Thủ tục xét xử phúc thẩm trong Tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng và phương hướng hoàn thiện

PGS. TS. Nguyễn Tất Viễn – Bộ Tư pháp

1.Vài nét về thể chế xét xử phúc thẩm trước năm 1945

1.1. Thời kỳ Việt Nam độc lập tự chủ - từ thế kỷ X đến khi Pháp xâm lược và đô hộ (1858 - 1945)

Từ thế kỷ X - XV, do tư liệu chính sử bị thất lạc nên pháp luật tố tụng của các vương triều Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ không được ghi lại nhiều trong sử sách. Do đó, khó có căn cứ chính xác để bàn luận về thủ tục tư pháp trong thời kỳ phong kiến 500 năm độc lập và tự chủ.

Từ thế kỷ XV, khi nhà Hậu Lê được thiết lập, và khi Bộ Quốc triều Hình luật ra đời thì mặc dù mọi quyền lực đều tập trung trong tay Nhà Vua nhưng tư pháp ít nhiều đã có sự độc lập đối với hành pháp. Tuy cơ quan hành chính vẫn thực hiện xét xử nhưng đã hình thành một số cơ quan chuyên xét xử như Thừa ty, Hiến ty, Ngự sử đài, Đại lý tự ở mỗi đơn vi hành chính như đạo (1460), thừa tuyên (1469), xứ (1471) được đặt dưới sự quản lý và chấp pháp của Đô ty, Thừa ty, Hiến ty, trong đó Hiến ty là cơ quan xét xử chuyên trách. Thừa ty được xử một số vụ việc. Hiến ty xét xử sơ thẩm đồng thời cũng có quyền phúc thẩm lại các bản án mà Thừa ty xét xử; xét xử lại những việc xử phạt vắng mặt ở phủ huyện. Nếu thấy oan, Hiến ty sẽ giao quan phủ xử án lại. Từ 1649, Toà Giám sát ở mỗi đạo có quyền xử phúc thẩm tất cả các bản án trong đạo, đã được Hiến ty, Thừa ty, phủ nha và huyện nha xét xử trước đó nếu có oan, sai. Trong Bộ luật Hồng Đức quy định đương sự được kháng cáo 2 lần (Điều 672: Xã quan xử không đúng thì kêu lên huyện, huyện xử không đúng thì kêu lên quan lộ, quan lộ xử không đúng thì mới được đến kinh tế bày). Như vậy, trong nhà nước phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII, cơ chế xét xử lại các bản án đã tồn tại và được luật hóa.

Thời kỳ nhà Nguyễn, ở cấp tỉnh, quan án sát xét xử hình sự còn Bố chánh xét xử dân sự. án sát tỉnh phúc thẩm lại các án phạt trượng của tri phủ, tri huyện. Ở Trung ương các Bộ đều có quyền phúc thẩm các vụ án quan trọng. Theo Bộ luật Gia Long, Bộ Hình có quyền phúc thẩm toàn bộ các việc bị phạt từ tội đồ trở lên. Cấp xét xử cao nhất là Tam pháp ty gồm: Đại lý tự, Bộ hình và Viện Đô sát có nhiệm vụ xét xử lại các bản án tử hình và các vụ án có nhiều vướng mắc, phức tạp, nghi là oan sai.

1.2. Thời kỳ Pháp thuộc

Sau cuộc xâm lược của thực dân Pháp, Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Bắc Kỳ và Trung Kỳ đặt dưới sự bảo hộ của Pháp. Vì vậy cách tổ chức xét xử ở 3 kỳ có khác nhau. Các Tòa án Pháp có thẩm quyền khác với các Tòa án Việt Nam. Các Tòa án Pháp đều có Toà thượng thẩm, Toà Đại hình, Toà sơ thẩm, Toà hoà giải rộng quyền và Toà hoà giải thường. Có 2 Toà thượng thẩm đặt tại Hà Nội và Sài Gòn, làm nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các bản án của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo. Các Tòa án Việt Nam ở Bắc Kỳ được gọi là Toà Nam án do người Việt Nam đảm nhiệm việc xét xử. Trong đó ở Bắc Kỳ gồm Tòa án sơ cấp (đệ nhất cấp), Tòa án đệ nhị cấp, Toà thượng thẩm ở Hà Nội. Ở Trung Kỳ có Toà sơ cấp và Toà đệ nhị cấp. Toà thượng thẩm chính là Bộ Hình trong triều đình Huế.

2. Thủ tục xét xử phúc thẩm từ năm 1945 đến nay

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngày 13/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ra Sắc lệnh số 33C thành lập các Tòa án quân sự. Đây cũng là dấu hiệu phá bỏ hoàn toàn bộ máy tư pháp của chế độ thực dân, phong kiến. Về mặt lập pháp, do những ngày đầu chính quyền dân chủ nhân dân chưa kịp ban hành nhiều văn bản pháp luật, trong đó có pháp luật về tố tụng, ngày 10/10/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra Sắc lệnh số 47 về tạm thời giữ nguyên các luật lệ hiện hành của chế độ cũ nếu không trái với chính thể mới và không phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trong đó Chương IV và chương V Sắc lệnh có các quy định liên quan đến pháp luật hình sự và tố tụng hình sự. Ít lâu sau, Sắc lệnh số 13 ngày 21/4/1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán được ban hành. Đây là văn bản pháp lý hoàn chỉnh nhất trong thời kỳ đầu của chính quyền dân chủ nhân dân về tổ chức và hoạt động của Tòa án. Hệ thống Tòa án lúc này gồm có Toà thượng thẩm, Toà đệ nhị cấp và Toà sơ cấp. Toà thượng thẩm đặt tại 3 kỳ (Hà Nội, Huế, Sài Gòn) và làm nhiệm vụ xét xử phúc thẩm hình sự.

Hiến pháp năm 1946 quy định cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm: Tòa án tối cao, các Tòa án phúc thẩm, các Tòa án đệ nhị cấp vả sơ cấp. Ngoài Tòa án phúc thẩm, các Tòa án đệ nhị cấp cũng có quyền xét xử phúc thẩm đối với quyết định bản án của Tòa án sơ cấp. Năm 1950, cuộc cải cách tư pháp lần thứ nhất diễn ra theo Sắc lệnh số 85-SL của Chủ tịch nước. Tòa án sơ cấp đổi thành Tòa án nhân dân huyện. Tòa án đệ nhị cấp đổi thành Tòa án nhân dân tỉnh. Hội đồng phúc án đổi thành Toà phúc thẩm.

Như vậy, mặc dù chưa được pháp luật quy định trực tiếp như hiện nay nhưng qua cách thức quy định tổ chức và hoạt động của Tòa án các cấp có thể thấy nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử và thủ tục xét xử phúc thẩm hình sự đã được ghi nhận trong thể chế tư pháp của Nhà nước dân chủ nhân dân từ những ngày đầu tiên khi Việt Nam độc lập.

Theo Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, hệ thống Tòa án ở Việt Nam bao gồm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện, các Tòa án quân sự. Ngoài ra còn có Tòa án của 2 khu tự trị Việt Bắc và Tây Bắc, và khi cần có thể lập Tòa án đặc biệt. Nguyên tắc hai cấp xét xử được ghi nhận chính thức và trực tiếp trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960  (nguyên tắc này cũng được ghi nhận trong Sắc luật số 01/SL/76 năm 1976  về hệ thống Tòa án của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam). Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất về mặt nhà nước và pháp luật, Hiến pháp năm 1980 được ban hành. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 không quy định nguyên tắc hai cấp xét xử của Tòa án nhân dân. Tiếp đó, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992 cũng không quy định nguyên tắc này. Năm 1988, Bộ luật Tố tụng hình sự đầu tiên được ban hành, sau đó được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990, 1992 và 2000, tuy không ghi nhận nguyên tắc hai cấp xét xử nhưng đã quy định tương đối toàn diện các quy định về thủ tục phúc thẩm hình sự, từ định nghĩa khái niệm đến kháng cáo, kháng nghị, từ thẩm quyền xét xử đến các quy định cụ thể tại phiên toà cũng như nhiều vấn đề khác có liên quan. Việc không quy định trực tiếp nguyên tắc hai cấp xét xử đã gây ra những tranh luận không cần thiết trong một khoảng thời gian dài trong giới nghiên cứu cũng như trong thực tiễn, và chỉ được giải quyết dứt điểm khi có Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002. Tuy nhiên, trên thực tế căn cứ vào các quy định của pháp luật về tố tụng hình sự và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, có thể thấy rằng tuy pháp luật không quy định trực tiếp, nhưng tinh thần và nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử và thủ tục xét xử phúc thẩm vẫn được thể hiện qua các quy định pháp lý về tổ chức và hoạt động của Tòa án .

Thực tiễn thực hiện thủ tục phúc thẩm hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 cho thấy đã có nhiều vướng mắc và bất hợp lý cần khắc phục như thời hạn xét xử bị chậm, xác định sai chủ thể có quyền kháng cáo hoặc xác định sai nội dung kháng cáo, khang nghị; thực hiện không đúng phạm vi xét xử phúc thẩm; thực hiện không đúng và không đầy đủ các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên toà; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng...

Về tính chất của phúc thẩm trong tố tụng hình sự, trước đây có. nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, qua quá trình thảo luận và nhất là khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 được ban hành thì các ý kiến đã cơ bản thống nhất rằng phúc thẩm là một cấp xét xử tức là thừa nhận nguyên tắc hai cấp xét xử (lưỡng cấp tài phán). Các nhà lập pháp cho rằng việc xét xử lại các vụ án có kháng cáo, kháng nghị sẽ hạn chế và khắc phục được những sai sót trong xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, buộc chính các Tòa án cấp trên phải thận trọng hơn. Chúng tôi đồng tình với Th.S. Đinh Văn Quế khi ông cho rằng, phúc thẩm vụ án hình sự là một thủ tục tố tụng do luật quy định nhằm kiểm tra lại tính hợp pháp của bản án hoặc quyết định sơ thẩm, thông qua đó, hướng dẫn Tòa án cấp sơ thẩm khắc phục những thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật, nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các Thẩm phán của Tòa án cấp sơ thẩm, góp phần hướng dẫn áp dụng thống nhất phản luận. Vì vậy, thủ tục phúc thẩm, cũng như nguyên tắc hai cấp xét xử, đã trở thành một giá trị phổ biến trong khoa học luật tố tụng hình sự cũng như trong thực tiễn tố tụng hình sự. Về mặt lý thuyết, thủ tục phúc thẩm khác về cơ bản với thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, đặc biệt khác nhau ở tính chất, đối tượng xét xử và thủ tục tố tụng.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã có một số sửa đổi quan trọng trong thủ tục xét xử phúc thẩm, đã khắc phục được nhiều vướng mắc trong nhận thức và trong thực tiễn khi áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 về thủ tục xét xử phúc thẩm. Có thể kể đến những vấn đề sau:

1. Về khái niệm xét xử phúc thẩm: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định rõ và chính xác tính chất của xét xử phúc thẩm (Điều 230), đó là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, tức là có sự thay đổi căn bản về đối tượng của xét xử phúc thẩm so với Bộ luật Tố tụng hình sự. 1988 (từ xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm sang xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm). Sự thay đổi này đã phân biệt thủ tục xét xử phúc thẩm với tính chất là cấp xét xử thứ hai với thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm mà trước đây có nhiều ý kiến cho rằng đó là một cấp xét xử. Mục đích của phúc thẩm là nhằm kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức xã hội và Nhà nước.

2. Việc xét xử phúc thẩm do Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án đó tiến hành. Cụ thể là Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu) xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện (Tòa án quân sự khu vực) chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Còn Tòa án nhân dân tối cao (các Toà phúc thẩm) xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự Trung ương xét xử phúc thẩm đối với các bản án, quyết định của Tòa án quân sự cấp quân khu chưa có hiệu lực pháp luật và bị kháng cáo, kháng nghị.

3. Chủ thể có quyền kháng cáo: Do tính chất và đối tượng của xét xử phúc thẩm nên chủ thể có quyền kháng cáo rất đa dạng. Đó là những người tham gia tố tụng như bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ; người bào chữa của những người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần; nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Việc Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định người bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần là một điểm mới (1).

Ngoài ra, người được Tòa án tuyên là không có tội có quyền kháng cáo phần lý do bản án sơ thẩm đã tuyên là họ không có tội.

Phạm vi kháng cáo của những người này tuỳ thuộc vào vai trò, địa vị pháp lý, tư cách trong tố tụng và sự liên quan của bản án, quyết định sơ thẩm đối với quyền và lợi ích của họ.

Chủ thể có quyền kháng nghị bao gồm Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ

thẩm và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, khi các cơ quan này thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Việc quy định cả Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền hạn này nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án. Tuy nhiên, việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận nếu có lý do chính đáng (ví dụ: những trường hợp bất khả kháng) và Tòa án xét xử phúc thẩm sẽ xét đơn kháng cáo quá hạn với Hội đồng gồm 3 Thẩm phán mà không phải mở phiên toà.

4. Về phạm vi xét xử phúc thẩm

Về nguyên tắc, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xét xử lại vụ án trong phạm vi nội dung kháng cáo, kháng nghị. Các phần khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị sẽ có hiệu lực pháp luật sau khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, trong quá trình xét xử nếu thấy cần thiết, Tòa án phúc thẩm có thể xem xét cả những phần khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị tại phiên toà thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ.

5. Về thẩm quyền cua Tòa án cấp phúc thẩm

Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 vẫn quy định thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm như trước đây, đó là: Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm; sửa bản án sơ thẩm; huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại; huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Đồng thời, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 cũng có những quy định cụ thể, chi tiết hơn trong từng trường hợp cụ thể.

3. Những vấn đề đặt ra cho thủ tục xét xử phúc thẩm trong cải cách tư pháp

3.1. Những vướng mắc

- Vướng mắc đầu tiên đó là quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục phúc thẩm chưa thật rõ ràng, việc hướng dẫn và giải thích chưa kịp thời. Điều đó dẫn đến nhận thức khác nhau về tính chất, quy trình, phạm vi, quyền hạn của tòa phúc thẩm. Ví dụ việc Tòa án cấp phúc thẩm có thể xử bị cáo theo tội danh nặng hơn; quyền của Tòa án cấp phúc thẩm quyết định chuyển từ hình phạt tù được hưởng án treo sang hình phạt tù giam; các căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm hủy án trong một số trường hợp như không có kháng cáo, kháng nghị, hủy án do vi phạm thủ tục tố tụng.

- Chất lượng xét xử phúc thẩm chưa cao. Một số bản án phúc thẩm bị Tòa án cấp giám đốc thẩm hủy để điều tra lại và xét xử lại. (Ví dụ, Tòa án nhân dân tối cao qua xét xử giám đốc thẩm năm 2002 đã hủy để điều tra lại và xét xử lại 62,21% số vụ án, năm 2007 lả 55,93%, do sai lầm về định tội danh, áp dụng hình phạt quá nhẹ, áp dụng không đúng chế định án treo, có nhiều vi phạm nghiêm trọng tố tụng hình sự...) (2)

Số lượng vụ án tồn đọng của cấp phúc thẩm khá nhiều. Nguyên nhân là do Thẩm phán quá tải, bình quân 1 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao 1 năm xử khoảng 200 vụ phúc thẩm(3). Ngoài ra, tổ chức của các Tòa Phúc thẩm thuộc Tòa án nhân dân tối cao hiện đang có nhiều vấn đề bất hợp lý cần được nghiên cứu đổi mới. Hiện nay ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam đều đang có một Tòa Phúc thẩm thuộc Tòa án nhân dân tối cao có trụ sở tại Hà Nội, Đà Năng và thành phố Hồ Chí Minh. Mỗi Tòa Phúc thẩm đảm nhận một địa bàn xét xử phúc thẩm trên phạm vi lớn, thậm chí đến gần 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Vì nhiều lý do khác nhau, mỗi đợt xét xử phúc thẩm tại các địa phương thường kéo dài trong nhiều ngày, nhiều trường hợp phải hoãn phiên tòa, mất thời gian, công sức trong việc đi lại và tổ chức các phiên tòa lưu động, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả hoạt động xét xử phúc thẩm. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự tồn đọng án phúc thẩm ở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao trong thời gian qua.

3.2. Những  vấn đề đặt ra trong lĩnh vực xét xử phúc thẩm

Những đòi hỏi của cải cách tư pháp cần được đáp ứng bằng việc thực hiện một loạt nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án như nguyên tắc độc lập xét xử, nguyên tắc hai cấp xét xử, việc xét xử của Tòa án có Hội thẩm tham gia, khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán; nguyên tắc Tòa án xét xử công khai; nguyên tắc quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm; nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội..., trong đó, nguyên tắc hai cấp xét xử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, chi phối và tác động mạnh đến xét xử phúc thẩm.

Về mặt lý thuyết, phúc thẩm hình sự cần được nhìn nhận từ các khía cạnh khác nhau: Là một giai đoạn của tố tụng hình sự; là một chế định pháp luật; là một thủ tục tố tụng.

khía cạnh là một thủ tục tố tụng, đã có cách hiểu thống nhất trong giới nghiên cứu trong pháp luật và trong thực tiễn, đó là hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm. Tuy nhiên, theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện nay về thủ tục giám đốc thẩm, thì trên thực tế, hoạt động giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án vẫn được coi là một "cấp" xét xử. Bởi lẽ, một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực lại có thể được giám đốc lại một số lần (Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Toà chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Điều này không những trái với nguyên tắc hai cấp xét xử mà còn tạo ra nhận thức không đúng trong xã hội, đó là một khi chưa đưa vụ việc ra tới Tòa án nhân dân tối cao hoặc thậm chí cấp cao hơn nữa (Chủ tịch nước, Quốc hội, v.v.) thì vụ việc coi như vẫn chưa chấm dứt. Nhận thức đó là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng khiếu nại không có căn cứ, không thi hành bản án dù đã có hiệu lực pháp luật để tiếp tục theo kiện. Thêm vào đó, việc giải quyết một vụ án qua nhiều cấp giám đốc thẩm gây tốn kém thời gian và các nguồn lực của Nhà nước, của xã hội.

Về khía cạnh tổ chức, hiện nay vẫn còn những ý kiến tranh luận xung quanh vấn đề xây dựng các Tòa án trên cơ sở nguyên tắc hai cấp xét xử. Một số ý kiến cho rằng nên xây dựng các Tòa án theo hướng mỗi cấp Tòa án là một cấp xét xử (sẽ có các Tòa án sơ thẩm và các Tòa án phúc thẩm), còn Tòa án nhân dân tối cao đứng trên toàn bộ hệ thống. Loại ý kiến này lập luận rằng tổ chức Tòa án theo phương thức trên sẽ đơn giản hóa được hệ thống, tách biệt rõ ràng thẩm quyền của mỗi Tòa án. Tuy nhiên một khó khăn mà phương án này vấp phải là với trình độ hiện nay, Thẩm phán ở các Tòa án cấp sơ thẩm dường như chưa đảm đương nổi nhiệm vụ xét xử các vụ án nghiêm trọng, phức tạp. Loại ý kiến khác cho rằng vẫn nên giữ nguyên các Tòa án với sự phân cấp  thẩm quyền như hiện nay vì ngay cả ở những nước áp dụng triệt để nguyên tắc hai cấp xét xử trên thế giới, việc tổ chức các Tòa án thành 3 hay 4 cấp cũng vẫn là điều bình thường.

Như vậy, trong cải cách tư pháp, cần phân định lại thẩm quyền xét xử giữa Tòa án các cấp và tổ chức hệ thống Tòa án theo nguyên tắc hai cấp xét xử.

Việc phân định lại thẩm quyền xét xử giữa Tòa án các cấp hiện nay phải tiếp tục theo hướng đảm bảo Tòa án mỗi cấp chủ yếu thực hiện một thẩm quyền xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm, hạn chế tiến tới chấm dứt tình trạng một Tòa án thực hiện cả thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, biến giám đốc thẩm từ một thủ tục đặc biệt trở thành cấp xét xử thứ 3 và thuộc thẩm quyền của nhiều cấp Tòa án dẫn đến tố tụng lòng vòng, không có điểm dừng.

Cần tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử không phụ thuộc hoàn toàn vào địa hạt hành chính, theo đó, hệ thống Tòa án sẽ bao gồm các toà sơ thẩm khu vực, các Tòa án phúc thẩm, các toà thượng thẩm và Tòa án nhân dân tối cao. Kết hợp với tinh thần phân cấp mạnh mẽ trong cải cách hành chính, thẩm quyền xét xử sơ thẩm cần được giao chủ yếu cho Tòa án cấp thấp nhất trong hệ thống Tòa án; thẩm quyền xét xử phúc thẩm chủ yếu thuộc về Tòa án cấp thứ hai.

Cụ thể mô hình tổ chức của hệ thống Tòa án cần được thiết kế như sau:

- Tòa án sơ thẩm có thẩm quyền xét xử sơ thẩm hầu hết các vụ án hình sự. Các Tòa án sơ thẩm được tổ chức theo khu vực, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính (cấp huyện). Các tiêu chí làm căn cứ thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực là địa bàn, dân cư giao thông, số lượng các vụ án trong một năm phải xét xử của mỗi Tòa án, trong đó yếu tố số lượng vụ án xét xử hàng năm là tiêu chuẩn chính.

- Tòa phúc thẩm (tương đương Tòa án cấp tỉnh hiện nay) có thẩm quyền chủ yếu xét xử lần thứ hai các bản án do Tòa án sơ thẩm xử lần đầu nhưng bị kháng cáo, kháng nghị; đồng thời Toà phúc thẩm cũng có thẩm quyền xử lần đầu một số ít vụ án đặc biệt phức tạp, nghiêm trọng.

- Tòa thượng thẩm khu vực/miền (thay cho các Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao hiện nay) thực hiện chức năng xét xử phúc thẩm các vụ án do Toà phúc thẩm xử lần đầu nhưng bản án bị kháng cáo, kháng nghị. Các Toà thượng thẩm cũng được tổ chức theo khu vực/miền không phụ thuộc vào đơn vị hành chính lãnh thổ, có thể theo hướng được thành lập ở các trung tâm miền như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ hoặc ở một vài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác có vị trí địa lý trung tâm của khu vực tuỳ theo nhu cầu thực tiễn (4).

- Tòa án nhân dân tối cao chủ yếu thực hiện hướng dẫn đường lối xét xử và áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ; là toà duy nhất có thẩm quyền xét xử theo thủ tục đặc biệt (giám đốc thẩm, tái thẩm) đôi với một số ít bản án do các Tòa án cấp dưới xử đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị.

Cách tổ chức Tòa án theo hướng này sẽ khắc phục được những bất cập trước mắt như: việc đầu tư cán bộ, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc có trọng điểm hơn; điều chỉnh được sự quá tải của các Tòa án quận ở các thành phố lớn hoặc tình trạng quá ít công việc của các Tòa án cấp huyện ở nhiều địa bàn nông thôn, miền núi. Mặt khác, xét về lâu dài, cách tổ chức này là một trong những biện pháp quan trọng bảo đảm cho Tòa án độc lập trong hoạt động xét xử.

Một số kiến nghị cụ thể:

- Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án, điều này sẽ không phù hợp khi thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực, Tòa phúc thẩm, Tòa thượng thẩm vả Tòa án nhân dân tối cao như Nghị quyết 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề cập vì lúc đó không còn tổ chức Tòa án theo đơn vị hành chính như hiện nay. Do đó, khái niệm phúc thẩm cần có sự điều chỉnh lại theo bản chất của các quan hệ tố tụng, thay vì các quan hệ hành chính bên cạnh các quan hệ tố tụng như hiện nay.

Quy định về thủ tục tố tụng phúc thẩm hiện nay còn chung chung, nhất là cách thức tiến hành phiên tòa. Điều 247 quy định "phiên tòa phúc thẩm cũng tiến hành như phiên tòa sơ thẩm" và chỉ quy định thêm là trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xử phải trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung của kháng cáo hoặc kháng nghị. Khi tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Việc quy định như thế rất khó thực hiện, vì phải xác định rõ các quy định cụ thể nào về thủ tục phiên tòa bắt buộc phải áp dụng khi xét xử phúc thẩm, bởi có những hoạt động tố tụng chỉ có ở phiên tòa sơ thẩm mà không có ở phiên tòa phúc thẩm. Cho nên, việc tuân thủ trình tự thủ tục xét xử phúc thẩm, về cơ bản cũng chỉ là vận dụng trên cơ sở các quy trình đã có về thủ tục xét xử sơ thẩm, đó là điều bất hợp lý khi tổ chức phiên tòa phúc thẩm, dễ dẫn đến các thiếu sót về thủ tục. Do vậy, cần sửa đổi, bổ sung Điều 247 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng quy định chi tiết hơn về thủ tục và trình tự phiên tòa phúc thẩm hình sự.

- Hoàn thiện các quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân theo hướng thành lập các Tòa án gồm: Tòa án sơ thẩm khu vực; Tòa phúc thẩm; Tòa thượng thẩm, Tòa án nhân dân tối cao. Tương ứng với nó là tổ chức cơ quan Viện kiểm sát, cơ quan điều tra cho phù hợp.

- Tăng cường giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao về thủ tục tố tụng nói chung, trong đó có thủ tục phúc thầm hình sự.

Bổ sung điều luật riêng quy định về các vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự làm căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

- Nghiên cứu bổ sung thủ tục xét xử phúc thẩm theo thủ tục bút lục trong một số trường hợp đặc biệt./.



1  Th.S. Đinh Văn Quế, Thủ tục phúc thẩm trong 1uật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.11.

 2  Vũ Gia Lâm, Luận án tiến sĩ luật học, Nguyên tắc hai cấp xét xứ trong tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hả Nội, 2008, tr. 109.

 

3  Vũ Gia Lâm, tài liệu đã dẫn, tr.111.

4  Chúng tôi không đồng ý với ý kiến của tác giả Hoàng Mạnh Hùng cho rằng các Tòa Phúc thẩm thuộc Tòa án nhân dân tối cao và Viện Phúc thẩm khu vực thuộc Viện Kiềm sát nhân dân tối cao cẩn được tổ chức lại. Đề giải quyết kịp thời các vụ án hình sự có kháng cáo, kháng nghị, mỗi Tòa Phúc thẩm cần có thẩm quyền phúc thẩm trong phạm vi 5 tinh, thành phố trực thuộc trung ương, Xem Hoàng Mạnh Hùng, Website Luật Việt, 27.9.2010.


 Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp - kinh nghiệm CHLB Đức” do Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Quỹ Hợp tác quốc tế về pháp luật CHLB Đức phối hợp tổ chức ngày 9-10/6/2011 tại Hà Nội.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi