Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự

Hồ Nguyễn Quân - Toà án quân sự Khu vực 2 Quân khu 4

Trong hoạt động tố tụng nói chung và tố tụng hình sự nói riêng, Tòa án giữ vai trò là trung tâm. Có thể nói, hoạt động xét xử tại phiên tòa được xem là hoạt động quan trọng nhất. Thông qua phiên tòa, các chức năng cơ bản của tố tụng được bảo đảm thực hiện một cách rõ nét, công khai, dân chủ và bình đẳng. Hội đồng xét xử thực hiện chức năng của mình bằng việc đưa ra những phán quyết khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên toà. Xác định được tầm quan trọng của tranh tụng tại phiên tòa đối với việc đưa ra các phán quyết của Tòa án, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng nhấn mạnh: "Việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”. Tiếp đó, trong chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng một lần nữa yêu cầu: "Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử, coi đây là hoạt động đột phá của các cơ quan tư pháp…”. Mới đây nhất, tại Nghị quyết số 37/NQ-QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội khoá XIII tiếp tục khẳng định: "Toà án nhân dân tối cao chỉ đạo các Toà án tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên toà”.

Tuy nhiên, trong thời gian qua việc thực hiện chủ trương này còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó nguyên nhân chủ yếu là do những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (BLTTHS) còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết dẫn tới những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, như tình trạng phân định các chức năng tố tụng không rõ ràng, chồng chéo dẫn tới việc Hội đồng xét xử (HĐXX) nhiều khi còn làm thay chức năng của Viện kiểm sát (VKS): HĐXX còn đặt ra những câu hỏi mang tính áp đặt buộc bị cáo khai đúng với những lời khai trước đó; Kiểm sát viên (KSV) tại phiên tòa không thực hiện việc đối đáp lại ý kiến của bị cáo… Bên cạnh đó, tranh tụng tại phiên tòa cũng bị hạn chế bởi tình trạng vi phạm các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS như nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án, nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa vẫn xảy ra. Thể hiện qua việc một số Thẩm phán còn hạn chế thời gian trình bày lời bào chữa của bị cáo hoặc người bào chữa; không yêu cầu KSV đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, chỉ chú ý tới chứng cứ buộc tội do VKS đưa ra... Một khi quyền bào chữa của bị can, bị cáo không được đảm bảo thì rõ ràng là đã có sự mất đi tính cân đối, sự đối trọng cần thiết giữa chức năng "buộc tội” và chức năng"gỡ tội” - yếu tố quan trọng góp phần xác định sự thật khách quan của vụ án. Vì vậy, đảm bảo nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa chính là một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền bào chữa của bị can, bị cáo, góp phần cho HĐXX ra được những bản án khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tiến tới không còn án oan, sai.

1. Các quy định hiện hành của pháp luật TTHS Việt Nam về vấn đề tranh tụng tại phiên tòa

a. Các nguyên tắc bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa

Hiện nay, pháp luật TTHS Việt Nam chưa ghi nhận các nguyên tắc tranh tụng là nguyên tắc cơ bản. Để hoạt động tranh tụng được đảm bảo thực thi trong thực tế, BLTTHS 2003 ghi nhận một số nguyên tắc như: Nguyên tắc: "Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9 BLTTHS); nguyên tắc: "Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” (Điều 11 BLTTHS); nguyên tắc: "Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia” (Điều 15 BLTTHS); "Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” (Điều 16 BLTTHS); nguyên tắc: "Xét xử công khai” (Điều 18 BLTTHS); nguyên tắc: "Bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án” (Điều 19 BLTTHS):

b. Về chủ thể thực hiện tranh tụng

Chủ thể thực hiện việc tranh tụng tại Toà án chủ yếu được diễn ra giữa bên buộc tội và bên gỡ tội.

- Đối với các chủ thể thuộc bên gỡ tội, bao gồm bị can, bị cáo, người bào chữa. Điều 50 BLTTHS quy định bị cáo có các quyền: được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Toà án; các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này; quyền được tham gia phiên toà; được giải thích về quyền và nghĩa vụ... So với BLTTHS năm 1988 thì BLTTHS năm 2003 đã mở rộng hơn các quyền của bị cáo. Đặc biệt, quyền "trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa” của bị cáo được nhấn mạnh tại điểm g, khoản 2, Điều 50 của bộ luật.

Điều 58 BLTTHS năm 2003 quy định người bào chữa có quyền tham gia tố tụng ngay từ khi có quyết định tạm giữ trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của bộ luật. Bên cạnh việc tiếp tục ghi nhận các quyền cơ bản của người bào chữa, BLTTHS 2003 đã quy định khá nhiều các quyền mới cho người bào chữa như: có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa; đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can; sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa; được khiếu nại hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng...

Các quyền và nghĩa vụ của bị đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ được quy định tại Điều 53 BLTTHS. Nhằm bảo đảm cho họ có thể bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, BLTTHS năm 2003 đã chú trọng tới mở rộng tranh tụng tại phiên tòa với quy định bị đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền "trình bày ý kiến tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn” tại điểm đ, khoản 2, Điều 53. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thuộc bên bào chữa còn được quy định tại một số điều luật khác của BLTTHS như: Điều 10, Điều 24, Điều 62, Điều 201, Điều 207, Điều 212, Điều 215, Điều 247...

- Đối với các chủ thể của chức năng buộc tội tại phiên tòa như VKS (KSV), người bị hại, nguyên đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ, BLTTHS cũng quy định những quyền, nghĩa vụ pháp lý cụ thể.

Theo quy định của BLTTHS 2003 thì VKS có các quyền và nghĩa vụ sau: có trách nhiệm chứng minh tội phạm (Điều 10); áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ; làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa (Điều 11); giải thích và bảo đảm cho những người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ (Điều 62); thu thập, xem xét và đánh giá chứng cứ (các Điều 65 và 66);

Điều 37 BLTTHS đã quy định cụ thể về các hoạt động của KSV tại phiên tòa: "đọc cáo trạng, quyết định của VKS liên quan đến việc giải quyết vụ án; hỏi, đưa ra chứng cứ và thực hiện việc luận tội; phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, tranh luận với những người tham gia tố tụng tại phiên tòa”. Song hành với quyền công tố, KSV tham gia phiên tòa còn có quyền "kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án, của những người tham gia tố tụng và kiểm sát các bản án, quyết định của Toà án”.

Ngoài ra, người bị hại, nguyên đơn dân sự tham gia tố tụng thực hiện chức năng buộc tội ở một mức độ nhất định. Để các chủ thể này có thể thực hiện chức năng của mình trong tố tụng hình sự, pháp luật quy định cho họ những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định được quy định tại các Điều 51, Điều 52 BLTTHS như quyền "trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp”; quyền "khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”.

c. Trình tự, thủ tục tranh tụng tại phiên toà

Trong tố tụng hình sự, hoạt động tranh tụng được thể hiện rõ nét trong phiên toà sơ thẩm. Phần lớn các quan điểm khoa học hiện nay đều xác định hoạt động tranh tụng được bắt đầu ngay từ phần thủ tục bắt đầu phiên tòa. Tại phần thủ tục sau khi kiểm tra căn cước của bị cáo, công bố thành phần những người tham gia tố tụng, giải thích quyền nghĩa vụ của bị cáo, chủ toạ phiên toà phải hỏi KSV và những người tham gia tố tụng xem có ai đề nghị triệu tập thêm người làm chứng hoặc đề nghị đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét hay không. Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt thì chủ toạ phiên toà cũng phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên toà hay không. Nếu có người yêu cầu thì HĐXX xem xét và quyết định.

Như vậy, việc các bên đưa ra yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc đưa ra vật chứng, tài liệu mới để HĐXX xem xét chính là những đảm bảo cho việc xét hỏi và là cơ sở tranh luận ở phần tiếp theo của phiên tòa. Do đó, cần phải xem quá trình tranh tụng tại phiên tòa đã được bắt đầu ngay ở phần thủ tục. Trên thực tế, hoạt động tranh tụng tại phiên tòa bắt đầu rõ nét nhất bằng việc KSV đọc bản cáo trạng trong phần xét hỏi tại phiên toà. Thủ tục xét hỏi được quy định tại Chương XX của Bộ luật gồm 11 Điều. Khoản 2, Điều 207 BLTTHS quy định: "Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến KSV, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định”.

Xét hỏi có thể được xem là nền tảng của việc tranh tụng. Bởi vì, thông qua xét hỏi mới có cơ sở để xác định đầy đủ các tình tiết có ý nghĩa quan trọng của vụ án. Từ đó, các chủ thể của bên buộc tội và bên gỡ tội có cơ sở để bảo vệ quan điểm lập luận của mình. Việc xét hỏi đúng trọng tâm, cụ thể và chi tiết bao nhiêu càng củng cố cho lập luận của các chủ thể vững chắc bấy nhiêu. Quan điểm của các chủ thể tranh luận chỉ có sức thuyết phục khi nó được đặt nền móng bởi các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi, thẩm định tại phiên tòa và sẽ thiếu tính thuyết phục nếu các chứng cứ đưa ra dựa trên "án tại hồ sơ” mà không được thẩm định công khai tại phiên tòa. Do đó, phần tranh luận có thành công hay không phụ thuộc rất lớn vào việc xét hỏi công khai tại phiên tòa.

Thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm được BLTTHS quy định từ Điều 217 đến Điều 221 BLTTHS. Có thể xem đây là giai đoạn trung tâm của quá trình tranh tụng. Bởi vì, trong phần này các bên buộc tội và gỡ tội, trước sự chứng kiến của HĐXX, công khai thực hiện chức năng của mình bằng việc đưa ra các lý lẽ và lập luận để bảo vệ quan điểm của mình.

Điều 217 BLTTHS quy định:"Luận tội của KSV phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà”. Đây là điểm mới của BLTTHS năm 2003. Như vậy, căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, KSV sẽ trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bị cáo vô tội. Để luận tội của mình bảo đảm đúng đắn, chính xác và có sức thuyết phục, KSV phải tổng hợp, phân tích, đánh giá một cách logic các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại tòa, xác định bốn yếu tố của cấu thành tội phạm, xem xét tính chất, mức độ và hậu quả của vụ án cũng như tính chất, mức độ của hành vi của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để việc đề xuất mức án cho tội danh của bị cáo được chính xác.

Tiếp theo lời buộc tội của vị đại diện VKS là những lập luận của bên bào chữa để gỡ tội. Hội đồng xét xử cho bị cáo trình bày lời bào chữa và tập trung vào lập luận truy tố của KSV đã đúng người, đúng tội, đúng pháp luật chưa? Nếu chưa thì ý kiến của người bào chữa là gì? Người bào chữa cho bị cáo còn phải xét đến các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Người bào chữa của bị cáo có quyền kiến nghị với HĐXX những đặc điểm về nhân thân hoặc những tình tiết khác có lợi cho bên mình để làm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 46 BLHS. Tiếp đó, bị cáo có quyền bổ sung cho lời bào chữa của người bào chữa. Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền lợi cho họ được trình bày ý kiến của họ về cách giải quyết vụ án.

Việc đối đáp giữa những người tham gia tranh luận được quy định tại Điều 218 BLTTHS năm 2003 có nội dung: "Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về luận tội của KSV và đưa ra đề nghị của mình; KSV phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến”. Quy định mới này đã xác định rất rõ trách nhiệm đối đáp lại, tranh luận lại với bên bào chữa của KSV tại phiên tòa. Điều này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 08 - NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng: "kết quả tranh tụng” chính là cơ sở để HĐXX ra phán quyết.

Điều luật cũng quy định rõ: "Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị KSV phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được KSV tranh luận”. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, trong trường hợp dù được đề nghị, KSV vẫn không tham gia tranh luận thì hậu quả pháp lý là gì? chế tài áp dụng như thế nào? Có nên xem việc không tham gia tranh luận, không đáp lại được lập luận của bên tham gia tranh tụng chính là sự thừa nhận, đồng tình với lập luận của họ hay không? thì đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào quy định cụ thể.

Điều 220 BLTTHS năm 2003 quy định: "Sau khi những người tham gia tranh luận không trình bày gì thêm, chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc tranh luận. Bị cáo được nói lời sau cùng…”. Quyền được nói lời sau cùng trước khi nghị án là một trong những bảo đảm pháp lý quan trọng để bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình, là quyền đặc thù mà pháp luật chỉ giành riêng cho bị cáo. Khi nói lời sau cùng, HĐXX không được đặt câu hỏi đối với bị cáo nhưng có quyền yêu cầu bị cáo không được trình bày những điểm không liên quan đến vụ án. HĐXX không được hạn chế thời gian nói lời sau cùng của bị cáo. Tuy nhiên HĐXX cũng cần phải nhắc bị cáo phát biểu ngắn gọn và không lặp lại dài dòng những ý kiến đã được tranh luận. Qua phát biểu của bị cáo, HĐXX có thêm "niềm tin nội tâm” để cân nhắc đối với việc giải quyết vụ án.

Tại phần nghị án và tuyên án, Điều 222 BLTTHS đã chỉ rõ: "các phán quyết của HĐXX phải dựa trên cơ sở các chứng cứ và tài liệu đã được kiểm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của KSV, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa”. Hay nói cách khác, phán quyết của HĐXX phải dựa trên kết quả tranh luận bình đẳng giữa KSV, bị cáo với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa.

Từ những phân tích nội dung một số quy định của BLTTHS năm 2003 có thể thấy rằng TTHS nước ta là tố tụng thẩm vấn nhưng đã đan xen các yếu tố tranh tụng trong quá trình tố tụng, nổi bật là tranh tụng tại phiên tòa. Mặc dù vậy, tranh tụng vẫn chưa được quy định là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt Nam.

Qua 10 năm thi hành BLTTHS 2003; thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (Nghị quyết số 08) và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-06-2005 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (Nghị quyết số 49); thực tiễn đã phản ánh những mặt đạt được từ hoạt động tranh tụng tại phiên toà như: nâng cao vị trí vai trò của luật sư trong hoạt động TTHS; nâng cao chất lượng xét xử; nâng cao việc thực hiện quyền con người; nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân. Bên cạnh đó thực tiễn tranh tụng cũng phản ánh những mặt hạn chế như: tình trạng vi phạm các nguyên tắc cơ bản của TTHS; việc thực hiện các chức năng tố tụng còn nhiều bất cập; việc xét hỏi, tranh luận tại phiên toà chưa đáp ứng được yêu cầu tranh tụng…Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trên bao gồm nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, có thể kể đến là do những hạn chế trong quy định của pháp luật; do trình độ chuyên môn và kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư… từ đó đòi hỏi phải có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, thể chế hóa được đường lối, tư tưởng của Đảng về cải cách tư pháp.

2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà hình sự

Cùng với việc toàn cầu hoá, hội nhập hoá, sự đi lên của nền kinh tế, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế quốc tế, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao…việc thực hiện xây dựng nhà nước pháp quyền đang đi vào giai đoạn chuyển hoá về chất thì vấn đề tranh tụng càng được cả xã hội, người dân cũng như Bộ chính trị quan tâm hơn bao giờ hết. Do đó, cần thiết phải nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà hình sự để đáp ứng với yêu cầu trong tình hình mới.

Tại báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án 2012 cũng xác định: "Tiếp tục xác định việc đổi mới thủ tục tranh tụng tại phiên tòa theo hướng thực chất, đảm bảo dân chủ, công khai, đúng quy định của pháp luật…” là một trong các nội dung trọng tâm của ngành Toà án trong năm 2013.

2.1. Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về tranh tụng tại phiên tòa

2.1.1. Hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản

a. Nguyên tắc tranh tụng

Một phiên tòa tranh tụng sẽ buộc hoạt động của tất cả những chủ thể tham gia phiên tòa và các chủ thể tham gia giai đoạn trước phiên tòa sẽ phải "chuyên nghiệp” hơn. Sự hiện diện của nguyên tắc tranh tụng trong BLTTHS là cơ sở pháp lý quan trọng để các bên tranh tụng được bình đẳng với nhau trong việc thực hiện chức năng tranh tụng của mình và Toà án với chức năng xét xử là vị trọng tài vô tư, khách quan, điều khiển, quyết định kết quả của quá trình tranh tụng. Với ưu điểm đó, nguyên tắc tranh tụng cần sớm được ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản trong BLTTHS Việt Nam giữ vai trò chi phối và định hướng mọi hoạt động cũng như hành vi tranh tụng của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình TTHS. Nguyên tắc này cũng cần được cụ thể hóa trong toàn bộ quá trình tố tụng. Đây là giải pháp cần thiết để tạo ra sự chuyển biến tích cực trong hoạt động TTHS ở nước ta, làm cho hoạt động TTHS phù hợp với qui luật phát triển khách quan vốn có của nó.

BLTTHS hiện hành của nước ta chưa có điều luật cụ thể ghi nhận nguyên tắc tranh tụng. Quy định tại Điều 19 BLTTHS mới phản ánh được một phần nội dung của nguyên tắc này đó là "bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án”. Chính vì vậy, việc nhận thức và áp dụng quy định đó trong thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự chưa được chính xác và đầy đủ. Điều đó có thể ảnh hưởng đến mục đích và các nhiệm vụ đặt ra của pháp luật tố tụng hình sự. Bởi vậy, trong BLTTHS nên ghi nhận nguyên tắc tranh tụng với những nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, khẳng định sự tách bạch giữa các chức năng cơ bản của TTHS là chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử. Những chức năng này do các chủ thể khác nhau thực hiện;

Thứ hai, khẳng định sự bình đẳng của bên buộc tội và bào chữa trong hoạt động thu thập, đưa ra các chứng cứ, các yêu cầu và tranh luận về các vấn đề có liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa.

Thứ ba, khẳng định nghĩa vụ của các Cơ quan tiến hành tố tụng phải tạo mọi điều kiện tốt nhất để thực hiện việc tranh tụng. Toà án phải tạo điều kiện để các bên tranh tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, phải xem xét vô tư, khách quan mọi chứng cứ và lý lẽ của bên buộc tội cũng như bên bào chữa. Bản án của Toà án chỉ dựa trên cơ sở kết quả tranh tụng giữa các bên.

Theo đó, cần bổ sung Điều luật quy định về tranh tụng như sau:

"Điều...Bảo đảm tranh tụng trong TTHS

Trong tố tụng hình sự, các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử độc lập với nhau.

Bên buộc tội và bên bào chữa bình đẳng với nhau trong việc thu thập và đưa ra các chứng cứ, các yêu cầu và tranh luận về các vấn đề có liên quan đến việc giải quyết vụ án.

Toà án tạo điều kiện để các bên tranh tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; xem xét vô tư, khách quan mọi chứng cứ và lý lẽ của bên buộc tội cũng như bên bào chữa..Bản án của Toà án chỉ dựa trên cơ sở kết quả tranh tụng giữa các bên.”

2.1.2.Hoàn thiện chế định về bảo đảm quyền bào chữa

Thứ nhất, về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được quy định tại Điều 11 BLTTHS.

Đây là nguyên tắc có nguồn gốc từ nguyên tắc hiến định: bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Tuy nhiên, quy định tại đoạn 1 của Điều này còn có điểm bất cập: "Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”. Quy định này sẽ dễ dẫn đến sự hiểu nhầm về việc bị can, bị cáo chỉ có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình, chứ không thể vừa tự bào chữa, vừa nhờ người khác bào chữa. Trong khi đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 191 BLTTHS thì ngoài việc tự bào chữa, bị cáo có quyền nhờ người bào chữa cho mình, sau đó còn có quyền bổ sung ý kiến mà người bào chữa đã trình bày.

Do vậy, việc thay từ "hoặc” bằng từ "” trong đoạn 1 của Điều 11 BLTTHS là rất cần thiết để quyền "tự bào chữa”"nhờ người khác bào chữa” không triệt tiêu nhau mà cùng song song tồn tại trong chỉnh thể quyền bào chữa của bị can, bị cáo. Theo đó, chúng tôi đề nghị sửa đổi Điều 11 BLTTHS như sau: "Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, có quyền tự bào chữa nhờ người khác bào chữa”.

Thứ hai, về chế định người bào chữa.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự thì người bào chữa có thể là: Luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân. Hiện nay cùng với sự phát triển về trình độ dân trí thì việc mở rộng thêm diện những người mà bị can, bị cáo có thể lựa chọn là người bào chữa là hết sức cần thiết giúp cho việc chất lượng tranh tụng tại phiên toà được nâng cao. Sự mở rộng này cũng phù hợp với quy định tại khoản 2 của Điều luật này vì họ không thuộc diện những người không được bào chữa cho bị can, bị cáo.

Theo đó, quy định tại khoản 1 Điều 56 BLTTHS cần thiết được sửa đổi, bổ sung như sau:

"1. Người bào chữa có thể là:

a) Luật sư;

b) Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

c) Bào chữa viên nhân dân;

d) Trợ giúp viên pháp lý;

Ngoài ra, cũng cần sửa đổi điểm a, khoản 2 Điều 57 BLTTHS về lựa chọn và thay đổi người bào chữa theo hướng mở rộng các trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị truy tố về tội có khung hình phạt cao nhất đến 20 năm hoặc tù chung thân. Theo đó, quy định tại khoản 2 Điều 57 có thể được sửa đổi như sau:

"2. Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:

a) Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt cao nhất đến 20 năm hoặc tù chung thân được quy định tại Bộ luật hình sự;..”

Thứ ba, để bị cáo thực hiện tốt quyền bào chữa của mình, thực hiện tốt hoạt động tranh tụng tại phiên tòa, Luật cần quy định cho họ quyền được chất vấn, đối chất với người làm chứng chống lại mình. Theo đó, khi bị cáo có yêu cầu về người làm chứng trực tiếp đối chất với mình, Toà án phải đảm bảo để họ thực hiện được quyền này.

Thứ tư, cần quy định chế tài áp dụng đối với những hành vi vi phạm các nguyên tắc của BLTTHS như không đảm bảo quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; không đảm bảo thực hiện tranh tụng tại phiên tòa... của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

2.1.3. Hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tham gia phiên tòa hình sự

Từ nguyên tắc tranh tụng với sự phân định rõ ba chức năng cơ bản trong TTHS là buộc tội, bào chữa và xét xử với những chủ thể tương ứng, BLTTHS cũng cần sửa đổi các quy định cụ thể về địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể này đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc trên.

- Đối với Tòa án: chủ thể của chức năng xét xử, cần được quy định cụ thể, rõ ràng Toà án là cơ quan tư pháp, độc lập với bên buộc tội và bên bào chữa. Theo chúng tôi, những quy định không phù hợp với nội dung của chức năng xét xử cần được sửa lại cho phù hợp. Cụ thể là:

Thứ nhất, bỏ quy định HĐXX có quyền khởi tố vụ án tại Điều 104 BLTTHS; Bởi vì đây là công việc thuộc chức năng buộc tội.

Thứ hai, việc Toà án tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị với VKS cấp trên khi thấy việc rút quyết định truy tố không có căn cứ không phù hợp với chức năng, địa vị pháp lý của Toà án. Do đó, cần bỏ quy định nêu trên tại khoản 2 Điều 222 BLTTHS.

Thứ ba, sửa đổi quy định về việc thẩm phán trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo Điều 179 BLTTHS 2003 theo hướng quy định trường hợp duy nhất mà Thẩm phán có thể trả hồ sơ yêu cầu bổ sung là khi thẩm phán phát hiện ra những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng cản trở cho việc xét xử của HĐXX (VKS chưa tống đạt cáo trạng cho bị cáo...). Còn về vấn đề chứng cứ đã đủ hay chưa, chứng cứ nào là chứng cứ quan trọng của vụ án... là trách nhiệm của VKS đối với việc bảo vệ cáo trạng của mình. Toà án không có nhiệm vụ hỗ trợ chức năng "buộc tội” của VKS.

- Đối với VKS, cần quy định VKS chỉ thực hiện một chức năng duy nhất là chức năng công tố. Tại phiên tòa sơ thẩm, VKS chỉ có nhiệm vụ thực hành quyền công tố để bảo vệ cáo trạng của mình. Điều này phù hợp với nguyên tắc tranh tụng, phân định rõ chức năng của các chủ thể và đảm bảo sự bình đẳng giữa hai chức năng buộc tội và gỡ tội về địa vị pháp lý. Việc bỏ chức năng kiểm sát xét xử tại phiên tòa của VKS sẽ góp phần giúp HĐXX độc lập, khách quan hơn khi xét xử.

Ngoài ra, cần quy định lại vị trí ngồi của KSV và người bào chữa tại các phiên tòa hình sự theo hướng để Luật sư được ngồi ở ghế đối diện ngang bằng với KSV và gần bị cáo. Ở vị trí này Luật sư bào chữa cho bị cáo vừa có điều kiện dễ dàng tiếp xúc với bị cáo vừa có sự ngang bằng với KSV. Quy định này thể hiện sự bình đẳng trước Toà án của KSV và Luật sư. Trong các phiên toà có nhiều bị cáo, nhiều người bào chữa, có thể tăng số lượng KSV để tương xứng hơn trong tranh tụng.

- Đối với Người bào chữa, để thực hiện tốt hoạt động tranh tụng tại phiên tòa, cần mở rộng quyền thu thập chứng cứ và cách thức thu thập chứng cứ của người bào chữa. BLTTHS cần quy định về việc CQĐT và VKS khi nhận được đồ vật, tài liệu do người bào chữa cung cấp phải đưa những chứng cứ này vào hồ sơ hình sự. Trong trường hợp bị cáo không có người bào chữa, việc hỏi cung cũng cần sự có mặt của người đại diện hợp pháp hoặc người thân thích được bị cáo đề nghị làm người bào chữa cho họ. Quy định này không chỉ nhằm tránh tình trạng "bức cung, mớm cung” dẫn tới việc bị cáo phản cung tại phiên tòa mà còn tăng tính dân chủ, khách quan trong quá trình điều tra, tránh những oan sai. Hơn nữa, quy định này cũng sẽ đảm bảo sự vững chắc của các lý lẽ, lập luận mà người bào chữa đưa ra trong tranh tụng tại phiên tòa. Không thể nói về tăng cường tranh tụng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bị can, bị cáo nếu không tạo điều kiện cho họ và người bào chữa của họ có được các bảo đảm về mặt pháp lý khi tham gia vào quá trình tranh tụng tại Tòa.

2.1.4. Hoàn thiện về thủ tục xét xử tại phiên tòa

- Về trình tự xét hỏi tại Điều 207 BLTTHS cần sửa đổi theo hướng quy định khi xét hỏi KSV hỏi trước rồi đến người bào chữa. Thẩm phán và Hội thẩm yêu cầu hai bên tranh tụng đặt câu hỏi về các nội dung cần làm rõ. Quy định này sẽ xóa bỏ được tình trạng HĐXX là chủ thể xét hỏi chính, buộc KSV có trách nhiệm hơn đối với việc buộc tội qua sự chủ động và tích cực xét hỏi để chứng minh, bảo vệ cáo trạng của VKS.

Theo chúng tôi, cần sửa đổi, bổ sung Điều 207 BLTTHS như sau:

"1.Chủ tọa phiên tòa điều khiển quá trình xét hỏi, tạo điều kiện cho các bên tranh tụng và những người tham gia xét hỏi xác định sự kiện, các tình tiết của vụ án được bình đẳng, khách quan.

2. Khi xét hỏi từng người Kiểm sát viên tham gia hỏi trước, sau đó là Người bào chữa; Người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của họ; HĐXX có quyền đặt câu hỏi nêu vấn đề để hai bên tập trung làm rõ nội dung vụ án.

Đối với bên buộc tội, tham gia hỏi trước tiên là KSV; tiếp theo là NBH, đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của họ; người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của họ. Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của NBH thì NBH, người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của họ tham gia hỏi trước VKS.

Đối với bên bào chữa, tham gia hỏi trước tiên là Người bào chữa; sau đó là BĐDS, người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của họ.

3. Khi xét hỏi, HĐXX và những người tham gia phiên tòa có thể xem xét những vật chứng có liên quan trong vụ án.

- Về trình tự phát biểu khi tranh luận tại Điều 217 BLTTHS cần sửa đổi, bổ sung theo hướng: bị cáo và người bào chữa là người phát biểu sau cùng. Bởi vì sau khi trình bày lời bào chữa, bị cáo và người bào chữa phải thể hiện quan điểm của mình không chỉ đối với lời luận tội của KSV mà còn đối với cả ý kiến của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi của họ. Do đó, việc hoán đổi vị trí giữa khoản 2 và khoản 3 của Điều 217 là phù hợp với logic tranh luận.

- Cần sửa đổi Điều 218 BLTTHS theo hướng: KSV có nghĩa vụ đáp lại ý kiến của những người tham gia tố tụng khác đưa ra chưa được KSV tranh luận. Chủ tọa phiên tòa có trách nhiệm đảm bảo việc đối đáp giữa KSV, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác. Việc KSV không thực hiện việc đối đáp hoặc đối đáp không có cơ sở thì việc bào chữa của bên bị buộc tội phải được coi là có cơ sở và được ghi nhận trong bản án.

2.2. Kiện toàn đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Luật sư

Thứ nhất, về kiện toàn đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm và tổ chức, hoạt động của Toà án.

- Đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay, Thẩm phán và Hội thẩm cần có nhận thức thống nhất về khái niệm, nội dung và ý nghĩa của thuật ngữ "tranh tụng” theo tinh thần cải cách tư pháp. Thẩm phán và Hội thẩm cần phải ý thức được rằng mình chính là người trọng tài vô tư, khách quan điều khiển quá trình tranh tụng giữa các bên tại phiên tòa. Xác định rõ nghĩa vụ của HĐXX là làm rõ sự thật khách quan của vụ án, chứng minh căn cứ và lý do cho phán quyết trong bản án hoặc quyết định của mình thông qua kết quả tranh tụng của các bên tại phiên tòa.

- Ngành Toà án cần có biện pháp xây dựng đội ngũ Thẩm phán đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Trình độ, năng lực của Thẩm phán dù có giỏi đến đâu nhưng số lượng không đủ, công việc quá tải, áp lực công việc đè nặng thì hiệu quả chắc chắn không cao. Do đó, cần có quy định về việc mở rộng nguồn bổ nhiệm thẩm phán không chỉ đối với cán bộ đang công tác trong ngành mà còn cả những người là luật gia, Luật sư nếu họ đáp ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật. Khi đảm bảo đủ số lượng thẩm phán cần thay đổi số lượng thẩm phán trong thành phần HĐXX theo hướng nâng từ một lên hai thẩm phán, giảm số lượng Hội thẩm từ hai xuống một (nếu HĐXX có ba người). Nâng Thẩm phán từ hai lên ba người, giảm số lượng Hội thẩm từ ba xuống hai người (nếu HĐXX có năm người).

- Thường xuyên quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực, trình độ cho Thẩm phán trước và sau khi bổ nhiệm, công việc này cần tiến hành thường xuyên. Trong điều kiện hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường cần phải đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng xét xử chuyên sâu cho thẩm phán đối với các vụ án trong các lĩnh vực tham nhũng, chứng khoán, công nghệ thông tin, tài chính ngân hàng, xây dựng …

- Bên cạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ công tác thì việc giáo dục nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ Thẩm phán là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Cần chú ý đến văn hóa ứng xử khi điều khiển tranh tụng của thẩm phán tại phiên tòa. Vấn đề này tuy không được điều chỉnh bởi pháp luật nhưng nó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của phiên tòa cũng như uy tín, vị thế của thẩm phán nói riêng, của ngành Tòa án nói chung.

Thứ hai, kiện toàn đội ngũ KSV và tổ chức, hoạt động của VKS.

"Thực tiễn cho thấy, trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ kiểm sát viên các cấp còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới (Bàn về tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự và các giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà, Tạp chí Nghề Luật số 06, 2007). Vì vậy, các cơ quan hữu quan cần phối hợp chặt chẽ với nhau để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ KSV các cấp về kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa hình sự. Có như vậy mới kịp thời trang bị cho đội ngũ Kiểm sát những kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài trong giai đoạn mới.

Về tổ chức bộ máy của VKS, chức năng của Viện kiểm sát cần sớm tổ chức VKS theo mô hình Viện công tố với chức năng duy nhất trong TTHS là thực hành quyền công tố (buộc tội), bảo đảm cho các Công tố viên hoạt động một cách khách quan, không thiên vị và trên cơ sở pháp luật.

Thứ ba, về kiện toàn đội ngũ Luật sư.

Luật Luật sư ra đời năm 2006 và việc thành lập tổ chức Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã khắc phục nhiều sơ hở, bất cập trong quản lý và xây dựng đội ngũ Luật sư. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ Luật sư nhằm đáp ứng sự phát triển của xã hội cần phát triển đội ngũ Luật sư cả về số lượng và chất lượng theo hướng: đáp ứng yêu cầu tham gia bào chữa đối với tất cả các vụ án trên phạm vi toàn quốc, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có đạo đức nghề nghiệp. Các Cơ quan tiến hành tố tụng cần tạo điều kiện để Luật sư thực hiện các hoạt động tranh tụng có hiệu quả. Hiện nay, Học viện Tư pháp được giao đào tạo đội ngũ Luật sư trong cả nước với thời gian đào tạo mỗi khoá học là 06 tháng. Qua việc nghiên cứu thời gian học và chương trình đào tạo Luật sư, chúng tôi cho rằng cần nâng thời gian đào tạo Luật sư lên ít nhất bằng với thời gian đào tạo Thẩm phán và KSV hiện nay là một năm. (Hiện nay, học viện tư pháp đã bắt đầu thực hiện việc nâng thời gian đào tạo nghiệp vụ Luật sư từ 06 tháng lên 12 tháng bắt đầu thực hiện từ 01/7/2013)

2.3. Đào tạo các chức danh tư pháp theo hướng đáp ứng yêu cầu tranh tụng tại phiên tòa

Trong tố tụng hình sự nước ta ba chức danh tư pháp Thẩm phán, KSV và LS có mối liên hệ mật thiết với nhau. Ba chức danh này khi tham gia vào quá trình tố tụng mặc dù có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng lại có nhiều điểm chung đó là đều phải thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng và trong một chừng mực nhất định nào đó họ cần hiểu được nghiệp vụ của nhau để trên cơ sở đó phát huy tốt nhất kỹ năng nghề nghiệp của mình cho việc giải quyết công việc. Vì thế, cần phải đổi mới nội dung, chương trình đào tạo Thẩm phán, KSV và LS hiện nay (đào tạo riêng từng chức danh) bằng việc xây dựng một chương trình đào tạo chung 3 chức danh Thẩm phán, KSV và LS (Hiện nay Học viện tư pháp đang bắt đầu thực hiện chương trình đào tạo chung 3 chức danh này thí điểm từ năm 2013 đến 2015 theo đó các học viên sẽ được tuyển chọn và được miễn 100% học phí, sau khoá học các học viên sẽ phải thực hiện một số nhiệm vụ của học viện). Trong chương trình đào tạo cần chú trọng trang bị các kỹ năng về tranh tụng tại phiên tòa cho các học viên.

Đối với Thẩm phán chú ý các công việc chuẩn bị xét xử, đặc biệt là kỹ năng lập kế hoạch xét hỏi, sao cho ra phiên tòa Thẩm phán luôn luôn chủ động điều khiển phiên tòa theo một thứ tự hợp lý và xử lý kịp thời các tình huống phát sinh tại phiên toà. Ở phần xét hỏi và tranh luận cần hỏi những vấn đề mang tính gợi mở để các bên tập trung xét hỏi làm rõ; điều khiển phiên tòa bảo đảm dân chủ, bình đẳng giữa các bên; kiên quyết yêu cầu KSV trả lời tất cả những ý kiến có liên quan đến vụ án mà người tham gia tố tụng nêu ra nếu ý kiến đó chưa được KSV tranh luận. Phải đổi mới cách viết bản án, theo đó các ý kiến tranh tụng của KSV, LS và những người tham gia tố tụng đều được thể hiện, phân tích kỹ trong bản án. Việc chấp nhận hay bác bỏ ý kiến nào phải nêu rõ lý do.

Đối với KSV phải trang bị các kỹ năng để luôn chủ động trong việc xét hỏi và thẩm tra các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, kết hợp với việc xét hỏi phải phân tích lập luận làm rõ sự không hợp lý trong ý kiến của LS bào chữa và bị cáo đưa ra để bảo vệ bản cáo trạng. Phải rèn luyện các kỹ năng luận tội, đối đáp thể hiện sự dân chủ, khách quan và tôn trọng những người tham gia tố tụng.

Đối với LS, cần trang bị các kỹ năng thu thập và xuất trình đồ vật tài liệu làm chứng cứ của vụ án; các kỹ năng viết bản bào chữa, xét hỏi làm rõ sự vô tội và các tình tiết giảm nhẹ cho thân chủ; các kỹ năng tranh luận thể hiện sự hùng biện khi thuyết phục HĐXX bằng sự lập luận chặt chẽ, có các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho quan điểm của mình.

2.4. Đảm bảo cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ phù hợp với những người tiến hành tố tụng

Để hoạt động xét xử, hoạt động tranh tụng của Thẩm phán, KSV có chất lượng và hiệu quả, cần đảm bảo đủ cơ sở vật chất cần thiết về chế độ tiền lương, trụ sở, trang thiết bị làm việc, phương tiện kỹ thuật...Ở một số nước đang phát triển như Brazil lương thẩm phán cao gấp 33 lần mức lương trung bình; tại Ecuador là 18 lần; tại Pêru là 14 lần... Với sự đảm bảo về vật chất này sẽ hạn chế được tối đa những tác động tiêu cực đối với Thẩm phán trong vấn đề độc lập xét xử.

Thực tế còn cho thấy, công tác tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán ở các huyện vùng sâu, vùng xa hiện nay còn nhiều khó khăn. Chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức ngành Toà án còn thấp, điều kiện sinh hoạt và làm việc còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, cộng với áp lực và trách nhiệm đối với công việc rất lớn. Đối với đội ngũ KSV cũng tương tự. Họ đều là người thực hiện những hoạt động nghề nghiệp đặc thù. Do đó, cần có chính sách đãi ngộ đặc biệt để đảm bảo tốt nhất hiệu quả công việc mà họ thực hiện.

2.5. Tăng cường ý thức pháp luật trong nhân dân

Việc tăng cường ý thức pháp luật trong nhân dân có tầm ý nghĩa rất quan trọng trong việc nhận thức và thực hiện các quy định của pháp luật. Trong tố tụng hình sự, bằng việc nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của Toà án, người bào chữa, KSV, các nguyên tắc bảo đảm tranh tụng…cũng góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động tranh tụng tại phiên toà. Để thực hiện được điều đó thì công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật và có ý nghĩa, vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa quan trọng đó Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác này. Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị chỉ rõ: "Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật với nhiều hình thức phong phú, sinh động, đặc biệt là thông qua các phiên toà xét xử lưu động và bằng những phán quyết công minh để tuyên truyền, nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân”. Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân đã khẳng định: "Phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”.

Vấn đề nâng cao hoạt động tranh tụng tại phiên toà hiện nay đang được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo việc thực hiện theo yêu cầu của Nghị quyết số 08 và Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị. Thiết nghĩ, để đạt được mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đề ra ngoài sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng thì cần phải có sự chung tay nỗ lực của toàn bộ các cấp các ngành nhất là các cơ quan pháp luật mà trước hết là từ mỗi cán bộ ngành Toà án nói riêng.

1. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02.01.2002.

2. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX, X Nxb Chính trị quốc gia.

4. Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin.

5.Hán - Việt tự điển, http://www.thuvien-ebook.com.

6.Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988.

7.Bộ luật hình sự năm 1999.

8.Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.

9.Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.

10. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và toàn bộ các văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Tư pháp.

11. Luật Luật sư 2006.

12. Tòa án nhân dân tối cao, Báo cáo tổng kết ngành năm 2012.

13. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hình sự, Nxb Tư pháp.

14. TS. Nguyễn Đức Mai "Vấn đề tranh tụng trong TTHS”, Đại học Quốc Gia Hà Nội.

15. Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi