Kiến nghị hoàn thiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự

Phạm Xuân Khoa - Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

Bộ luật tố tụng hình sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004. Đây là một Bộ luật thể hiện bước phát triển mới về tư tưởng và kỹ thuật lập pháp hình sự ở nước ta. Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đi vào cuộc sống và đã phát huy được vai trò của nó trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật đã phát sinh nhiều thiếu sót gây khó khăn, vướng mắc cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chủ thể khác khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự. Mặt khác, do nhu cầu của một xã hội đang không ngừng phát triển và trong tiến trình cải cách tư pháp sâu rộng hiện nay việc cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam (Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự) đã và đang trở thành một vấn đề thời sự mang tính cấp bách. Từ đó, đặt ra nhu cầu cấp thiết hiện nay là cần phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật này. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin có một số ý kiến đóng góp sau:

1. Về việc hoàn thiện hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trước hết, chúng ta hiểu nguyên tắc là những điều cơ bản đã được quy định nhằm điều chỉnh mối quan hệ xã hội nào đó. Từ đó, có thể nói rằng nguyên tắc của tố tụng hình sự là những nguyên tắc cơ bản, chi phối và điều chỉnh các giai đoạn tố tụng hình sự. Hệ thống các nguyên tắc của tố tụng hình sự không chỉ có ý nghĩa là kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự trong thực tế áp dụng mà còn là tiền đề, căn cứ quan trọng để xây dụng Bộ luật tố tụng hình sự. Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, vì thế mà mọi nguyên tắc của tố tụng hình sự cũng mang đượm tư tưởng dân chủ và pháp chế. Từ những luận điểm trên chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số nguyên tắc cơ bản sau đây:

- Sửa, bổ sung nội dung nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự:

Điều 3 của BLTTHS quy định: "Mọi hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này.”.

Theo quan điểm của chúng tôi quy định như hiện tại là chưa đầy đủ, chưa thể hiện được rõ nội dung của nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự; bởi lẽ, điều luật này chỉ quy định mọi hoạt động tố tụng hình sự của các chủ thể nêu trên phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này mà không quy định cụ thể hậu quả pháp lý của việc không thực hiện các quy định đó. Chúng tôi đề xuất bổ sung thêm Điều 3 với nội dung sau:

Trong quá trình tố tụng hình sự (điều tra, truy tố, xét xử) nếu các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng vi phạm các quy định của Bộ luật này thì những chứng cứ thu thập được sẽ không được coi là hợp lệ.

Mọi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải hợp pháp, có căn cứ và phải nêu rõ lý do.

Mọi hành vi vi phạm các quy định của Bộ luật này đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

- Sửa, bổ sung nguyên tắc Bảo đảm quyền bất khả sâm phạm về thân thể, chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân bằng việc kết hợp nội dung của Điều 6 và Điều 8 của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành.

- Sửa, bổ sung Điều 13 về Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự:

Điều 13 của BLTTHS quy định: "Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội.

Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự do Bộ luật này quy định.”.

Theo quan điểm của chúng tôi quy định như vậy là chưa đầy đủ bởi lẽ ngoài Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thì vẫn còn một số cơ quan khác có trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật này. Khoản 1, Điều 104 BLTTHS quy định:

"Khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Thủ trưởng đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và Thủ trưởng các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án trong những trường hợp quy định tại Điều 111 của Bộ luật này…”.

Như vậy, Điều 13 đã bỏ quên trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự của một số cơ quan khác được quy định tại Điều 104, Điều 109 và Điều 111 của Bộ luật này. Bên cạnh đó có một số ý kiến của các nhà làm luật cho rằng nên bỏ thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án bởi lý do Tòa án là cơ quan xét xử nên việc Tòa án ra quyết định khởi tố vụ án hình sự sẽ không đảm bảo tính khách quan trong việc giải quyết vụ án và không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Tòa án (chức năng xét xử). Việc giao cho Tòa án thẩm quyền này là lấn sân sang quyền công tố của Viện kiểm sát bởi hoạt động khởi tố, điều tra cũng là một trong những nội dung của quyền công tố.

Từ những phân tích trên chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 13 như sau: "Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra theo luật định trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội.

Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự do Bộ luật này quy định.”.

- Bổ sung nguyên tắc Việc xét xử do Tòa án tiến hành với nội dung: Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử, khi xét xử Tòa án chỉ tuân theo pháp luật.

Hiện nay trước yêu cầu, nhiệm vụ cải cách tư pháp theo phương châm "Tòa án là trung tâm, hoạt động xét xử là trọng tâm” thì việc bổ sung nguyên tắc này là cần thiết.

- Bổ sung nguyên tắc Suy đoán vô tội:

Mặc dù BLTTHS hiện hành chưa ghi nhận nguyên tắc này nhưng trên thực tế nội dung của nó đã được thể hiện rõ tại các điều luật như: Điều 9, Điều 10. Như vậy, có thể hiểu nguyên tắc suy đoán vô tội với những nội dung sau:

Thứ nhất, chừng nào Tòa án chưa tuyên án và bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì bị can, bị cáo chưa bị coi là người phạm tội và Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải tạo điều kiện cho họ chứng minh gỡ tội cho mình.

Thứ hai, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Việc chứng minh tội phạm phải hợp pháp và có căn cứ, phải đảm bảo làm rõ cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội và loại bỏ, ngăn ngừa khả năng tiên liệu trước trong việc xử lý vụ án hình sự.

Thứ ba, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là minh vô tội, họ được quyền giữ im lặng.

- Bổ sung nguyên tắc Bị can, bị cáo có quyền giữ im lặng trong mọi giai đoạn tố tụng.

Có thể quy định nội dung của nguyên tắc này như sau: trong mọi giai đoạn tố tụng bị can, bị cáo có quyền giữ im lặng. Sự im lặng đó không được giải thích theo hướng bất lợi cho họ.

Đây là một trong những nguyên tắc có mối liên hệ mật thiết với quan niệm Suy đoán vô tội.

- Bổ sung nguyên tắc Tranh tụng tại Tòa án:

Nguyên tắc tranh tụng được quy định sẽ giúp quá trình tố tụng diễn ra dân chủ hơn, các quyền con người của cá nhân người phạm tội được bảo đảm; việc buộc tội, gỡ tội rõ ràng, minh bạch. Nguyên tắc này đòi hỏi chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội và chức năng xét xử phải có sự phân định rạch ròi. Với quan niệm như vậy có thể quy định nội dung nguyên tắc này như sau:

Một là,Tòa án là trung tâm của hoạt động xét xử (trọng tài). Tại phiên tòa Tòa án phải bảo đảm việc tranh luận bình đẳng giữ bên buộc tội và bên gỡ tội.

Hai là,phán quyết của Tòa án phải dựa trên kết quả đánh giá chứng cứ và việc tranh luận công khai tại phiên tòa.

Việc sửa đổi, bổ sung một số nguyên tắc cơ bản của BLTTHS là định hướng quan trọng cho việc hoàn thiện các quy định khác của Bộ luật này.

2. Về việc quy định thêm chức danh tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân trong BLTTHS.

Ngành kiểm sát nhân dân ngoài các chức danh tư pháp như Kiểm sát viên, Điều tra viên còn có chức danh Kiểm tra viên. Kiểm tra viên: "giúp Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân kiểm tra việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh doanh thương mại và những việc khác theo quy định của pháp luật; trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; thi hành các bản án: trong công tác xét khiếu tố và một số nhiệm vụ pháp lý khác do Viện trưởng phân công. Giúp lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân kiểm tra hồ sơ, hoặc trực tiếp kiểm tra các vụ án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân”. Tuy nhiên, chức danh này hiện nay chưa được quy định trong BLTTHS. Để Kiểm tra viên hoạt động có hiệu quả cần thiết phải quy định cho họ tư cách pháp lý để tham gia tố tụng hình sự và quy định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm cũng như quyền hạn của Kiểm tra viên trong BLTTHS.

Ngoài ra, để phù hợp với tình hình thực tế cần quy định thêm chức danh Trợ lý Kiểm sát viên để hỗ trợ cho Kiểm sát viên khi xử lý vụ án.Trợ lý Kiểm sát viên khi tham gia tố tụng hình sự có thể được giao những công việc như: giúp Kiểm sát viên lập hồ sơ kiểm sát điều tra án hình sự, nghiên cứu hồ sơ vụ án và đề xuất với Kiểm sát viên quan điểm giải quyết vụ án, tống đạt các quyết định, lệnh, cáo trang…

3. Về việc tiếp nhận, xử lý tin báo tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố.

Theo quan điểm của chúng tôi nên quy định Viện kiểm sát là cơ quan đầu mối tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố; bởi lẽ, Viện kiểm sát là cơ quan giữ quyền công tố nên cần phải nắm được đầu vào của tội phạm để đảm bảo mọi hành vi phạm pháp đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời. Cần quy định các cơ quan, tổ chức, Tòa án, Cơ quan điều tra khi nhận được tin báo, tố giác tội phạm phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát bằng văn bản. Viện kiểm sát có thể trực tiếp tiến hành xác minh tin báo, tố giác tội phạm hoặc đề ra yêu cầu giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và chuyển cho Cơ quan điều tra tiến hành xác minh. Trong quá trình Cơ quan điều tra giải quyết tin báo, tố giác tội phạm Viện kiểm sát phải có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Hiện nay có một vướng mắc là đối tượng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm chỉ là Cơ quan điều tra; tuy nhiên, trên thực tế Công an phường khi tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm cũng tiến hành xác minh nếu thấy có dấu hiệu tội phạm mới báo cáo Cơ quan điều tra xử lý theo thẩm quyền còn không họ sẽ xử lý hành chính. Ngoài ra, còn có một số cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra cũng tiến hành hoạt động xác minh tố giác, tin báo về tội phạm nhưng không thuộc đối tượng kiểm sát của Viện kiểm sát. Như vậy, rất khó khăn cho Viện kiểm sát trong việc nắm được tin báo, tố giác tội phạm và kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Cần có cơ chế phối hợp để Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra cùng tiến hành kiểm tra, giám sát việc tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm của Công an phường và có quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự để Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác tội phạm của các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra.

4. Về quyết định khởi tố vụ án hình sự: Chúng tôi kiến nghị nên bỏ thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử; bởi lẽ, Hội đồng xét xử chỉ nên thực hiện trách nhiệm xét xử còn việc khởi tố là của cơ quan thực hành quyền công tố. Hội đồng xét xử chỉ có quyền đề nghị Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra.

5. Sửa Điều 39 của BLTTHS theo hướng: Bỏ thẩm quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án (điểm b, khoản 2, điều 39), bởi lẽ:

Tòa án là cơ quan xét xử để đảm bảo tính khách quan trong việc xử lý vụ án không nên quy định cho Tòa án thẩm quyền này. Khi Viện kiểm sát chuyển hồ sơ truy tố bị cáo nếu thấy hồ sơ thiếu căn cứ buộc tội Tòa án vẫn phải đưa vụ án ra xét xử và ra phán quyết một cách công tâm trên cơ sở đánh giá chứng cứ và kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa. Quy định như vậy sẽ giúp cho việc đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc suy đoán vô tội (loại bỏ khả năng tiên liệu trước của Tòa án trong việc xử lý vụ án hình sự).

6. Về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa: khoản 2, điều 207 quy định: "Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự…”. Theo chúng tôi quy định như vậy là chưa hợp lý; bởi lẽ, việc xét hỏi là để làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo. Viện kiểm sát là cơ quan truy tố bị cáo ra trước tòa (thực hiện chức năng buộc tội) nên phải có trách nhiệm chính trong việc xét hỏi, sau đó người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người gỡ tội cho bị cáo xét hỏi, cuối cùng mới đến chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm tiến hành xét hỏi và chỉ hỏi những vấn đề chưa được hỏi hoặc chưa được làm rõ.

Trên đây là một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi