Một số ý kiến đối với văn bản hướng dẫn về tội rửa tiền theo quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự

Trần Văn Tuân – Giảng viên Khoa TPH & ĐTTP, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

Để đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế, pháp luật Việt Nam cần có sự điều chỉnh nhằm phù hợp và thực hiện đúng các cam kết quốc tế. Một trong những điều chỉnh đó là việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 thông qua Luật số 37/2009/QH12 được Quốc hội ban hành ngày 19/6/2009. Luật số 37 đã sửa tội danh tại Điều 251 từ "tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có” thành "tội rửa tiền”, đồng thời cũng đã quy định rõ những hành vi nào bị coi là tội rửa tiền phù hợp với Công ước quốc tế. Đây là lần đầu tiên thuật ngữ "rửa tiền” được quy định trong văn bản pháp luật hình sự, là cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng đấu tranh đối với loại tội này.

Tội rửa tiền theo quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 so với tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có theo quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự năm 1999 có những điểm mới đáng kể như:

-Liệt kê rõ những hành vi nào là phạm tội rửa tiền;

-Trong cấu thành cơ bản của tội rửa tiền đã quy định thêm hành vi "sử dụng tiền, tài sản mà biết rõ là có được do chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do phạm tội mà có”, đây là nội dung mới so với tội hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có;

-Tội rửa tiền đã thể hiện rõ hơn hành vi rửa tiền có đối tượng là tiền, tài sản chính người phạm tội mà có hoặc do người khác phạm tội mà có;

-Khoản 2 có bổ sung một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Có tính chất chuyên nghiệp; Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; Tiền, tài sản phạm tội có giá trị lớn; Thu lợi bất chính lớn; Gây hậu quả nghiêm trọng; Tái phạm nguy hiểm. Khoản 3 quy định các trường hợp: Tiền, tài sản có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn; thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn; gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Cho đến nay, chưa có một quốc gia nào có pháp luật phòng, chống rửa tiền định lượng cho khoản tiền có được do hành vi phạm tội trước đó lớn đến bao nhiêu thì xử lý hình sự. Tuy nhiên theo án lệ, số tiền này bao giờ cũng có khối lượng lớn.

Ngày 30 tháng 11 năm 2011 Bộ công an, Bộ quốc phòng, Bộ tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và tội rửa tiền đã có quy định hướng dẫn giá trị tiền, tài sản để bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại khoản 2, khoản 3 Điều 251 cụ thể như sau:

-"Tiền, tài sản có giá trị lớn” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là tiền, tài sản phạm tội có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

-"Tiền, tài sản phạm tội có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là tiền, tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên.

-"Thu lợi bất chính lớn” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là thu lợi có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới một trăm triệu đồng

-"Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là thu lợi có giá trị từ một trăm triệu đồng trở lên.

-"Gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là gây thiệt hại có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

-"Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là gây thiệt hại có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên.

Quy định trên đã khá rõ ràng, góp phần cho việc xác định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội. Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 09 gộp chung các trường hợp tiền, tài sản có giá trị rất lớn, đặc biệt lớn; thu lợi bất chính lớn, đặc biệt lớn; gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng với giá trị tiền tối thiểu tương đương mà không tách riêng biệt bao nhiêu tiền là rất lớn, bao nhiêu tiền là đặc biệt lớn và bao nhiêu tiền là hậu quả rất nghiêm trọng, bao nhiêu tiền là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Mặc dù Thông tư liên tịch số 09 có hướng dẫn tuỳ từng trường hợp mà truy cứu trách nhiệm hình sự với mức rất lớn, đặc biệt lớn, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, nhưng hướng dẫn vẫn chưa được rõ ràng, cụ thể. Điều này sẽ dẫn đến việc hiểu và áp dụng không thống nhất trong các cơ quan tiến hành tố tụng và giữa các địa phương với nhau.

Do đó, chúng tôi cho rằng các cơ quan chức năng cần thiết phải nghiên cứu, ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể hơn nữa đối với các trường hợp "Tiền, tài sản phạm tội có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn”, "Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn” và "Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự. Chúng tôi đưa ra đề xuất trên quan điểm cá nhân đối với các trường hợp trên như sau:

-"Tiền, tài sản phạm tội có giá trị rất lớn” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là tiền, tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới năm tỷ đồng.

-"Tiền, tài sản phạm tội có giá trị đặc biệt lớn” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là tiền, tài sản có giá trị từ năm tỷ đồng trở lên.

-"Thu lợi bất chính rất lớn” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là thu lợi có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới một tỉ đồng.

-"Thu lợi bất chính đặc biệt lớn” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là thu lợi có giá trị từ một tỉ đồng trở lên.

-"Gây hậu quả rất nghiêm trọng” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là gây thiệt hại có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới hai tỉ đồng.

"Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là gây thiệt hại có giá trị từ hai tỉ đồng trở lên.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi