Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam (Kỳ 2)

TS. Nguyễn Đức Mai - Thẩm phán Tòa án Quân sự Trung ương

1.3.4. Chức năng xét xử và vai trò của Toà án trong tranh tụng

Theo pháp luật của các nước thuộc hệ thống pháp luật án lệ, thì quá trình TTHS chỉ bắt đầu từ thời điểm xét xử vụ án tại phiên toà và được tiến hành dưới hình thức tranh tụng giữa bên buộc tội (đại diện là Công tố viên) và bên bào chữa (đại diộn là luật sư bào chữa) trước Toà án (gồm Thẩm phán và Bồi thẩm đoàn) làm trọng tài phân xử. Đây là sự chia sẻ quyền lực giữa Công tố viên, Luật sư bào chữa, thẩm phán và Bồi thẩm đoàn[i]. Như vậy, chức năng xét xử chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất là Toà án và chỉ có thể được thực hiện ở tại phiên toà. Toà án có trách nhiệm giám sát, kiểm tra và bảo đảm sự bình đẳng và các điều kiện cần thiết khác để các bên tiến hành tranh tụng một cách khách quan, toàn diện và công bằng về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án làm cơ sở cho Toà án ra phán quyết để kết thúc quá trình tranh tụng của hai bên về vụ án.

So với chức năng buộc tội và chức năng bào chữa, chức năng xét xử xuất hiện muộn hơn rất nhiều và được thực hiện thông qua các Thẩm phán chuyên nghiệp và không chuyên (Bồi thẩm). Khác với chế định Hội thẩm ở một số nước thuộc hệ tố tụng thẩm vấn (theo đó Hội thẩm là những nguời không chuyên nghiệp đại diện cho nhân dân để tham gia xét xử. Khi xét xử Thẩm phán và các Hội thẩm đều có quyền ngang nhau và cùng quyết định tất cả các vấn đề về vụ án), ở các nước thuộc hệ tố tụng tranh tụng (như: Anh, Mỹ, Canađa, Ôxtrâylia,...) áp dụng chế định bồi thẩm cho phép những công dân bình thuừng với sự hiểu biết pháp luật ở mức tối thiểu tham gia xét xử các vụ án hình sự. Bồi thẩm đoàn chỉ có nhiệm vụ xác định bị cáo có tội hay không có tội, còn việc áp dụng pháp luật và hình phạt đối với bị cáo thuộc thẩm quyền của Thẩm phán chuyên nghiệp.

Với vai trò là người trọng tài "cầm trịch” giữa hai bên, trước khi phiên toà bắt đầu, Thẩm phán và các Bồi thẩm không hề có một tài liệu, hồ sơ gì trong tay, vì vậy họ không biết gì về vụ án ngoài cái tên gọi của nó. Thẩm phán có nhiệm vụ duy trì trật tự phiên toà và giám sát quá trình tranh tụng giữa hai bên, còn vai trò của Bồi thẩm đoàn tại phiên toà giống như "những khán giả” ngồi trong nhà hát. Họ hầu như bị tách ra khỏi phiên toà và chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là quan sát quá trình tranh cãi gay gắt giữa bên buộc tội (đại diện là Công tố viên) và bên bào chữa (đại diện là luật sư bào chữa) cho đến khi vào phòng nghị án để quyết định vấn đề bị cáo có tội hay không có tội. Mặc dù pháp luật của các nuớc đều quy định cho Toà án có quyền thẩm vấn các người làm chứng, bị cáo, nhưng trên thực tế hầu như chẳng bao giờ Thẩm phán hoặc các Bồi thẩm đoàn sử dụng quyền hạn này. Bồi thẩm đoàn chỉ có một nhiệm vụ là xác định sự kiện: Xem bị cáo có tội hay không có tội? Nếu đại đa số các bồi thẩm xác định bị cáo không có tội thì anh ta được tuyên vô tội (trắng án). Nếu bồi thẩm đoàn xác định bị cáo có tội thì Thẩm phán sẽ có trách nhiệm áp dụng điều khoản cụ thể của pháp luật để xác định bị cáo phạm tội gì, loại hình phạt nào và mức hình phạt cụ thể Trước khi đưa vụ án ra xét xử, trách nhiệm tìm kiếm, thu thập các chứng cứ, tài liệu về các tình tiết của vụ án do bên buộc tội và bên bào chữa độc lập tiến hành. Tại phiên toà, các bên có nhiệm vụ xuất trình các chứng cứ, tài liệu về vụ án, kiểm tra chéo nhau để khẳng định hay bác bỏ chứng cứ của nhau trước sự giám sát của Toà án. Kết quả xét xử vụ án tại phiên toà "ai thắng, ai thua” chủ yếu phụ thuộc vào trình độ, năng lực chuyên môn và nghệ thuật của Công tố viên và của luật sư bào chữa. Mặt tích cực của thủ tục xét xử này là phát huy được tính tích cực, chủ động của các bên, bảo đảm được sự bình đẳng về hình thức giữa hai bên trong quá trình tranh tụng. Nhưng mặt khác, nó làm cho vai trò của Toà án quá thụ động và chức năng xét xử bị hạn chế, nên không phải trong mọi trường hợp đều bảo đảm đạt được mục đích đặt ra của TTHS là xác định sự thật về vụ án và tất nhiên sẽ có người vô tội bị oan hoặc kẻ phạm tội thoát khỏi sự trừng phạt.[ii]

Theo pháp luật của các nước thuộc hệ thống luật lục địa, thì vai trò của Toà án và chức năng xét xử trong tố tụng nói chung, và trong tranh tụng nói riêng được đề cao. Toà án không chỉ là trọng tài mà còn tích cực tham gia vào quá trình chứng minh bị cáo có tội hay không có tội. Pháp luật đã đặt hầu như toàn bộ trách nhiệm lên vai HĐXX, còn bên buộc tội hoặc bên bào chữa chỉ tham gia vào quá trình chứng minh ở mức độ hạn chế. Điều đó không chỉ đã dẫn đến tình trạng Toà án "lấn sân” của bên buộc tội hoặc của bên bào chữa, dẫn đến sự "quá tải” đối với HĐXX và sự "quá nhàn” đối với các bên mà còn hạn chế Toà án trong việc thực hiện chức năng xét xử, không phát huy được tính chủ động, tích cực của các bên tranh tụng, kết quả giải quyết vụ án chủ yếu phụ thuộc vào HĐXX, vì vậy các phán quyết về vụ án có thể không bảo đảm tính khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác.

Chức năng xét xử của Toà án quyết định các nhiệm vụ cụ thể của Toà án trong các hoạt động của mình. Bởi vậy, Toà án không thể và không được thực hiện các nhiệm vụ không thuộc về chức năng tố tụng của mình. Khi thực hiện chức năng xét xử, Toà án có trách nhiệm phải làm sáng tỏ tất cả các tình tiết của vụ án (bao gồm cả các tình tiết buộc tội, các tình tiết gỡ tội hoặc giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo) nhưng không phải để buộc tội hay bào chữa đối với bị cáo mà nhằm thực hiện chức năng xét xử - xác định sự thật khách quan và ra quyết định đúng đắn về vụ án. Nếu Toà án tham gia thục hiện cả chức năng buộc tội hoặc chức năng bào chữa thì vai trò trọng tài, người cầm trịch giữa hai bên sẽ mất đi và Toà án sẽ trở thành một công tố viên hay một luật sư "thứ hai” trong tranh tụng. Điều đó sẽ dẫn đến sự bất bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa và mục đích xác định sự thật về vụ án không thể đạt được: "Trong phiên toà hình sự, thì quan toà, chưởng lý và trạng sư bào chữa được kết hợp vào một con người. Sự kết hợp này mâu thuẫn với tất cả những quy luật cùa khoa tâm lý học”[iii].

Với vai trò là trọng tài giữa bên buộc tội và bên bào chữa, Toà án phải có thái độ vô tư, khách quan và công minh. Các thành viên HĐXX phải quan tâm ở mức độ như nhau đối vói tất cả những nguời tham gia phiên toà (Công tố viên, luật sư bào chữa, bị cáo, người bị hại,..) và có thái độ khách quan, không thiên vị đối với các chứng cứ, các yêu cầu, đề nghị của các bên đưa ra cũng như đối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật dành cho họ. Toà án khồng được phép định kiến đối với bất cứ bên nào và cũng không thể bị ràng buộc bởi bất cứ một yêu cầu, đề nghị hoặc ý kiến của bất kỳ ai: "Đối với quan toà, thì không có cấp trên nào khác ngoài luật pháp[iv].

2. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔ HÌNH Tố TỤNG Ở VIỆT NAM

2.1.Nhu cầu và một số định hướng hoàn thiện mô hình tố tụng ở Việt Nam

2.1.1.Những bất cập, vướng mắctồn tại trong thực tiễn tranh tụng tại phiên toà ở nước ta

Chủ truơng mở rộng và nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49- NQ/TW của Bộ Chính trị là hoàn toàn đúng đắn nhằm bảo đảm việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luât. Đây là một đòi hỏi cấp bách nhằm khắc phục những bất cập, vuớng mắc và tồn tại trong thực tiễn tranh tụng tại các phiên toà hình sự ở nước ta và cũng là nhu cầu tất yếu của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế nhằm bảo vệ ngày càng có hiệu quả hơn quyền con nguời trong lĩnh vực đặc thù này. Theo Báo cáo sơ kết 04 năm thựe hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW, thì bên cạnh những kết quả đạt đuợc, ở "Nhiều địa phuơng việc thục hiện chủ trương mở rộng tranh tụng còn mang tính hình thức, chưa đáp ứng được yêu cầu ià các bản án, phán quyết của Toà án chủ yếu phải dựa trên kết quả tranh tụng dân chủ tại phiên toà”[v]. Những bất cập, vướng mắc và tồn tại trong thục tiễn xét xử các vụ án hình sự thể hiện ở một số điểm cơ bản sau đây:

1) Đội ngũ Thẩm phán các cấp nhiều người chưa được chuẩn bị đầy đủ về kỹ năng nghề nghiệp theo yêu cầu cải cách tư pháp, chưa kịp thời đổi mới tư duy và phương pháp công tác nên việc thực hiện chức năng xét xử tại phiên toà vẫn theo "nếp cũ”. Mặt khác, do cơ chế làm việc, sự hạn chế về trình độ nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ Thẩm phán nên nguyên tắc "Khi xét xử Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” chưa có tính khả thi cao trên thực tế. Việc xét hỏi tại phiên toà chưa thực sự đổi mới theo tinh thần cải cách tư pháp của Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW mà chủ yếu vẫn do HĐXX (chủ toạ phiên toà) thực hiện nên chưa phát huy được vai trò tích cực, chủ động của Kiểm sát viên, luật sư và những nguời tham gia tố tụng khác trong xét hỏi và tranh luận tại phiên toà để làm sáng tỏ các tình tiết, các chứng cứ, tài liệu về vụ án. Trong nhiều phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa còn lúng túng trong xử lý tình huống, chưa chủ động điều khiển quá trình tranh luận, đối đáp của các bên, nhất là đối với các vụ án có đông bị cáo và nhiều luật sư tham gia nên mặc dù thời gian tranh luận kéo dài nhưng chất luợng luận tội và bào chữa không cao, việc tranh luận, đối đáp của các bên không đi vào trọng tâm các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

2) Trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của một số Kiểm sát viên còn hạn chế nên không phát hiện kịp thời các vi phạm tố tụng trong giai đoạn điều tra. Việc xét hỏi và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà vẫn là khâu yếu ở cấp sơ thẩm (nhất ở cấp huyện). Hiện nay, một số Kiểm sát viên vẫn có quan niệm không đúng cho rằng, việc xét hỏi tại phiên toà là trách nhiệm của HĐXX, còn Kiểm sát viên chỉ có nhiệm vụ bảo vệ cáo trạng và kiểm sát việc tuân theo pháp luật, nên không tích cực tham gia xét hỏi; nội dung xét hỏi trùng lặp với nội dung đã được HĐXX xét hỏi; việc đưa ra chứng cứ, lập luận bảo vệ quan điểm truy tố trong nhiều vụ án chưa có sức thuyết phục, chất lượng luận tội và đối đáp còn hạn chế, lúng túng trước các tình huống phát sinh tại phiên tòa. Một số Kiểm sát viên còn có tâm lý ngại tranh luận với luật sư, thái độ thiếu bình tĩnh, tự tin, xử lý tình huống phát sinh tại phiên tòa lúng túng hoặc né tránh các vấn đề, các tình tiết của vụ án cần tranh luận làm sáng tỏ tại phiên toà.

3) Đội ngũ luật sư ở nước ta vừa thiếu về số lượng, một số còn hạn chế về trình độ nghiệp vụ, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng nên chưa nhận thức đúng về vai trò, vị trí của mình là một bên trong tranh tụng, chưa bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích của công dân. Nhận thức pháp luật của các tầng lớp nhàn dân nói chung và của

4) Đội ngũ luật sư ở nước ta vừa thiếu về số lượng, một số còn hạn chế về trình độ nghiệp vụ, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng nên chưa nhận thức đúng về vai trò, vị trí của mình là một bên trong tranh tụng, chưa bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích của công dân. Nhận thức pháp luật của các tầng lớp nhàn dân nói chung và của bị can, bị cáo và gia đình họ về vai trò, vị trí của luật sư trong TTHS còn nhiều hạn chế. Vì vậy, trong thực tiễn số vụ án hình sự xét xử có luật sư tham gia phiên toà không nhiều15. Trong khi đó các dịch vụ pháp lý miễn phí cho bị can, bị cáo ở nước ta mới được triển khai, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Mặt khác, việc nhận thức của công dân về quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng không đúng và đầy đủ lại không được các cơ quan tiến hành tố tụng hướng dẫn, giải thích nên các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ không được thực hiện đầy đủ

Từ việc nghiên cứu mô hình tố tụng của một số nước trên thế giới, các đặc điểm của tố tụng tranh tụng và những tồn tại, bất cập, vướng mắc trong thực tiễn tranh tụng tại các phiên toà hình sự ở nước ta cho thấy việc chuyển mô hình tố tụng hiện hành ở nuớc ta sang hẳn mô hình tranh tụng là một công việc cực kỳ khó khăn và phức tạp. Chúng tôi cho rằng mô hình tố tụng bán tranh tụng theo hướng kết họp một số yếu tố hợp lý của tố tụng tranh tụng vào tố tụng thẩm vấn truyền thống đang được áp dụng ở các nước (như: Pháp, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản,...) là kinh nghiêm quý để chúng ta có thể xây dựng mô hình tố tụng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội, với truyền thống lịch sử - văn hoá và các điều kiện, hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam. Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần chọn lọc có căn cứ khoa học những nội dung (yếu tố) họp lý của tố tụng tranh tụng để bổ sung vào mô hình tố tụng của nước ta, vừa bảo đảm tập họp đầy đủ nhất các chứng cứ về vụ án, vừa tìm ra sự thật một cách chính xác nhất mà vẫn tôn trọng được quyền của các bên.

2.1.2. Một số định hướng hoàn thiện mô hình tố tụng ở Việt Nam

Chúng tôi cho rằng việc hoàn thiện mô hình tố tụng ở Việt Nam phải được tiến hành đồng bộ trên cơ sở đổi mới toàn diện tư duy nhận thức của chúng ta về lĩnh vực tư pháp hình sự Trước hết phải xuất phát từ quan điểm dù tư pháp hình sự ở các nước được tổ chức với các mô hình rất khác (tố tụng thẳm vấn, tố tụng tranh tụng hay tố tụng kết họp), thì trong TTHS luôn tồn tại ba chức năng cơ bản (buộc tội, bào chữa và xét xử) do ba nhóm chủ thể tuơng ứng (bên buộc tội, bên bào chữa và Toà án) thực hiện. Do đó, tranh tụng là một nguyên tắc quan trọng, nguyên tắc đặc trưng của hoạt động tư pháp và là đặc trưng nổi bật nhất của tư pháp hình sự16. Việc ghi nhận nguyên tắc tranh tụng hoàn toàn không đồng nhất với mô hình tố tụng tranh tụng (như đã đề cập ở trên). Vì vậy, theo chúng tôi việc hoàn thiện mô hình tố tụng ở Việt Nam cần được tiến hành theo các định hướng cơ bản sau đây:

1) Chuyển mô hình tố tụng thẩm vấn ở nước ta sang mô hình bán tranh tụng trên cơ sở xây dựng BLTTHS mới (thay thế BLTTHS hiện hành). Trong Bộ luật này cần ghi nhận tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản của TTHS, đồng thời sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc và các chế định khác của TTHS cho phù họp với nội dung của nguyên tắc này.

Trên cơ sở BLTTHS (mới), cần tiến hành hoàn thiện đồng bộ các quy định pháp luật khác có liên quan về chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án và các cơ quan bổ trợ tư pháp (tổ chức luật sư, trợ giúp pháp lý, giám định tư pháp,...).

2) Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp, đặc biệt là hệ thống Viện kiểm sát;

3) Tăng cuờng công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Luật sư, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng;

4) Bảo đảm các điều kiện khác (cơ sở vật chất và trang bị kỹ thuật của các cơ quan pháp luật; chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên;...) để nâng cao tính khả thi trên thực tế của mô hình tố tụng mới.

2.2. Một số giải pháp về hoàn thiện mô hình tố tụng Việt Nam

2.2.1. Hoàn thiện các quy định của BLTTHS hiện hành

Hoàn thiện các quy định của BLTTHS hiện hành bằng cách ban hành BLTTHS mới là giải pháp đầu tiên mang tính quyết định vì đây là cơ sở pháp lý để có thể tiến hành một cách đồng bộ các giải pháp khác về hoàn thiện mô hình tố tụng ở nuức ta. Bộ luật này cần được xây dựng theo hướng sau:

- Trước hết cần ghi nhận tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản của TTHS, đồng thời sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc khác của TTHS cho phù hợp với nội dung của nguyên tắc này.

- Việc phân định các chủ thể tham gia vào quá trình TTHS cần được tiến hành theo chức năng tố tụng mà các chủ thể này tham gia thục hiện thành các nhóm: Các chủ thể thuộc bên buộc tội; các chủ thể thuộc bên bào chữa; Toà án và các chủ thể tham gia tố tụng khác. Đồng thời xác định đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của các thể này phù hợp với chức năng của họ;

- Các chế định về chứng cứ, về các biện pháp ngăn chặn; khởi tố vụ án, điều tra vụ án,... cần được xây dựng lại cho phù hợp với các nguyên tắc mới và chế định mới về chủ thể tham gia tố tụng.

- Các quy định về trình tự, thủ tục xét xử tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm,... cần được thiết kế lại theo hướng xác định vai trò trọng tài của Toà án; trách nhiệm chứng minh được phân đều cho các bên buộc tội và bào chữa; trình tự, thủ tục xem xét chứng cứ, tài liệu về vụ án và tranh luận tại phiên toà cần được thay đổi;...

Nội dung các quy định của BLTTHS hiện hành cần được hoàn thiện cụ thể như sau:

* Về các nguyên tắc của BLTTHS:

1) Điều 19: Quy định tại Điều luật này cần sửa đổi, bổ sung theo huớng ghi nhận đầy đủ nội dung nguyên tắc tranh tụng với tư cách là một trong các nguyên tắc cơ bản của TTHS với nội dung cụ thể như sau:

"Điều... Tranh tụng giữa các bên

1. Các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử vụ án hình sự là độc lập với nhau.

2. Toà án thực hiện chức năng xét xử và tạo những điều kiện cần thiết để các bên buộc tội và bào chữa thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

3. Bên buộc tội và bên bào chữa bình đẳng trước Toà án”.

2) Điều 23: Quy định tại Điều luật này cần sửa đổi bổ sung theo huớng tổ chức lại Viện kiểm sát thành Viện công tố, xác định chức năng duy nhất của Viện công tố trong TTHS là thực hành quyền công tố, đồng thời quy định Viện công tố vẫn có quyền kiến nghị, kháng nghị đối với các phán quyết của Toà án. Theo hướng này, cần bỏ khoản 1 và khoản 2 và cụm từ "và kiểm sát việc tuân theo pháp luật” ở khoản 3. Nội dung (sửa đổi, bổ sung) của Điều luật này sẽ như sau:

"Điều... Thực hành quyền công tố?

Viện công tố thục hành quyền công tố trong TTHS, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Toà án nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội”.

* Các quy định về chủ thể tham gia tố tụng: Các quy định tại Chương III và Chuơng IV BLTTHS hiện hành cần sửa đổi bổ sung theo hướng;

1) Phân các chủ thể theo chức năng tố tụng mà họ thực hiện thành bốn nhóm sau:

- Toà án (bao gồm các chủ thể thực hiện chức năng xét xử): Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm);

- Bên buộc tội (bao gồm các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội): Thủ trưởng Cơ quan điều tra (Điều ưa viên); Viện công tố (Công tố viên); nguời bị hại; tư tố viên; nguyên đơn dân sự và người đại diện của người bị hại, nguyên đơn dân sự;

- Bên bào chữa (bao gồm các chủ thể thực hiện chức năng bào chửa): Người bị tình nghi; bị can, bị cáo; người đại diện họp pháp của bị can, bị cáo chưa thành niên; nguời bào chữa; bị đơn dân sự và người đại diện của bị đơn dân sự.

- Các chủ thể tham gia tố tụng khác bao gồm: Người làm chứng; người giám định; nhà chuyên môn; người phiên dịch và nguời chứng kiến.

2) Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể (Toà án, các bên,...) cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng xác định đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của từng chủ thể cho phù hợp với chức năng của họ trong TTHS để bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên trong tranh tụng.

3) Cần quy định cụ thể về hình thức phiên toà hình sự (vị trí của HĐXX, Công tố viên, ỉuật sư (bào chữa hoặc bảo vệ quyền lợi cho đuơng sự) và thư ký Toà án theo sơ đồ sau:


                Hội đồng xét xử

 

          Thư ký Tòa án

 

 

Công tố

 viên

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người bào

chữa

Các bị cáo

 

 

 

 

 

 

 

 

* Về các quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm, phúc thẩm:

1) Điều 185: Quy định tại Điều luật này cần sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định các Thẳm phán chiếm đa số trong HĐXX với nội dung cụ thể như sau: "Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và một Hội thẩm. Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, thì HĐXX có thể gồm ba thẩm phán và hai hội thẩm”.

2) Điều 13 và Điều 104: Quy định tại các điều luật này (về nhiệm vụ, quyền hạn của Toà án) cần sửa đổi, bổ sung theo huớng bỏ quyền khởi tố vụ án hình sự của Toà án.

3) Các quy định của BLTTHS hiện hành (về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐXX và các bên) cần sửa đổi, bổ sung theo hướng chuyển trách nhiệm chính trong xét hỏi cho bên buộc tội và bên bào chữa. Việc xét hỏi của HĐXX chỉ mang tính chất bổ sung, hỗ trợ cho các bên trong trường họp cần thiết để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án mà vì ỉý do nào đó các bên buộc tội và bào chữa không làm rõ được. Cụ thể như sau:

- Điều 207: Quy định tại khoản 1 cần sửa đổi, bổ sung theo huớng xác định trách nhiệm chúng minh tại phiên toà thuộc về các bên. Trình tự xét hỏi tại khoản 2 cũng cần thay đổi cho phù hợp với chức năng của các bên và HĐXX; khoản 3 Điều 209 chuyển thành khoản 3 của Điều 207 và khoản 3 của Điều này sẽ là khoản 4. Như vậy, nội dung (sửa đổi) tại Điều 207 sẽ như sau:

"Điều... Trình tự xét hỏi

1. Tại phiên toà phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án thông qua việc xét hỏi và kiểm tra các chứng cứ, tài liệu về vụ án của các bên và Hội đồng xét xử.

2. Khi xét hỏi từng người, công tố viên hỏi trước rồi đến người bào chữa, sau đó đến người bảo vệ quyền lợi của đuơng sự. Những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định. Chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội đồng xét xử có th hỏi bất kỳ ở thời điếm nào về các tình tiết của vụ án mà các bên chưa làm sáng tỏ hoặc có mâu thuẫn.

3. Công tố viên hỏi về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội bị cáo. Người bào chữa hỏi về những tình tiết liên quan đến việc bào chữa, người bảo vệ quyền lợi cùa đưong sự hỏi về những tình tiết liên quan đến việc bảo vệ quyền lọi của đương sự. Những người tham gia phiên toà có quyền đề nghị với chủ toạ phiên toà hôi thêm về những tình tiết liên quan đến họ.

4. Những vật chứng có liên quan trong vụ án được xem xét trong quá trình xét hỏi”.

4) Điều 208: Quy định tại Điều luật này cần sửa đổi bổ sung như sau:

"Điều

1. Nếu người được xét hỏi có mặt tại phiên tòa thì không được nhắc hoặc công bố lời khai của họ tại Cơ quan điều tra truức khi họ khai tại phiên tòa về những tình tiết của vụ án.

2. Hội đồng xét xử và Công tố viên chỉ được công bố lời khai tại cơ quan đièu tra trong những trường hợp sau đây:

a) Lời khai của nguời đuợc xét hỏi tại phiên tòa có mâu thuẫn vói lời khai của họ tại Cơ quan điều tra;

b) Người được xét hỏi không khai tại phiên

tòa;

c) Người đuợc xét hỏi vắng mặt hoặc đa chết”.

5) Điều 209: Quy định tại Điều luật này cần sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều...

1. Các bị cáo đuợc hỏi riêng từng người. Nếu lời khai của bị cáo này có thể ảnh hưởng đến lời khai của bị cáo khác thì chủ tọa phiên tòa phải cách ly họ. Trong trường hợp này, bị cáo bị cách ly được thông báo lại nội dung lời khai của bị cáo trước và có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo đó.

2. B cáo trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án. Hội đồng xét xử hỏi thêm về những điểm mà bị cáơ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.

3. Nếu bị cáo khổng trả lời các câu hỏi đặt ra thì việc xét hỏi được tiếp tục đối với những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án”.

6) Điều 210: Quy định tại Điều luật này cần sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều...

Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người đó trình bày về những tình tiết của vụ án có liên quan đến họ. Sau đó Công tố viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và Hội đồng xét xử hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn”.

7) Điều 211: Quy định tại Điều luật cần sửa đổi bổ sung theo hướng chuyển khoản 3 của Điều này lên thành khoản 3 của Điều 207. Thay cụm từ "Hội đồng xét xử phải” bằng cụm từ "người làm chứng được” ở khoản 1 và bỏ cụm từ "Hội đồng xét xử” ở khoản 2. Nội dung (sửa đổi bổ sung) tại Điều luật này cụ thể như sau:

"Điều...

1. Người làm chứng được hỏi riêng từng người và không để cho những người làm chứng khác biết được nội dung xét hỏi đó.

2. Khi hỏi người làm chứng phải hỏi rõ về quan hệ...”

8) Điều 217: Quy định tại Điều luật này cần sửa đổi bổ sung theo hướng khoản 2 và khoản 3 của Điều này chuyển vị trí cho nhau. Mặt khác, cũng cần bổ sung quyền bào chữa của đại diện hợp pháp của bị cáo. Vì vậy, quy định tại khoản 3 (sửa đổi) của Điều luật này sẽ như sau:

"…………..

3. Bị cáo trình bày lời bào chữa. Nếu bị cáo có người bào chữa và đại diện hợp pháp, thì sau khi những nguời này trình bày lời bào chữa, bị cáo có quyền bào chữa bổ sung”.

9) Điều 218(về trình tự phát biểu khi đối đáp): cần bổ sung cụm từ "theo trình tự quy định tại Điều 217 Bộ luật nàyvào sau cụm từ "đề nghị của mình”. Nội dung (sửa đối) của Điều luật này sẽ như sau:

"Điều...

Bị cáo, nguời bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về luận tội của công tố viên và đưa ra đề nghị của mình theo trình tự quy định tại Điều 217 Bộ luật này. Công tố viên phải đua ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến”.

Cùng với việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS hiện hành, cần tiến hành đồng bộ việc hoàn thiện các quy định pháp luật khác có liên quan về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp và các cơ quan bổ trợ tư pháp.

2.2.2.Đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo mô hình tố tụng kết hợp

Mô hình tố tụng phụ thuộc rất lớn vào tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Vì vậy, việc hoàn thiện mô hình tố tụng ở nước ta không thể tách rời với việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung, trong đó việc xác định đúng chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát (Viện công tố) là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng.

Ở nước ta hoạt động điều ưa tội phạm do cơ quan Công an và một số cơ quan khác thục hiện, còn Viện kiểm sát thực hiện việc kiểm sát hoạt động điều tra và thực hiện chức năng buộc tội. Đây chính là khâu bất hợp lý trong tổ chức bộ máy của cơ quan tư pháp nuớc ta và là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự kém hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Thực tiễn cho thấy chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong TTHS không được xác định rõ ràng, cụ thể và vuợt quá khả năng thực tế, nên có nhiều bất cập, vướng mắc, không đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay. Chúng tôi cho rằng, cần thiết phải tái thành lập hệ thống Viện công tố thay thế hệ thống Viện kiểm sát hiện nay và Viện công tố chỉ thực hiện chức năng duy nhất là thực hành quyền công tố đúng như tên gọi của nó. Điều tra và thực hành quyền công tố là hai công đoạn gắn chặt với nhau, trong đó điều tra là khâu đầu tiên nhưng là một nội dung của chức năng thực hành quyền công tố. Hai khâu này nên giao cho cùng một chủ thể thực hiện sẽ hiệu quả hơn và bảo đảm việc truy tố kịp thời, chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Pháp luật cần quy định chức năng, nhiệm vụ của Viện công tố theo hướng giao cho Công tố viên nhiệm vụ trực tiếp tiến hành các hoạt động cần thiết để điều tra tội phạm và tổ chức, chỉ huy hoạt động điều tra của cảnh sát. Để thực hiện chức năng công tố, Viện công tố có các nhiệm vụ sau đây:

- Trực tiếp tiến hành các hoạt động cần thiết để điều tra tội phạm;

- Chỉ huy hoạt động điều tra của cảnh sát và các cơ quan điều tra khác; phê chuẩn việc bắt giữ, việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can;

- Truy tố (hoặc không truy tố bị can) trước Toà án và thực hành quyền công tố tại phiên tòa để bảo vệ sự buộc tội và yêu cầu Tòa án áp dụng đúng pháp luật;

Ngoài ra, nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, xã hội và của công dân, Viện công tố còn thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:

- Giám sát việc thi hành án hình sự, việc giam giữ, cải tạo phạm nhân;

- Giám sát quá trình giải quyết một số vụ việc tranh chấp dân sự, thương mại, hành chính trong trường hợp cần thiết.

Về tổ chức, hệ thống Viện công tố ở Việt Nam đuợc tổ chúc ở bốn cấp tương ứng với các cấp của hệ thống TAND. Về nguyên tắc tổ chúc và hoạt động của Viện cống tố, cũng cần điều chỉnh các nguyên tắc truyền thống (như nguyên tắc tập trung thống nhất, nguyên tắc pháp chế,...) cho phù họp với chúc năng, nhiệm vụ của Viện công tố.

Ngoài hai giải pháp cơ bản nêu trên, cần tiến hành đồng bộ các giải pháp về kiện toàn hệ thống các cơ quan bổ trợ tư pháp (tổ chức luật sư, giám định tư pháp,...); tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ luật sư, giám định viên; nâng cao chất đào tạo, bồi duững trình độ nghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp cho Điều tra viên, Công tố viên, Thẩm phán, Luật sư; Bảo đảm các điều kiện khác (cơ sở vật chất và trang bị kỹ thuật của các cơ quan tư pháp; chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên;...) để nâng cao tính khả thi trên thực tế của mô hình tố tụng mới.


[i]. Bộ tư pháp, Tư pháp hình sự so sánh, Thông tin khoa học pháp lý, 1999, tr.24.

 

[ii]. Bộ tư pháp, Tư pháp hình sự so sánh, Thông tin khoa học pháp lý, Hà Nội, 1999, tr.33.

 

[iii]. C. Mác, Ph. Ănghen, Toàn tập, tập 1, tr.43 – 44.

 

[iv]. C. Mác, Ph. Ănghen, Toàn tập, tập 1, tr. 101 – 102.

 

[v]. Nguyễn Hà Thanh, Thực trạng tranh tụng hình sự trong tiến trình cải cách tư pháp, Tạp chí TAND tháng 2/2007 (số 4), tr.2.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi