Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự

TS. Vũ Gia Lâm – Trường Đại học Luật Hà Nội

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, Viện kiểm sát (VKS) có hai chức năng quan trọng là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Các chức năng nói trên được VKS thực hiện trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, từ giai đoạn điều tra vụ án cho đến giai đoạn cuối cùng là thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến những vấn đề có liên quan đến việc thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong việc khởi tố vụ án hình sự, nhằm xác định thực trạng và việc thực hiện các quy định liên quan đến chức năng của VKS trong giai đoạn này.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) hiện hành, thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong khởi tố vụ án thể hiện chủ yếu trên các phương diện hoạt động cụ thể sau:

Thứ nhất, VKS trực tiếp tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và kiểm sát hoạt động kiểm tra, xác minh, giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra hoặc kiến nghị khởi tố, đảm bảo không hành vi phạm tội nào bị phát hiện không được xử lý kịp thời, đúng pháp luật.

Thứ hai, VKS kiểm sát việc ra quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra (CQĐT) và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, đảm bảo việc ra các quyết định này có căn cứ và đúng pháp luật.

Thứ ba, VKS hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án không có căn cứ và vi phạm pháp luật của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác đuợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong một số trường hợp luật định, đảm bảo việc khởi tố hoặc không khỏi tố vụ án hình sự có căn cứ, không để lọt tội phạm, không xử lý oan người không phạm tội.

Thực tiễn cho thấy, trong những năm gần đây, chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự đã ngày càng được nâng cao, hạn chế việc bỏ lọt tội phạm, người phạm tội, làm giảm đáng kể tình trạng oan, sai. Bằng hoạt động của mình, VKS đã kịp thời phát hiện và sửa chữa hoặc đề nghị khắc phục những sai lầm, vi phạm của CQĐT cũng như các cơ quan khác có thẩm quyền khởi tố.

Tuy nhiên, xét về tổng thể, vai trò kiểm soát tội phạm của VKS hiện nay chưa thực sự được bảo đảm, bởi các quy định của pháp luật tố tụng hình sự chưa đầy đủ và cơ chế đảm bảo thực hiện cũng chưa đủ đảm bảo cho các quy định đó được thực hiện, vẫn còn nhiều bất cập. Cụ thể, pháp luật tố tụng hình sự quy định thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự rất rộng (nhiều cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự như CQĐT, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, đơn vị Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân), nhưng chi quy định cho CQĐT có trách nhiệm thông báo về kết quà xử lý các nguồn tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố cho VKS khi hết thời hạn kiểm tra, xác minh và cũng chỉ thông báo kết quả giải quyết chứ không phải thông báo về số lượng vụ, việc đã phát hiện hoặc tiếp nhận. Trong khi đó, số lượng vụ, việc mà CQĐT phải kiểm tra, xác minh, xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự lại đến với cơ quan này từ nhiều nguồn, trong đó, chí có nguồn từ VKS chuyển sang là VKS có thể nắm bắt được. Theo quy định tại Điều 101 BLTTHS thì công dân có thể tố giác tội phạm tại các cơ quan tiến hành tố tụng như CQĐT, VKS, Tòa án hoặc tại các cơ quan, tổ chức khác. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc tiếp nhận tố giác về tội phạm của công dân phải báo tin ngay cho CQĐT bằng văn bản. Trường hợp VKS tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến, VKS có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho CQĐT có thẩm quyền. Trong trường hợp này, VKS nắm được về số lượng các vụ, việc được phản ánh qua các cơ sở của căn cứ để khởi tố vụ án cần phải kiểm tra, xác minh. Tuy nhiên, trong trường hợp CQĐT trực tiếp phát hiện hoặc tiếp nhận các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, CQĐT có phải thông báo cho VKS hay không thì BLTTHS lại không quy định. Do đó, thực chất VKS cũng không thể nắm được số lượng các vụ, việc mà CQĐT cần kiểm tra, xác minh để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm làm căn cứ để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Ngoài ra, các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án khác theo quy định tại Điều 104 BLT- THS như cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, đơn vị Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển, cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có thể phát hiện hoặc tiếp nhận các tố giác, tin báo về các hành vi phạm tội, thì sẽ phải xem xét, lựa chọn cách giải quyết như sau: Nếu sự việc được phát hiện hoặc tiếp nhận thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, các cơ quan này sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh theo quy định của BLTTHS để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khỏi tố vụ án hình sự; nếu sự việc được phát hiện hoặc tiếp nhận không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì chuyển cho CQĐT có thẩm quyền. Trong cả hai trường hợp này, có bao nhiêu vụ, việc các cơ quan này tiếp nhận hoặc phát hiện, tự mình kiểm tra, xác minh hoặc chuyển cho CQĐT xử lý và có phải thông báo cho VKS biết hay không thì hiện nay BLT- THS cũng không có quy định, đương nhiên là VKS không thể nắm được.

Vì vậy, thực tế cho thấy, VKS không thể nắm được có bao nhiêu tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cũng như bao nhiêu trường hợp bằng hoạt động chuyên môn của mình, CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận hoặc phát hiện được. Theo quy định hiện hành thì VKS chi có thể nắm bắt được số lượng vụ việc xảy ra khi nhận thông báo về kết quả kiểm tra, xác minh các nguồn tin về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Nhu vậy, VKS chỉ mới nắm được "phần ngọn” - phần kết quả xử lý, mà chưa nắm được "phần gốc” - phần số lượng vụ việc cần xử lý, tức là chi nắm được "đầu ra” chứ chưa nắm được "đầu vào” của tinh hình tội phạm. Điều đó cho thấy, VKS khó có thể kiểm sát được đầy đủ về số lượng các hành vi phạm tội trong thực tế và tất yếu VKS cũng không thể nắm được tình hình giải quyết cũng như cách thức giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Điều này sẽ chứa đựng nguy cơ dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm hoặc tình trạng xử lý tùy tiện không đúng luật, ít nhất cũng là không kiếm sát được về thời hạn giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm.

Theo quy định tại Điều 103 BLTTHS thì chì có CQĐT, VKS có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ các tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến; đồng thời, quy định chì CQĐT mới có nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Theo chúng tôi, quy định như vậy là chưa phù hợp và không thống nhất với các quy định khác về cơ sở để khởi tố vụ án hình sự, trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm tại Điều 100 về căn cứ khỏi tố vụ án, Điều 101 về tố giác và tin báo về tội phạm, Điều 102 về người phạm tội tự thú và một số điều luật khác của BLTTHS. Ngoài ra, BLTTHS cũng không quy định việc các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi tiếp nhận các tố giác, tin báo về tội phạm có trách nhiệm phải thông báo cho VKS có thẩm quyền biết để kiểm sát tình hình tội phạm ngay từ đầu. Vì vậy, chúng tôi đề nghị bổ sung Điều 103 BLTTHS theo hướng quy định mở rộng diện các cơ quan tiếp nhận đầy đủ và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm bao gồm: Tòa án, CQĐT, Hải quan, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển... Các cơ quan này khi tiếp nhận hoặc phát hiện sự việc có dấu hiệu của tội phạm thì cần thông báo bằng văn bản cho VKS biết.

Từ những phân tích trên, chúng tôi đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 103 BLTTHS như sau: "Điều 103. Nhiệm vụ tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

1.Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, đơn vị Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác và tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến. Tòa án, Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác và tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trong trường hợp các tố giác và tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân vẫn phải tiếp nhận và chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận tố giác và tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến hoặc phát hiện sự việc nghi có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, các cơ quan đã tiếp nhậnphát hiện phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền biết.

............

4. Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra và các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự khác đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”.

Đối với các trường hợp vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 BLTTHS, nếu người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên hoặc có nhược điểm về tâm thần, thể chất không yêu cầu khởi tố thì dù kết quả của quá trình kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm đã xác định được dấu hiệu của tội phạm, cơ quan có thẩm quyền cũng không thể ra quyết định khởi tố vụ án theo thời hạn tại Điều 103 BLTTHS. Trong trường hợp này, mặc dù cơ quan có thẩm quyền không thể ra quyết định khởi tố vụ án hình sự nhưng cũng không thể ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, vì theo quy định tại Điều 108 BLTTHS thì quyết định không khởi tố vụ án chỉ được đưa ra khi có một trong các căn cứ quy định tại Điều 107 BLTTHS"(1). Tuy nhiên, trong bảy căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 107 thì lại không có căn cứ này . Do đó, mặc nhiên trong trường hợp này, chúng ta đã chấm dứt hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm mà không ra bất cứ hình thức văn bản xử lý nào. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc VKS cũng không kiểm sát được việc các cơ quan có thẩm quyền khởi tố không đưa ra quyết định giải quyết vụ, việc đó là đúng hay sai (có hay không có căn cứ). Đồng thời, người tố giác hay báo tin về tội phạm cũng không biết được kết quả xử lý của cơ quan có thẩm quyền đối với vụ, việc mà họ đã tố giác hoặc báo tin cho các cơ quan này. Điều đó làm cho hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự trở nên thiếu minh bạch và không được kiểm sát chặt chẽ. Chúng tôi cho rằng, để có thể thực hiện đúng đắn quy định tại Điều 105 BLTTHS về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại, kiểm sát được việc áp dụng, tránh tình trạng áp dụng tùy tiện quy định này, bảo đảm pháp chế trong tố tụng hình sự, cần thiết phải bổ sung vào Điều 107 BLTTHS một căn cứ không được khởi tố vụ án là trong trường hợp vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 BLTTHS, nhưng không có yêu cầu của người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại (nếu có) thì người có thẩm quyền khởi tố phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Từ phân tích trên, chúng tôi đề xuất bổ sung Điều 107 BLTTHS như sau:

"Điều 107. Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

......

8. Không có yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên hoặc có nhược điểm về tâm thần, thể chất trong các trường hợp vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quv định tại Điều 105 Bộ luật này”.

----------------------------------------------

(1)Xem thêm Điều 108 BLTTHS quy định về Quyết định không khới tố vụ án hình sự.

(2) Điều 107 BLTTHS quy định những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự bao gồm:

1. Không có sự việc phạm tôi;

2.Hành vi không cấu thành tội phạm;

3.Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

4.Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án, quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

5.Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

6.Tội phạm đã được đại xá;

7.Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ truờng hợp cần tái thẩm đối với người khác.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi