Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam (Kỳ 1)

TS. Nguyễn Đức Mai - Thẩm phán Toà án quân sự Trung ương

 1. ĐẶC ĐIỂM CỦA MÔ HÌNH TỐ TỤNG TRANH TỤNG

1.1. Khái quát về một số mô hình tố tụng trên thế giới

Cũng như pháp luật, hệ thống tư pháp hình sự ở mỗi nước được tổ chức rất khác nhau tuỳ thuộc vào truyền thống lịch sử, văn hoá và trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, căn cứ vào các dấu hiệu chung nhất có thể phân thủ tục xét xử các vụ án hình sự ở các nước trên thế giới thành hai hệ tố tụng cơ bản: Tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn (xét hỏi). Cả hai hệ tố tụng này đều có mục đích cơ bản là tim ra sự thật và hoạt động theo nguyên tắc "kẻ có tội phải bị trừng phạt, người vô tội phải được tự do”. Điểm khác biệt giữa chúng là ở sự giả định về cách thức tốt nhất để tìm ra sự thật.

1.1.1. Tố tụng tranh tụng

Tố tụng tranh tụng (hình thành từ kiểu "xét xử bằng phép thử tội qua cuộc đấu”) được sử dụng đầu tiên ở nhà nước Hy Lạp cổ đại, sau đó được áp dụng ở La Mã và phổ biến sang một số nước Châu âu trong thời kỳ trung cổ (Thế kỷ 10 - 13). Ngày nay, mô hình tố tụng tranh tụng được áp dụng ở nhiều nước nhưng chủ yếu ở các nước thuộc hệ thống luật án lệ (như Mỹ, Anh, Úc, Singapo,...) với mức độ và phạm vi khác nhau tuỳ thuộc vào quan niệm và truyền thống của mỗi nước. Tuy nhiên, có thể rút ra một số đặc điểm chung của mô hình tố tụng này, cụ thể sau đây:

- Tố tụng tranh tụng cho rằng, sự thật sẽ được mở ra thông qua sự tranh luận (cuộc tranh đấu) tự do và cởi mở giữa hai bên (một bên là Nhà nước và bên kia là nguời bị buộc tội) có các dữ kiện chính xác về vụ việc. Tố tụng tranh tụng đề cao luật hình thức (thủ tục tố tụng) hơn luật nội dung (hay nói cách khác là trọng chứng hơn trọng cung). Thủ tục tố tụng tại phiên toà được thực hiện công khai, bằng miệng và tuân thủ triệt để nguyên tắc tranh tụng. Mọi chứng cứ viết (như biên bản của cảnh sát tư pháp) đều không được công nhận là chứng cứ. Bên buộc tội và bên bào chữa tham gia phiên tòa với tư cách là hai đối thủ có trách nhiệm chứng minh về sự có tội hay vô tội của bị cáo. Mỗi bên đều bình đẳng với nhau trong việc sử dụng pháp luật (đặc biệt là các quy tắc tố tụng và các quyền năng tố tụng) để có thể đạt được ưu thế của mình truức bên đối phương.

- Tố tụng tranh tụng không có giai đoạn điều tra, mọi chứng cứ hoàn toàn do các bên tự thu thập và chỉ được đưa ra tranh luận tại phiên xét xử. Bên buộc tội và bên bào chữa sử dụng quyền kiểm tra chéo đối với người làm chứng để xác định tính trung thực hay sự thiên vị trong các lời khai của họ (chỉ ra cái mà người làm chứng biết thực chứ không phải cái mà họ nghĩ rằng họ biết). Vì vậy, ngay cả các sự việc diễn ra tại phiên tòa cũng có thể được các bên dùng làm chứng cứ chống lại nhau. Mỗi bên có quyền đặt câu hỏi trực tiếp cho bên kia cũng như những người làm chứng, giám định viên,... thậm chí có quyền ngắt lời bên kia để phản bác.

- Tố tụng tranh tụng quan tâm đặc biệt đến lợi ích của các bên và đặt lọi ích của xã hội xuống hang thứ yếu; quyền lực đuợc chia xẻ cho cả công tố viên, luật sư và Thẩm phán. Trách nhiệm chứng minh được phân đều cho hai bên buộc tội và bào chữa. Tại phiên toà, Công tố viên đại diện cho Nhà nước chỉ đóng vai trò của một chủ thể thuộc bên buộc tội để thục hiện chức năng buộc tội đối với bị cáo (chứng minh tội phạm của bị cáo và những thiệt hại mà tội phạm đã gây ra cho xã hội). Luật sư bào chữa tranh luận về sự vô tội hay giảm nhẹ tội để bảo vệ thân chủ của mình về mặt pháp lý. Toà án (Thẳm phán) chỉ đóng vai trò là người trọng tài có trách nhiệm bảo đảm để các bên tuân thủ các quy tắc tố tụng. Trên cơ sở các chứng cứ đã đuợc các bên đua ra xem xét, kiểm tra tại phiên tòa, Thẩm phán đưa ra phán quyết về vụ án (mà không có trách nhiệm tìm ra sự thật, không có quyền được biết về các chứng cứ của vụ án trước khi mở phiên tòa).

- Tại phiên toà, các bên có thể sử dụng tất cả các phương tiện, phương pháp mà pháp luật cho phép để tranh tụng với nhau. Việc lựa chọn phương pháp, phương tiện cụ thể nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố (thời điểm tranh tụng, từng vụ án cụ thể, sở trường, trình độ, kỹ năng nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tiễn,... của mỗi chủ thể). Phương tiện tranh tụng mà các bên sử dụng trước hết là các chứng cứ, vật chứng được đưa ra xem xét tại phiên toà, các quy phạm pháp luật (hình sự, TTHS, dân sự, lao động,...), các giải thích pháp luật, án lệ, phân tích, lập luận và phản bác quan điểm, kết luận của bên đối phương, đồng thời đề nghị Toà án chấp nhận quan điểm của mình về hướng giải quyết các vấn đề trong vụ án.

1.1.2.Tố tụng thẩm vấn

- Thuật ngữ "tố tụng thẩm vấn” xuất phát từ tiếng Pháp "inquisitios” và được sử dụng để chỉ việc thẩm tra, thẩm vấn của các Tòa án thiên chúa giáo từ Thế kỷ thứ 13. Sau này mô hình tố tụng thẩm vấn được áp dụng phổ biến ở các nước thuộc hệ thống luật lục địa. Tố tụng thẩm vấn có một số đặc trưng cơ bản sau:

- hình tố tụng này coi trọng luật nội dung hơn luật hình thức (thủ tục tố tụng); coi trọng các chứng cứ viết (trọng cung hơn trọng chứng

- Điểm khác biệt rất lớn so với tố tụng tranh tụng).

- Đề cao vai trò tích cực, chủ động của Toà án: Thẩm phán vừa là người đưa ra quyết định điều tra vụ án; vừa là người có trách nhiệm tìm ra sự thật, là người chỉ đạo toàn bộ quá trình tố tụng, kể cả giai đoạn điều tra.

- Viện công tố có nhiều quyền hạn hơn so với trong tố tụng tranh tụng. Viện công tố có quyền chỉ đạo công tác điều tra, quyết định khởi tố. Đối với các vụ án phức tạp thì sau giai đoạn điều tra sơ bộ còn có giai đoạn thẩm cứu do một Thẩm phán điều tra đảm nhiệm. Đây là một Thẩm phán độc lập, không tham gia vào giai đoạn điều tra ban đầu và có nhiệm vụ xác định sự thật. Theo quy định của pháp luật TTHS, nhiệm vụ của Thẩm phán điều tra là làm cho sự thật được thể hiện rõ. Như vậy, các chứng cứ về vụ án (cả buộc tội và gỡ tội) đều do một Thẩm phán điều tra độc lập và khách quan thu thập.

1.1.3.Tố tụng pha trộn (bán tranh tụng)

Ngoài hai hệ tố tụng cơ bản nêu trên, trong xu hướng hội nhập quốc tế, việc tham khảo kinh nghiệm lập pháp của các nước khác để hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống tư pháp của mình nói riêng luôn được các quốc gia quan tâm. Ngày nay nhiều nước thuộc hệ thống pháp luật lục địa với hệ tố tụng thẩm vấn truyền thống đã tiếp thu và kết họp một số yếu tố họp lý của tố tụng tranh tụng vào hệ thống tố tụng của mình tạo thành hệ tố tụng pha trộn- tố tung bán tranh tụng Ví dụ: Tại Cộng hoà Pháp ngày 15/6/2000 đã ban hành "Luật về suy đoán vô tội và tăng quyền của nạn nhân” đã bổ sung một số nội dung của tố tụng tranh tụng nhằm tăng cường vai trò, quyền hạn của các bên tại phiên toà và đảm bảo tốt hơn nguyên tắc tranh tụng1, cụ thể:

- Luật sư có quyền tham gia ngay từ giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, tức là ngay khi bị can bị bắt giữ, bị tạm giam. Bị can có quyền giữ im lặng cho đến khi có mặt luật sư.

- Trong giai đoạn điều tra, các bên có quyền yêu cầu Thẩm phán điều tra thực hiện một số hoạt động mà họ thấy cần thiết. Thẩm phán điều tra không còn quyền cho tạm giam bị can, tức là không còn chức năng tài phán này như trước đây. Một loại Thẩm phán mới (phụ trách việc tạm giam và trả tự do bị can) đã được lập ra để thực hiện chức năng tài phán này.

- Trong quá trình xét xử vụ án tại phiên toà, Công tố viên và các luật sư có quyền trực tiếp đặt câu hỏi cho các bên đương sự mà không cần xin phép chủ tọa.

- Các bên có quyền đề nghị triệu tập ra toà một số lượng người làm chứng không hạn chế.

- Trình tự phát biểu tại phiên toà được thay đổi: Viện công tố được quyền phát biểu trước rồi đến luật sư của bên nguyên, tiếp theo là đến luật sư bào chữa, bị cáo.

Nhờ sự bổ sung này, hệ tố tụng thẩm vấn truyền thống của Pháp đã chuyển sang hệ tố tụng bán tranh tụng.

Từ khái quát về các mô hình tố tụng cơ bản trên thế giới, có thể rút ra nhận xét mỗi hệ tố tụng (tranh tụng và thẩm vấn) đều có những nhược điểm nhất định. Trong tố tụng tranh tụng vai trò tích cực của Thẩm phán bị hạn chế, nên sẽ tạo ra sự bất bình đẳng giữa hai bên buộc tội và bào chữa (bên nào có nhiều tiền để thuê luật sư thì có nhiều khả năng hơn để giành thắng lợi). Trong tố tụng thẩm vấn, nhược điểm này được khắc phục bởi việc điều tra vụ án do một Thẩm phán độc lập và khách quan thực hiện. Vì vậy, có ý kiến cho rằng tố tụng thẩm vấn cho phép tìm ra sự thật, còn tố tụng tranh tụng chỉ cho phép tim ra một phần sự thật mà thôi. Thủ tục tố tụng tranh tụng rất phức tạp vì các vấn đề cần giải quyết trong vụ án lẽ ra được thực hiện trong cả quá trình điều tra, nay chỉ được trình bày trong phiên toà xét

xử. Vì vậy, khi phiên tòa diễn ra thi cũng chưa có vấn đề gì có thể thực sự được khẳng định. Tố tụng thẩm vấn bị chỉ trích là không tôn trọng đầy đủ quyền của các bên, đặc biệt là bên bào chữa, vì họ không có nghĩa vụ chứng minh. Mặt khác, do các chứng cứ chủ yếu được thu thập trong giai đoạn điều tra nên người ta cho rằng tố tụng thẩm vấn đi ngược lại nguyên tắc vô tư, khách quan vì Thẩm phán dễ có định kiến trước khi diễn ra phiên toà. Vì vậy, xét ở góc độ này, việc tranh luận tại phiên tòa có thể sẽ trở thành vô nghĩa. Ngoài ra, vì có thêm giai đoạn điều tra nên tố tụng thẩm vấn thường kéo dài, mất nhiều thời gian.

1.2. Bản chất của tố tụng tranh tụng, phạm vi và nội dung tranh tụng

Bản chất của tôtụng tranh tụng Theo Từ điển Tiếng Việt, thì "tranh tụng” có nghĩa là "sự kiện cáo nhau”2 giữa hai bên (bên nguyên và bên bị) có lập trường tương phản yêu cầu Toà án phàn xử. Tranh tụng luôn gắn liền với hoạt động tài phán (ở đâu có xét xử thì ở đó có tranh tụng) và tồn tại không chỉ trong TTHS mà cả trong tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hành chính. Mặc dù tư pháp hình sự ở các nước được tổ chức rất khác nhau (tố tụng thẩm vấn hay tố tụng tranh tụng), thì phiên toà hình sự đều là cách thức tổ chức hoạt động xét xử của Toà án, là thủ tục tiến hành các hoạt động tố tụng của các bên và Toà án nhằm xác định sự thật về vụ án. Mục đích chính của tố tụng thẩm vấn là tìm ra sự thật và đạt được sự công bằng trong tố tụng (bao gồm các giai đoạn: điều tra, truy tố và xét xử). Trong khi đó mục đích của hệ tố tụng tranh tụng lại khác ở chỗ việc tìm ra sự thật chỉ bắt đầu từ giai đoạn xét xử. Mọi thông tin thu thập được trong quá trình điều tra đều chưa được xem xét cho đến khi được trình bày trước Toà. Mỗi bên sẽ trình Toà "sự thật của phía mình” và Thẩm phán cùng với bồi thẩm đoàn sẽ quyết định xem "sự thật” nào có tính thuyết phục hơn... Hệ thẩm vấn chú trọng đến khía cạnh thực tế, còn hệ tranh tụng lại đánh giá cao khía cạnh pháp lý3.

Mô hình tố tụng tranh tụng được xây dựng và vận hành trên cơ sở áp dụng triệt để nguyên tắc tranh tụng - một trong những nguyên tắc cơ bản xuyên suốt toàn bộ quá trình TTHS đồng thời là cơ sở để xây dựng mọi chế định khác của TTHS (như: Phân loại các chủ thể tham gia tranh tụng; quyền hạn và nghĩa vụ của các chủ thể; thủ tục xétxửtại phiên toà;...). Nguyên tắc này bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:

- Tranh tụng giữa bên buộc tội và bên bào chửa là cơ sở vận hành của TTHS;

- Chức năng buộc tội, gỡ tội (bào chữa) và xét xử là độc lập với nhau và do các chủ thể khác nhau thực hiện;

- Tòa án giữ vai trò trọng tài trung lập và có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện cần thiết để các bên buộc tội và bào chữa thực hiện chức năng của mình;

- Bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trước Tòa án.

Về bản chất, quá trình tranh tụng tại phiên toà là cuộc điều tra và tranh luận công khai giữa hai bên nhằm xác định sự thật khách quan làm cơ sở để Toà án ra phán quyết về vụ án. Quá trình này có một số đặc điểm sau đây:

- Đây là cuộc điều tra công khai với sự tham gia đầy đủ của các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên gỡ tội và những nguời tham gia tố tụng khác dưới sự điều khiển của chủ toạ phiên toà và giám sát của HĐXX. Tại đây các chứng cứ, tài liệu về vụ án được các chủ thể của.các bên và HĐXX kiểm tra, đánh giá công khai trên cơ sở các quy định của pháp luật.

- Hoạt động tranh tụng được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, phức tạp và bị hạn chế về mặt không gian (chỉ có thể thực hiện tại phiên toà) và thời gian (trong thời gian diễn ra phiên toà) do pháp luật quy định;

- Trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu đã được kiểm tra, xác minh tại phiên toà và quan điểm của các bên về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án, Toà án xác định sự thật khách quan và ra phán quyết về vụ án.

- Kết quả tranh tụng về vụ án được thể hiện bằng phán quyết (bản án hoặc quyết định) của HĐXX. Phán quyết của Toà án là hình thức pháp lỷ ghi nhận kết quả tranh tụng giữa bên buộc tội và bên bào chữa về vụ án.

-Quá trình tranh tụng tại phiên toà diễn ra ở những mức độ với các hình thức khác nhau. Trong giai đoạn điều tra công khai tại phiên toà, hoạt động tranh tụng giữa các bên diễn ra ở mức độ thấp (mang tính chất cảm tính). Thông qua việc xét hỏi trực tiếp đối vói bị cáo, những người làm chứng, xem xét vật chứng..., bên buộc tội và bên bào chữa tiến hành kiểm tra chéo và đánh giá các chứng cứ mà các bên đưa ra tại phiên toà nhằm xác định tính hợp pháp và độ tin cậy của chúng, xác nhận có hay không có sự kiện này, tình tiết kia của vụ án làm cơ sở để đưa ra đánh giá và quan điểm pháp lý của mình về vụ án ở phần tiếp theo.

- Phần tranh luận tại phiên toà thể hiện tập trung và rõ nét nhất hoạt động đối tụng của các bên. Dựa vào kết quả điều tra công khai tại phiên toà, các bên đưa ra đánh giá về mặt pháp lý lập luận của mình về sự tồn tại hay không tồn tại mối liên hệ khách quan giữa các sự kiện, các tình tiết của vụ án đa được kiểm tra, xác minh ở phần xét hỏi. Trên cơ sở các quy định của pháp luật (hình sự, TTHS, dân sự,...), bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra kết luân của mình nhằm khẳng định hoặc bác bỏ các nội dung buộc tội, đưa ra các yêu cầu, đề nghị cụ thể về tội danh, điều khoản, mức hình phạt... hoặc đề nghị về sự vô tội hay giảm nhẹ tội của bị cáo. Sự tranh tụng ở đây đã chuyển sang mức độ cao hơn dưới hình thức tư duy, lôgíc của các chủ thể của cả hai bên

Hai mức độ tranh tụng tại phiên toà nêu trên của hai bên buộc tội và bào chữa có mối liên hệ hữu cơ và biện chứng với nhau. Lời buộc tội của công tố viên hay lời bào chữa của luật sư chỉ có sức thuyết phục và được Toà án chấp nhận khi và chỉ khi nó dựa trên cơ sở các sự kiện, tình tiết và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, xác minh công khai tại phiên toà và chỉ ra được mối liên hệ lôgíc khách quan giữa các sự kiện, tình tiết của vụ án. Ví dụ: Để kết luận bị cáo phạm tội giết người, Công tố viên phải chỉ ra được trong hành vi của bị cáo có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội giết người, trong đó lỗi của bị cáo phải là cố ý. Ngược lại, muốn chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ tội cho thân chủ thì luật sư bào chữa phải chỉ ra được không có quan hệ nhân quả giữa giữa hành vi của bị cáo và cái chết của nạn nhân hoặc lỗi của bị cáo khi gây ra cái chết cho nạn nhân là vô ý.

1.2.2.Phạmvi tranh tụng

Tranh tụng chỉ có thể tiến hành tại phiên toà nên quá trình này bị giới hạn bởi chính phiên toà. Nó được bắt đầu từ khi khai mạc phiên toà và kết thúc sau khi Toà án công bố phấn quyết, trong đó tranh luận của các bên tại phiên toà chi là giai đoạn thể hiện đậm nét nhất, tập trung rõ nét nhất của quá trình tranh tụng giữa các bên về vụ án4. Tại phiên toà, dưới sự điều khiển và giám sát của Thẩm phán cùng vói bồi thẩm đoàn, với sự tham gia đầy đủ nhất của bên buộc tội, bên bào chữa và các chủ thể tham gia tố tụng khác (nhir. Người làm chứng, giám định viên, phiên dịch,...), cả ba chức năng cơ bản trong TTHS (buộc tội, bào chữa và xét xử) đuợc thực hiện. Toàn bộ các hoạt động tố tụng tại phiên toà được tiến hành với sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật TTHS về trình tự, thủ tục cũng như về không gian và thời gian. Đây chính là những điều kiện cần thiết để bảo đảm cho các bên và Toà án thực hiện có hiệu quả chức năng của mình nhằm đạt được mục đích đặt ra là xác định sự thật về vụ án.

Căn cứ vào nội dung hoạt động của các chủ thể tại phiên toà sơ thẩm, quá trình tranh tụng tại phiên toà được phân thành các giai đoạn sau (tương ứng với các giai đoạn xét xử vụ án tạì phiên toà):

Giai đoạn chuẩn bị tranh tụng (tương ứng với phần chuẩn bị của phiên toà): Đây là giai đoạn Toà án và các bên tiến hành các thủ tục cần thiết để chuẩn bị cho các hoạt động tranh tụng ở các giai đoạn tiếp theo.

- Giai đoạn kiểm tra chứng cứ, tài liệu về vụ án (tương ứng với phần điều tra công khai tại phiên toà): ở giai đoạn này, dưới sự điều khiển và giám sát của HĐXX, các bên tiến hành kiểm tra chéo lời khai của những người làm chứng, các tài liệu về vụ án mà các bên xuất trình trước Toà.

- Giai đoạn tranh luận giữa các bên (tương ứng với phần tranh luận tại phiên toà): Đây là giai đoạn trung tâm, là đỉnh điểm của quá trình tranh tụng. Tại đây, trên cơ sở phân tích các chứng cứ, tài liệu về vụ án (đã được kiểm tra, xác minh ở giai đoạn điều tra công khai tại phiên toà) và viện dẫn các quy phạm pháp luật cần thiết, bên buộc tội và bên bào chữa đua ra sự đánh giá pháp lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo và quan điểm của mình về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận hay bác bỏ.

- Giai đoạn đánh giá kết quả tranh tụng (tương ứng với phần nghị án): Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ quá trình tranh tụng vì đây là giai đoạn mà Toà án (HĐXX) thực hiện chức năng xét xử - ra phán quyết (chấp nhận hoặc bác bỏ quan điểm của các bên) về vụ án.

- Giai đoạn công bố kết quả tranh tụng (tương ứng với phần tuyên án cồng khai): HĐXX công bố công khai phán quyết về vụ án và kết thúc quá trình tranh tụng giữa các bên.

1.2.3.Nội dung tranh tụng

Về mặt nội dung, quá trình tranh tụng tại phiên toà chính là quá trình chứng minh tính có căn cứ và hợp pháp nội dung buộc tội đối với bị cáo. Mọi hoạt động của các chủ thể diễn ra tại phiên toà đều xoay quanh các nội dung của quyết định truy tố (cáo trạng) - cơ sở pháp lý tồn tại của giai đoạn xét xử và cũng là trung tâm chi phối toàn bộ hoạt động của các chủ thể thuộc bên buộc tội và bên bào chữa ở giai đoạn này.

Thực chất đây ỉà quá trình kiểm tra tính xác thực và họp pháp của các chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập mà Viện công tố đã dựa vào đó để buộc tội đối với bị cáo. Tại đây toàn bộ các chứng cứ về vụ án hình sự (đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như được các bên xuất trình tại phiên toà) được kiểm tra về tính họp pháp, tính liên quan và khách quan thông qua hoạt động của các chủ thể và của HĐXX nhằm xác định sự thật khách quan về vụ án.

Nội dung buộc tội này cũng là cơ sở để xác định sự tham gia của các chủ thể tại phiên toà cũng như giói hạn, nội dung mà các bên cần chứng minh trong quá trình tranh tụng tại phiên toà để làm cơ sở cho Toà án ra phán quyết về vụ án:

- Có hành vi phạm tội xảy ra hay không? thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội?

- Ai là người thực hiện hành vi phạm tội? có lỗi hay không có lỗi? do cố ý hay vô ý? có năng lực TNHS hay không?

- Mục đích, động cơ phạm tội?

- Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;

- Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

1.3.Địa vị pháp lý và chức năng của các chủ thể trong tố tụng tranh tụng

1.3.1. Các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng

Như đã đề cập ở trên, hệ tố tụng tranh tụng được xây dựng và vận hành trên cơ sở áp dụng triệt để nguyên tắc tranh tụng. Theo nguyên tắc này thì trong TTHS luôn tồn tại ba chức năng cơ bản là buộc tội, bào chữa và xét xử. Ba chức năng này đan quyện qua lại với nhau và trong sự thống nhất của mình, chúng bảo đảm cho việc giải quyết vụ án. Mỗi chức năng tồn tại, vận động vì sự tồn tại và vận động của hai chức năng kia5. Thiếu một trong ba chức năng nêu trên, tranh tụng trong TTHS sẽ không còn đầy đủ ý nghĩa của nó.

-Tuy nhiên, các chức năng này không xuất hiện đồng thời. So với chức năng xét xử, thì chức năng buộc tội và chức năng bào chữa xuất hiện sớm hơn, song song tồn tại và đối trọng với nhau trong suốt quá trình tố tụng. Khi một nguời bị bắt, bị áp dựng biện pháp tạm giữ hoặc khi một người bị khởi tố với tư cách là bị can thì trong TTHS đồng thời xuất hiện chức năng buộc tội và chức năng bào chữa. Chính từ thời điểm này mới xuất hiện sự tranh tụng giữa bên buộc tội và bên bào chữa6. Chức năng buộc tội và chức năng bào chữa luôn đối lập nhau và các chủ thể tham gia thực hiện hai chức năng này tạo thành hai bên đối tụng: Bên buộc tội và bên bào chữa. Còn chức năng xét xử do chủ thể duy nhất là Toà án thực hiện (thông qua HĐXX, Thẩm phán, Bồi thẩm). Ngoài ra, còn có các chủ thể khác được triệu tập tham gia vào quá trình tranh tụng tại phiên toà. Các chủ thể này không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan trong vụ án và cũng không tham gia vào việc thực hiện chức năng buộc tội, bào chữa hay xét xử. Nhiệm vụ của họ là giúp cho Toà án và các bên thực hiện chức năng của mình trong tranh tụng nhằm xác định sự thật về vụ án.

-Như vậy, chúng ta có thể thấy giữa hai mô hình tố tụng có sự khác nhau rất lớn về sự phân loại các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự. Trong hệ tố tụng thẩm vấn các chủ thể tham gia vào quá trình TTHS đuực phân thành hai nhóm (không phụ thuộc vào chúc năng tố tụng mà chủ thể tham gia thực hiện):

1-) Các chủ thể tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện cồng tố hay Viện Kiểm sát, Công tố viên; Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm hay Bồi thẩm;

2-) Các chủ thể tham gia tố tụng bao gồm: Bị can, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người giám định, người phiên dịch, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;...

Trong hệ tố tụng tranh tụng, do có sự phân định rõ ràng giữa các chức năng cơ bản trong

TTHS trên cơ sở nguyên tắc tranh tụng nên các chủ thể tham gia vào quá trinh TTHS được phân thành bốn nhóm (theo chức năng mà họ tham gia thực hiện):

1. Bên buộc tộibao gồm các chủ thể tham gia thực hiện chức năng buộc tội: Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện công tố hay Viện kiểm sát, Công tố viên hay Kiểm sát viên, người bị hại, nguyên đơn dân sự và người đại diện hợp pháp (người bảo vệ quyền lợi) của họ.

2. Bên bào chữabao gồm các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa: Người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo, người bị kết án, nguời bào chữa, bị đơn dân sự và người đại diện họp pháp (nguời bảo vệ quyền lợi) của họ. Các chủ thể này tạo thành bên đối lập với bên buộc tội;

3. Toà án(thông qua HĐXX, Thảm phán, Bồi thẳm) là chủ thể duy nhất thục hiện chúc năng xét xử. Đây là chủ thể giữ vai trò trọng tài đứng giữa bên buộc tội và bên bào chữa để phàn xử.

4. Các chủ thể tham gia tố tụng khác gồm thư ký phiên toà, người làm chứng, giám định viên, người phiên dịch, đại diện các cơ quan, đoàn thể hay tổ chức xã hội.

1.3.2.Chức năng buộc tội

Buộc tội trong TTHS bao gồm hai nội dung: Buộc tội nhân danh Nhà nước (quyền công tố) và buộc tội nhân danh cá nhân (quyền tư tố). Buộc tội nhân danh Nhà nước là nội dung chủ yếu của chức năng buộc tội, nó giữ vai trò chi phối và quyết định đối với toàn bộ quá trình TTHS. Quyền công tố chỉ có thể do cơ quan Nhà nước và những người có thẩm quyền (Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện công tố và Công tố viên) thực hiện ở những mức độ và phạm vi khác nhau, trong đó Viện công tố và Công tố viên có một vị trí đặc biệt quan trọng, giữ vai trò quyết định đối với quá trình TTHS. Nhiệm vụ chủ yếu của các chủ thể này là thu thập các chứng cứ, tài liệu nhằm xác định rõ người thực hiện hành vi phạm tội, lỗi của bị can để truy tố ra trước Toà án. Hoạt động buộc tội của các chủ thể này được thể hiện dưới các hình thức khác nhau: Quyết định khởi tố bị can, kết luận điều tra, áp dụng biện pháp ngăn chặn, quyết định truy tố, thực hiện việc luận tội tại phiên toà, kháng nghị bản án theo các trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm,... Khi thực hiện chức năng buộc tội, ngoài các chứng cứ buộc tội, các chủ thể này còn phải thu thập cả các chứng cứ gỡ tội hoặc giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo. Điều đó không có nghĩa là các chủ thể này đồng thời thực hiện cả ba chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử mà là để bảo đảm xác định sự thật khách quan về vụ án và xử lý đúng pháp luật đối với người phạm tội7.

Quyền tư tố do người bị hại, nguyên đơn dân sự, người đại diện hợp pháp hay người bảo vệ quyền lợi cho họ thực hiện. Tuy nhiên, các chủ thể này chỉ giữ vai trò hỗ trợ, giúp sức cho các Cơ quan điều tra, Viện công tố trong việc thực hiện chức năng buộc tội bằng cách thu thập, cung cấp các chứng cứ chứng minh về hành vi phạm tội, lỗi của bị can, bị cáo, đưa ra các yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần, tham gia tranh luân tại phiên toà, kháng cáo bản án nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích của mình. Trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật (đối với các vụ án tư tố - những vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại), quyền tư tố có ý nghĩa quyết định đối với quá trình TTHS: trong mọi trường hợp khi người bị hại rút yêu cầu, thì vụ án phải được đình chỉ.

Theo quy định pháp luật của các nước thuộc hệ tố tụng tranh tụng, thì Viện công tố chỉ có một chức năng duy nhất là thực hành quyền công tố. Ngoài ra, theo quy định của pháp luật, thì Viện công tố vẫn có quyền kháng nghị theo các thủ tục phúc thẩm hay phá án bảo đảm để pháp luật được tuân thủ nghiêm minh nhưng đây chỉ là một nhiệm vụ trong chức năng buộc tội mà không phải là một chức năng độc lập (như chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp ở một số nước theo hệ tố tụng thẩm vấn) của Viện công tố.

1.3.3.Chức năng bào chữa

Chức năng bào chữa trong TTHS xuất hiện đồng thời với chức năng buộc tội, như một phản ứng tự nhiên của con người nhằm chống lại sự buộc tội "khi nào các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo có khả năng bị vi phạm khi đó họ có quyền bào chữa”8. Quyền bào chữa chỉ thuộc về người bị buộc tội.

Về mặt lý luận, bào chữa là tổng thể các hoạt động tố tụng của bị can, bị cáo và các chủ thể khác nhằm bác bỏ sự buộc tội, khẳng định sự vô tội hay giảm nhẹ tội đối vói bị can, bị cáo. Sự buộc tội bao giờ cũng nhằm vào một nguời cụ thể và được thể hiện ở những múc độ khác nhau: Bị tình nghi là người phạm tội, bị áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam, bị khỏi tố bị can, bị truy tố,... Quyền bào chữa không chỉ thuộc về bị catì, bị cáo mà còn thuộc cả về người bị tình nghi, nguời bị kết án và nguời được tuyên là vô tội.

Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là một trong những chế định hết sức quan trọng của pháp luật TTHS của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Bảo đảm quyền bào chữa cũng là một trong những nguyên tắc của pháp luật quốc tế và được Hiến pháp và pháp luật TTHS của các nước ghi nhận. Điều 12 Hiến pháp 1992 của Việt Nam quy định: "Quyền bào chữa của bị can, bị cáo được bảo đảm. Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình...

Quyền bào chữa của bị can, bị cáo gồm hai yếu tố: tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Sự tham gia của người bào chữa (chủ yếu là các luật sư) vào quá trình TTHS tnrớc hết nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích họp pháp của bị can, bị cáo; hạn chế đuợc sự vi phạm tố tụng (như: Ép cung, mớm cung, dùng nhục hình,...) từ phía các chủ thể có thẩm quyền của bên buộc tội. Mặt khác, đây còn là một trong các điều kiện cần thiết để bảo đảm sự bình đẳng trên thực tế giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong tranh tụng. Vì vậy, bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong mọi truờng họp truy cứu TNHS luồn là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong pháp luật cũng như trong ý thức của người dân ở các nước theo hệ tố tụng tranh tụng. Trên thực tế quyền bào chữa của bị can, bị cáo ở các nước này được bảo đảm nhờ có đội ngũ luật sư đông đảo và luật sư là một nghề đuợc xã hội tôn trọng (so với nước theo hệ tố tụng thẩm vấn)9.

Tại phiên toà, bị cáo và người bào chữa đưa ra các chứng cứ, viện dẫn các căn cứ pháp lý và lâp luận để bác bỏ sự buộc tội, chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo; đưa ra các kết luận, yêu cầu và đề nghị cụ thể đối với HĐXX về việc tuyên bố bị cáo vô tội, xử phạt hay tha, miễn hình phạt hay TNHS đối với bị cáo,... Ngoài bị can (người bị tình nghi), bị cáo và người bào chửa, chức năng bào chữa còn do các chủ thể khác: đại diện của bị can, bị cáo, bị đơn dân sự hoặc người bảo vệ quyền lợi của họ thực hiện nhưng ở mức độ hạn chế hơn.

 1. Bộ Tư pháp, Tư pháp hình sự so sánh, Thông tin khoa học pháp lý, Hà Nội 1999, tr.33.

2. Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Khoa họchội, Hà Nội 1991, tr.1288

3. Bộ Tư pháp, Tư pháp hình sự so sánh, Thông tin khoa học pháp lý, 1999, tr. 126.

4. Từ Văn Nhũ, Đổi mói thủ tục xét xử nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà hình sự, Tạp chí TAND số 11/2002, tr.5.

5. Nguyễn Thái Phúc, Một sộ vấn đề về quyền công tố (Kỷ yếu đệ tài khoa học cấp bộ "Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của TTHS Việt Nam’’), VKSNDTC, 1995, tr.137.

6. Phạm Hồng Hải, Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb. Công an nhân dàn, Hà Nội, 1999, ừ. 34-37).

7. Có quan điểm cho rằng chức năng bào chữa không chỉ thuộc về bên bào chữa mà còn thuôc vềbên buộc tội và cơ quan xét xử (xem Phạm Hồng Hải, Sđd, tr.38).

8. Trần Văn Độ, Nguyên tắc bảo đảm ạuvền bào chữa của bi can, bi cáo.Tạp chí TAND, số 9/1992, tr.9.

9. Hoa Kỳ có hơn 300.000 luật sư hành nghê và luật sư là một trong các nghề có thu nhập cao trong xả hội. Theo quan niệm của người Mỹ thì "bệnh nhân có thể không có bác sỹ điều trị nhưng bị can, bị cáo thì phải có lụậtsưbào chữa”. Trong khi đó (năm 1994) ở Trung Quốc chỉ có hơn 70,000 luật sư và ỏ CHDCND Triều Tiên có 2.820 luật sư.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi