Một số điểm bất cập về tạm giữ và thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong Bộ luật tố tụng hành sự năm 2003

Hoàng Đình Thanh - Khoa Luật - Đại học Huế

Biện pháp ngăn chặn (BPNC) là một chế định quan trọng trong pháp luật tố tụng hình sự. Áp dụng các quy định về BPNC một cách đúng đắn, chính xác là sự bảo đảm cần thiết cho việc ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với kẻ phạm tội, bảo đảm không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Thời gian qua, trên cơ sở các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) và các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật liên quan về BPNC, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo pháp chế và quan trọng nhất đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng các BPNC đã nảy sinh một số khó khăn, vướng mắc, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình hiện nay, trong bài viết của mình chúng tôi xin trao đổi cùng bạn đọc một số vấn đề sau:

1. Về tạm giữ

Thứ nhất, về đối tượng tạm giữ là người phạm tội tự thú, đầu thú

Khoản 1 Điều 86 BLTTHS năm 2003 quy định: "Tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã”. Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ đối với người phạm tội tự thú, đầu thú theo chúng tôi hiện nay có một số điểm chưa thực sự hợp lý.

Tự thú là việc một người sau khi đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng hành vi đó vẫn chưa bị phát hiện, hoặc người thực hiện hành vi đó vẫn chưa bị phát hiện. Nhưng sau một thời gian, có thể do bị lương tâm cắn rứt, do hối hận về hành vi của mình... người đó đã tự ra trước cơ quan chức năng trình diện và khai nhận về hành vi phạm tội của mình, hoặc hành vi phạm tội của mình và đồng bọn.

Còn đầu thú là việc một người đã thực hiện hành vi phạm tội, hành vi đó đã bị phát hiện, vụ án đó đã được khởi tố, có thể đã hoặc đang được tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử. Cá nhân người đó đã bị khởi tố bị can, có thể chưa hoặc đã bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị xử phạt nhưng trốn tránh nay đang bị truy nã, sau một thời gian trốn tránh người đó đã ra trước các cơ quan chức năng để trình diện, khai nhận về các hành vi phạm tội của mình.

Việc người phạm tội tự thú, đầu thú được coi là đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, theo quan điểm chúng tôi cần phải quy định rõ, trường hợp nào cần thiết phải tạm giữ, còn trường hợp nào không cần thiết. Bởi vì, trong thực tế những trường hợp người phạm tội tự thú, đầu thú luôn ở một mức độ khác nhau, có những trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng do lỗi vô ý khi phạm tội, người phạm tội có nhân thân tốt... thì không cần thiết phải ra quyết định tạm giữ đối với họ. Hơn nữa một khi họ đã ăn năn hối cải, lương tâm cắn rứt về hành vi phạm tội của mình nên họ đã ra tự thú, đầu thú thì tùy từng trường hợp về hành vi phạm tội ở mức độ nặng nhẹ khác nhau để các cơ quan tiến hành tố tụng lưạ chọn biện pháp ngăn chặn phù hợp nhất áp dụng đối với loại tội phạm này.

Thứ hai, vướng mắc về thẩm quyền ra quyết định tạm giữ

BLTTHS năm 2003 đã bổ sung thêm thẩm quyền ra quyết định tạm giữ cho Lực lượng Cảnh sát biển (khoản 2 Điều 86). Tuy nhiên, xung quanh quy định này có một số điểm chưa thật sự hợp lý, theo đó Điều 81 BLTTHS 2003 năm không quy định thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp cho lực lượng này, thế nhưng khoản 2 Điều 86 BLTTHS năm 2003 lại quy định cho lực lượng này có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ. Như thế, việc không được bắt người trong trường hợp khẩn cấp nhưng lại được ra quyết định tạm giữ là không phù hợp. Đồng thời, quy định như vậy có thể dẫn đến người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội vẫn được tự do, tẩu tán tang vật, thông cung, thông chứng, trốn tránh pháp luật ...

2. Về thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Điểm c khoản 2 Điều 81 BLTTHS năm 2003 quy định: "người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng"  có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 81 lại có những quy định khiến cho việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp của người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng không có tính khả thi. Bởi nếu theo khoản 3 Điều 81 sẽ không thể nào có được đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành việc bắt người chứng kiến, hoặc phải đảm bảo được thủ tục như có lệnh, đóng dấu... việc đó rất khó thực hiện.

Hơn nữa theo quy định của BLTTHS hiện hành thì đối tượng bị bắt trong trường hợp khẩn cấp sẽ được áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ. Thời hạn tạm giữ ở đây tối đa không quá 9 (chín) ngày (Điều 87), nếu đối tượng bị bắt khẩn cấp do người chỉ huy tàu bay, tàu biển ra lệnh bắt thì có những tàu bay, tàu biển rời sân bay, bến cảng cả hàng tháng trời và lúc đó đã quá thời hạn tạm giữ theo luật định thì sẽ giải quyết như thế nào? Trả tự do hay là tiếp tục tạm giữ? Đây là một vướng mắc thường gặp và nếu không có quy định rõ thì sẽ dẫn đến áp dụng sai quy định của pháp luật hoặc vô tình tạo điều kiện cho đối tượng bị bắt được tự do, bỏ trốn ...

Nhằm khắc phục những bất cập nêu trên chúng tôi kiến nghị một số nội dung sau đây:

Một là, về vấn đề tạm giữ người tự thú, đầu thú, theo chúng tôi BLTTHS 2003 cần sửa đổi, bổ sung theo hướng: Đối với các tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và người phạm tội có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng thì không áp dụng BPNC tạm giữ. Trường hợp đầu thú mà người phạm tội phạm tội ít nghiêm trọng và  có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng thì không cần phải tạm giữ.

Hai là, về thẩm quyền bắt người trong trường hợp khẩn cấp, BLTTHS 2003 cần bổ sung thêm quyền bắt người trong trường hợp khẩn cấp cho Lực lượng Cảnh sát biển để phù hợp với khoản 2 điều 86 BLTTHS năm 2003 và để tránh trường hợp người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội vẫn được tự do, tẩu tán tang vật, chứng cứ, trốn tránh pháp luật,... 

Ba là, đối với thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp của người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển rời khỏi sân bay, bến cảng theo chúng tôi BLTTHS 2003 cần phải có quy định rõ ràng và cụ thể hơn theo hướng:

Trường hợp nào thì không thể có sự có mặt của chính quyền địa phương, thì cần quy định đối tượng nào có mặt, có điều kiện được chứng kiến và xác nhận vào biên bản bắt giữ thay thế, hoặc trường hợp nào thì không cần.

Trường hợp tạm giữ khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay, rời bến cảng thì cần phải quy định thời hạn tạm giữ cụ thể tối đa là bao nhiêu ngày, trừ đi những ngày tàu biển, tàu bay di chuyển từ địa điểm bắt giữ đến địa điểm thực hiện các thủ tục tố tụng tiếp theo ...

Chúng tôi rất muốn nhận được sự trao đổi, góp ý của quý đồng nghiệp và bạn đọc để góp phần hoàn thiện hơn các nội dung liên quan đến BPNC tạm giữ nêu trên.

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2004), Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Trịnh Tiến Việt (2006), Về tự do cá nhân và các biện pháp cưỡng chế tố tụng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi