòa án. Từ đó, ba chức năng: Buộc tội, bào chữa và xét xử luôn luôn tồn tại trong bất kỳ một loại TTHS nào. Do đó, nói chức năng tố tụng là nói đến những định hướng hoạt động trong quá trình TTHS mà không lẫn lộn với chức năng vốn có của các thiết chế tổ chức.

Như đã nêu ở trên, tâm điểm của TTHS Việt Nam là "xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ”. Do đó, toàn bộ cỗ máy các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đều hầu như hoạt động trên cùng một hướng là xác định sự thật của vụ án. Nói khác đi, có một điểm chung quyết định đối với chức năng của các chủ thể TTHS Việt Nam. Điều 10 của Bộ luật TTHS quy định: "Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

Trước đó, Điều 4 của Bộ luật TTHS Việt Nam xác định: "Khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa".

Như vây, có thể thấy rằng, ba chức năng tố tụng nêu trên đều thuộc về tất cả các chủ thể và từng chủ thế đó. Trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành không tồn tại việc khu biệt ba chức năng tố tụng cho từng chủ thể tố tụng. Nếu có, thì đó cũng chỉ là sự phân biệt tương đối. Ngoài ra, Điều 13 của Bộ luật TTHS Việt Nam còn quy định rõ: "Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội". Theo quy định này, không chỉ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà Tòa án cũng có chức năng khởi tố vụ án hình sự. Điều này được bổ sung bởi một số quy định khác trong Bộ luật TTHS, chẳng hạn như quy định Hội đồng xét xử vẫn phải xét xử toàn bộ vụ án khi tại phiên tòa nếu sau khi xét hỏi, Kiểm sát viên rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn (Điêu 195); quy định Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố (Điều 196).

Trên thực tế, Cơ quan điều tra, VKS chủ yếu thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ theo hướng buộc tội, còn trong trường hợp không phát hiện được thì đình chỉ điều tra, không truy tố. Pháp luật đặt ra yêu cầu chung đối với họ về việc bảo đảm tôn trọng và bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân mà không nêu đích danh là quyền và lợi ích của bị can, bị cáo - những người yếu thế nhất trong quan hệ tố tụng. Chỉ còn lại người bào chữa là chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội cho bị can, bị cáo, nhưng vị trí và khả năng tố tụng của chủ thể này lại rất hạn chế. việc không phân biệt thật rõ ràng mục đích của các chủ thể tố tụng dẫn đến sự không rõ ràng chức năng của các chủ thể đó và trong tổng thể điều đó không tạo ra được động cơ và động lực thúc đẩy hiệu quả của tố tụng hình sự, nếu xét tiêu chí của hiệu quả lả xác định chính xác sự thật khách quan của vụ án và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và của công dân.

5. Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam

Theo quy định pháp luật hiện hành đã nêu ở trên (Điều 10 Bộ luật TTHS), chủ thể có quyền chủ động hoàn toàn trong TTHS Việt Nam trong toàn bộ quá trình tố tụng nói chung và trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ là các cơ quan tiến hành tố tụng.

Bởi vậy, bắt đầu từ khi khởi tố vụ án, Cơ quan điều tra tập ra hồ sợ vụ án hình sự" (ĐIỀU 35 Bộ luật TTHS); khi kết thúc điều tra thì hồ sơ đó được chuyển sang VKS để quyết định truy tố (nếu phát hiện tội phạm và người phạm tội); từ khi có quyết định truy tố của VKS thì hồ sơ đó dược chuyển đến Tòa án để xét xử. Và vì mục đích đi tìm sự thật khách quan của vụ án nên việc xét xử ở Tòa án cũng là sự tiếp tục điều tra.

Như vậy, hồ sơ là căn cứ duy nhất và hợp pháp để xét xử.

Các chứng cứ cũng hoàn toàn thuộc về quyền chủ động của các cơ quan tiến hành tố tụng, bởi theo quy định của Bộ luật TTHS thì "chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan diều tra, VKS và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án" (Điều 64). Trong toàn bộ quá trình của vụ án, các cơ quan nói trên và chỉ các cơ quan đó mà thôi mới có quyền thu thập chứng cứ thông qua thẩm quyền triệu tập những người biết về vụ án và nghe họ trình bày, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án (Điều 65). Các vật chứng phải được đưa vào hồ sơ vụ án hoặc chụp ảnh, ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án.

Trong khi đó, từ phía khác, người bào chữa chỉ được quyền thu thập các tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án và chúng chỉ có thể là chứng cứ khi được nộp cho các cơ quan tiến hành tố tụng và được các cơ quan này chứng nhận, đưa vào hồ sơ. Hơn thế nữa, mặc dù được quyền "đọc, ghi chép, sao chụp" các tài liệu trong hồ sơ vụ án , nhưng đấy phải chỉ là những tài liệu liên quan đến việc bào chữa mà không phải là toàn bộ những tài liệu của vụ án. Bị can, bị cáo, người bào chữa được xác định là những người "tham gia" tố tụng; nói khác đi, tố tụng không thuộc quyền của họ, họ chỉ tham gia.

Như vậy, trong tố tụng hình sự hiện hành của Việt Nam, việc xác định chứng cứ cũng như quá trình chứng minh cho thấy vai trò nổi trội và áp đảo của các cơ quan tiến hành tố tụng và vai trò bị động, yếu ớt của bị can, bị cáo, người bào chữa của họ. Hãy so sánh:

Kiểm sát viên được quyền đưa ra danh sách những người được triệu tập để xét hỏi trước Tòa và đề xuất trình xử xét hỏi. Dựa vào đó, Tòa án quyết định về người được triệu tập và trình tự xét hỏi tại phiên tòa. Kiểm sát viên đọc cáo trạng, tiến hành xét hỏi sau xét hỏi của Thẩm phán rồi thực hiện luận tội và đưa ra ý kiến cuối cùng. Việc xét hỏi được bắt đầu bởi Thẩm phán. Người bào chữa được trình bày một lần trong phần tranh luận, bị cáo nói lời cuối cùng, nếu không tính đến những trả lời đối với các câu hỏi được đặt ra. Người bào chữa không được triệu tập nhân chứng của mình, không được xét hỏi nhân chứng của mình mà chỉ có các nhân chứng do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đưa ra.

Trong tố tụng hình sự Việt Nam, Toà án đóng vai trò tích cực trong quá trình xét xử. Tòa án công bố lời khai của người làm chứng vắng mặt; tại phiên tòa ở phần xét hỏi, Chủ tọa phiên tòa là người hỏi trước bị cáo rồi mới đến Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Hội đồng xét xử trực tiếp hỏi bị cáo, người làm chứng, yêu cầu sự có mặt và sự giám hộ của cha mẹ của những bị cáo chưa thành niên; thực hiện những biện pháp bảo vệ an toàn cho người làm chứng; thậm chí, Hội đồng xét xử đi cùng Kiểm sát viên, người bào chữa và những người khác đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được hoặc đến nơi đã xảy ra tội phạm hoặc những địa điểm khác có liên quan đến vụ án v.v… Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, trong quá trình xét hỏi ấy, các chứng cứ được thu thập đầy đủ đến đâu, đánh giá chúng như thế nào và được phản ánh như thế nào vào biên bản phiên tòa và đóng vai trò đến đâu trong nội dung phát biểu của các chủ thể khác trong việc hình thành quan điểm của họ trong phần tranh luận và cuối cùng là trong phòng nghị án và trong bản án - phần lớn phụ thuộc vào quan điểm và vị trí chủ động tích cực đó của Tòa án. Đương nhiên, với cách thức tố tụng này thì vai trò của Tòa án là rất cần thiết và quan trọng như là vai trò của người dẫn dắt quá trình xét xử.

6. Về vị trí và quan hệ của các chủ thể trong TTHS Việt Nam

Những quy định của pháp luật TTHS về mục đích của TTHS, về các nguyên tắc TTHS, về các chức năng tố tụng cũng như về chứng cứ và chứng minh đã cho thấy rõ về một loại quan hệ mang tính quyết định và phụ thuộc, quyền lực và đối tượng của quyền lực mà không phải là quan hệ bình đẳng và đối trọng trong quan hệ của các chủ thể tố tụng.

Có thể nói rằng, ở giai đoạn nào cũng có những biểu hiện của đặc trưng chủ đạo đó. Tuy nhiên, biểu hiện rõ nhất là ở giai đoạn điều tra. Ước tính như sau: Khoảng 40% bị cáo trước khi bị đưa ra xét xử đã từng bị tạm giam, đa số trong số đó đã bị tạm giữ. Thời hạn tạm giam để điều tra được quy định là không quá 2 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 3 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 4 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Việc tạm giam đó còn có thể được gia hạn tương ứng là một lần không quá một tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, hai lần đối với tội phạm nghiêm trọng theo công thức không quá 2 tháng trong lần thức nhất, không quá 1 tháng trong lần thứ hai, có nghĩa tối đa là 3 tháng; mức độ tương ứng tiếp theo là 3 tháng + 2 tháng = 5 tháng; 3 lần x 4 tháng = 12 tháng. Nói khác đi, trong một khoảng thời gian dài bị cáo đã phải đối diện song phương với Điều tra viên và vì vậy số phận, việc bảo đảm quyền và lợi ích của họ hoàn toàn phụ thuộc vào Điều tra viên, chưa nói đến tính bí mật khép kín của hoạt động điều tra. Giai đoạn được coi là công bằng, công khai nhất là giai đoạn xét xử thì trừ những vụ án phức tạp, có nhiều bị cáo thông thường chỉ diễn ra từ 1 - 2 ngày. Và ở đó thì, như đã nói ở trên, bị cáo và người bào chữa có vị thế hết sức thụ động với vị thế nổi trội của đại diện VKS và của chính Tòa án.

7. Về các giai đoạn trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tố tụng hình sự Việt Nam được xác định như một hệ thống các giai đoạn thực hiện các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng mà giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn kế sau và giai đoạn kế đó là hệ quả của giai đoạn trước nó. Theo sơ đồ này, ở Việt Nam đã hình thành một quan điểm chung về các giai đoạn tố tụng gồm: Giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giai đoạn truy tố; giai đoạn xét xử sơ thẩm; giai đoạn xét xử phúc thẩm, giai đoạn thi hành bản án và quyết định của Tòa án. Việc xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực của pháp luật là những thủ tục có tính chất kiểm tra bao gồm thủ tục giám đốc thẩm: Xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình xử lý vụ án ở các giai đoạn tố tụng; thủ tục tái thẩm được áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án đã không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó. Tính thống nhất của các giai đoạn TTHS thể hiện ở hai yếu tố: a) tuy tố tụng được chia thành nhiều giai đoạn, nhưng hồ sơ vụ án chỉ có một và được lập từ giai đoạn điều tra vụ án; b) các giai đoạn tố tụng sau nhất thiết phải xảy ra nếu giai đoạn trước đó không bi chấm dứt bởi lý do không xác định được cơ sở của trách nhiệm hình sự.

 

Phần thứ Hai: Định hướng đổi mới và hoàn thiện Tố tụng hình sự Việt Nam

Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 "Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" và gần đây nhất là Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu tăng cường xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, nhấn mạnh nhiệm vụ bảo vệ công lý; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, dân chủ hóa các thủ tục tố tụng hình sự theo hướng tăng cường tranh tụng, bảo đảm quyền tố tụng bình đẳng của bị can, bị cáo và người bào chữa.

Kể từ khi có chủ trương cải cách đó đã có nhiều nỗ lực về lý luận và thực tiễn và kết quả của những nỗ lực đó cho thấy những hướng cải cách được đặt ra là đúng đắn, có tính khoa học cao và có tính cách mạng sâu sắc. Tiếp tục các nỗ lực đó việc nghiên cứu để chỉ ra được những hạn chế, bất cập của hệ thống TTHS hiện hành, đề xuất những quan điểm và phương án mới có tính khả thi đối với việc hoàn thiện TTHS Việt Nam là hết sức cần thiết.

Với ý nghĩa đó, sau khi đã xác định trên những nét chung nhất, tính chất và đặc điểm của TTHS hiện hành ở VN, báo cáo này đề xuất những định hướng và giải pháp quan điểm sau đây:

1) Về mục đích của TTHS Việt Nam

Tố tụng hình sự Việt Nam đã có lịch sử phát triển lâu dài, đã hình thành những nhận thức quan điểm tương đối đồng nhất trong lý luận và thực tiễn về mục đích của nó. Với nhận thức rõ ràng rằng, việc xác định mục đích cần đạt được của TTHS sẽ là điểm mấu chốt cho việc cải tổ hệ thống TTHS, chúng tôi cho rằng, bàn về đổi mới và hoàn thiện TTHS Việt Nam cần bắt đầu từ vấn đề mục đích của tố tụng hình sự.

Như đã đánh giá ở phần trên, Bộ luật TTHS Việt Nam xác định mục đích của TTHS quá rộng, quá chung, hầu như trùng với mục đích của cả hệ thống tư pháp hình sự. Cần đánh giá lại một cách cụ thể hơn mục đích của TTHS là xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, bảo vệ quyền con người trong các hoạt động tố tụng trong hệ thống các nguyên tắc dân chủ của TTHS Việt Nam.

2) Về các nguyên tắc của TTHS

Đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp và tính pháp quyền của nó, TTHS VN cần lấy các nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội làm hai nguyên tắc trụ cột. Nguyên tắc tranh tụng dẫn đến sự hình thành các bên trên cơ sở xác định vị trí của các lợi ích tố tụng, từ đó tạo nên sự bình đẳng của các bên trong vị trí tố tụng. Nguyên tắc suy đoán về tội tạo ra bảo đảm cần thiết cho việc bảo vệ quyền con người, là lá chắn quan trọng để khắc phục tình trạng án oan, sai trong TTHS.

3) Về vị trí của các chủ thể tố tụng

Cần từ bỏ cách chia các chủ thể quan hệ tố tụng thành cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Tất cả phải đều là chủ thể các quan hệ tố tụng và trên cơ sở xác định rõ rang mục đích và lợi ích của các chủ thể đó mà hình thành các bên trong quan hệ tố tụng. Các bên cần được quyền ngang nhau về khả năng đưa ra chứng cứ, lấy lời khai người làm chứng. Cần tăng cường những bảo đảm cho tính công khai của hoạt động điều tra.

4) Về các chức năng tố tụng

Sự bình đẳng của các chủ thể cùng với sự phân biệt rõ hơn, độc lập hơn các chức năng tố tụng là đảm bảo quan trọng cho tính dân chủ và tính tranh tụng của TTHS. Cần nhận thức sâu hơn rằng, sự phân định chức năng tố tụng có cội nguồn không phải từ nước Anh hay nước Mỹ mà từ định hướng về cơ chế quyền lực nhà nước ở Việt Nam theo Điều 2 của Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001. Theo đó, Viện kiểm sát, trong vai trò là cơ quan buộc tội, là nhân vật của hành pháp có chức năng buộc tội; Tòa án có vị trí độc lập của cơ quan tư pháp. Tòa án không thể thực hiện bất kỳ một yếu tố nào của chức năng buộc tội mà phải là thiết chế của công lý, chỗ dựa đáng tin cậy của người dân, do đó cần có vị tri vô tư, khách quan, từ bỏ vai trò quá chủ động và tích cực trong việc truy tìm sự thật vốn là công việc của các bên trong tố tụng.

5) Về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự

Cần từ bỏ quy định về việc công nhận giá trị chứng minh của chứng cứ. Triệt để thực hiện nguyên tắc: Mọi chứng cứ đều có giá trị ngang nhau, bất kể chúng được đưa vào hồ sơ "một cách chính thức" hay không: Bị can, bị cáo, người bào chữa được quyền tìm kiếm chứng cứ bằng bất cứ phương thức hợp pháp nào. Chứng cứ và chứng minh chỉ có giá trị sau khi được trình ra và lập luận tại phiên tòa. Điều đó có nghĩa là phải song song thừa nhận những chứng cứ có trong hồ sơ và ngoài hồ sơ vụ án. Xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa phải bảo đảm sự bình đẳng của các bên và khả năng của các bên trong việc trình bày quan điểm, chứng cứ của mình. Như vậy, mô hình mới cho TTHS Việt Nam là mô hình kế thừa những yếu tố hợp lý của TTHS hiện nay, kiên quyết loại bỏ những yếu tố phản ánh cơ chế quan liêu, thiếu bình đẳng, công khai, dân chủ trong quan hệ giữa các chủ thể tố tụng, tiếp thu những yếu tố dân chủ phù hợp với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN. Mô hình đó cần phản ánh cho được những đặc trưng quan trọng nhất trong ba yếu tố: Buộc tội - bào chữa - xét xử với ba nhóm chủ thể: Công tố (VKS) - bị can, bị cáo, người bào chữa - tòa án. Có thể diễn đạt ý tưởng đó theo sơ đồ dưới đây:


Như vậy, theo mô hình này, vị trí và các mối quan hệ giữa các chủ thể được xác định như sau:

- Quan hệ giữa bên buộc tội và bên bị can, bị cáo là quan hệ bình đẳng, thể hiện sự bình đẳng giữa Nhà nước và cá nhân kể cả trong tố tụng hình sự (vì chỉ có Tòa án mới có thể coi một người là có tội)

- Quan hệ giữa Tòa án và Cơ quan điều tra, Công tố là quan hệ phân quyền, theo nguyên tắc về sự độc lập của Tòa án. Vì vậy hồ sơ vụ án được lập trong giai đoạn điều tra được coi chỉ là một trong những cơ sở để đánh giá đường đi của vụ án mà không phải là cơ sở duy nhất đối với Tòa án

- Quan hệ giữa Tòa án với bị cáo là quan hệ được xác định theo nguyên tắc suy đoán vô tội. Không có suy đoán vô tội thì mục đích bảo vệ quyền con người mà TTHS đặt ra không thể thực hiện được.

_______________________

[1] Xem: Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị ĐCS Việt Nam về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết số 388 ngày 17/3/2003 của ủy ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại do các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gây ra

 [2] V.I.Lenin: Bút ký triết học. Toàn tập, T.29, NXB Tiến bộ, Mockha, tr. 179

 [3] Điều 2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam lần đầu tiên xác định: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân".

 



Nguồn:
Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp - kinh nghiệm CHLB Đức” do Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Quỹ Hợp tác quốc tế về pháp luật CHLB Đức phối hợp tổ chức ngày 9-10/6/2011 tại Hà Nội,

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi