Truy tố trong Tố tụng hình sự Việt Nam

 TS. Đỗ Văn Đương - Viện kiểm sát nhân dân tối cao

  1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới, hoàn thiện thủ tục truy tố hình sự

1.1. Một số vấn đề lý luận chung về thủ tục truy tố hình sự

Thủ tục truy tố hình sự, một trong những vấn đề căn bản của TTHS nhằm đưa vụ án ra toà để xét xử. Việc truy tố hay không truy tố bị can ra trước Tòa án không những có tác động lớn đến người phạm tội, làm cho họ nhận thức rõ được mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình gây ra và sự trừng phạt nghiêm minh của pháp luật mà còn ảnh hưởng tới tình hình trật tự, trị an của xã hội. Khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát (Viện công tố) phải cân nhắc nhiều mặt để truy tố chính xác, kịp thời, đúng pháp luật và hiệu quả. Trong lý luận hiện nay thường đề cập đến thủ tục truy tố với các nội dung như: Vị trí, vai trò, trách nhiệm và thẩm quyền của cơ quan truy tố; nguyên tắc truy tố, thời hạn truy tố và các vấn đề khác như hình thức, nội dung cáo trạng. …

Một là, về vị trí, vai trò và trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền truy tố tội phạm

Mối quan hệ giữa Nhà nước với cá nhân người phạm tội do chính hành vi phạm tội làm phát sinh ra, theo đó bất kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng quyền công tố để chống lại những hành vi gây nguy hại đến nền thống trị và những lợi ích căn bản của giai cấp đang cầm quyền, đồng thời cũng là để nhân danh xã hội duy trì trật tự công cộng. Là một trong những nội dung của quyền tư pháp, quyền công tố luôn luôn gắn liền với bản chất chính trị của từng kiểu Nhà nước và được tổ chức thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau trong lịch sử. Trong xã hội phong kiến, lúc đầu nhà Vua hoặc các quan chức hành chính đảm nhiệm luôn cả quyền tư pháp; về sau quyền tư pháp được giao cho Tòa án, những quan toà thời đó tượng trưng cho công lý vừa có quyền điều tra, quyền truy tố và quyền xét xử người phạm tội. Đến xã hội hiện đại, quyền tư pháp không còn tập trung vào quan toà mà được phân công cho các cơ quan, trong đó quyền công tố nhân danh Nhà nước đưa vụ án ra toà và buộc tội bị cáo ở các nước được giao cho Viện công tố, ở nước ta và các nước XHCN giao cho Viện kiểm sát vừa làm chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật vừa thực hành quyền công tố.

Sự phân định chức năng chuyên biệt như thế được xem là bước tiến quan trọng trong lịch sử tư pháp nhân loại, tạo ra cơ chế giám sát, chế ước nhau trong việc trừng phạt người phạm tội để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Cũng từ đây, vai trò của cơ quan công tố trở nên rất quan trọng ở hầu hết các nước trên thế giới. Khi tham gia vào quá trình giải quyết các vụ án hình sự, Kiểm sát viên (Công tố viên) là người đại diện cho công quyền truy tố tội phạm để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích cá nhân, lợi ích của cộng đồng xã hội. Tùy theo truyền thống pháp luật và đặc điểm của từng quốc gia mà thủ tục truy tố có những nét chung giống nhau đồng thời cũng mang những nét đặc thù riêng. Những nét chung giống nhau là đều nhân danh Nhà nước, nhân danh lợi ích công để truy tố người phạm tội ra tòa.

Tại các nước theo mô hình Nhà nước XHCN, cơ quan thực hành quyền công tố trực thuộc Quốc hội và độc lập với hành pháp, với Tòa án. Viện trưởng VKSND tối cao, người đứng đầu cơ quan thực hành quyền công tố được Quốc hội bầu và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Viện trưởng VKSND tối cao có quyền truy tố bất kỳ tội phạm nào ra Tòa án; có quyền rút hoặc hủy bỏ bất cứ quyết định truy tố nào của Viện trưởng Viện kiểm sát các địa phương. Các đại biểu Quốc hội nghe Viện trưởng báo cáo tình hình truy tố tội phạm và có quyền chất vấn Viện trưởng về công tác của Viện kiểm sát. Về phương diện này, Viện trưởng VKSND tối cao ở các nước XHCN có vai trò tương tự như Bộ trưởng Bộ Tư pháp ở các nước theo truyền thống Luật lục địa, người chịu trách nhiệm chính về tình hình truy tố tội phạm trước Quốc hội và cũng chịu sự chất vấn của các đại biểu Quốc hội.

Tại các nước theo truyền thống luật lục địa hay án lệ, tuy trực thuộc hành pháp nhưng Viện công tố cũng không mất đi quyền tự quyết trong việc truy tố mặc dù Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền kiểm soát đối với Viện công tố thể hiện ở quyền được đưa ra những hướng dẫn chỉ đạo chung đường lối truy tố tội phạm nhưng không có quyền can thiệp vào công việc cụ thể của Viện công tố như quyết định truy tố hoặc không truy tố một tội phạm. Viện trưởng công tố các địa phương là viên chức độc lập theo luật định và chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Tư pháp về việc thực thi đúng đắn chức năng của mình. Bộ trưởng Tư pháp thuộc Chính phủ và có trách nhiệm trả lời chất vấn trước Quốc hội về hoạt động truy tố, có quyền bác bỏ quyết định của Viện trưởng công tố nhưng hầu như chưa bao giờ được thực hiện. Bộ trưởng Tư pháp không chỉ thị cho Viện trưởng công tố quyết định cụ thể là đình chỉ vụ án hay truy tố tội phạm.

Hiện nay, khi bàn về thẩm quyền truy tố còn có ý kiến khác nhau liên quan đến vị trí và nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống Viện kiểm sát.

Loại ý kiến cho rằng, Viện kiểm sát cần tiếp tục trực thuộc Quốc hội như hiện nay để bảo đảm tính độc lập không chịu ảnh hưởng từ phía hành pháp, của chính quyền các cấp đối với hệ thống Viện kiểm sát trong truy tố hình sự, nhất là truy tố các quan chức phạm tội tham nhũng. Đồng thời, cần duy trì nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống Viện kiểm sát là tập trung lãnh đạo thống nhất trong ngành, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao, bảo đảm tính độc lập khi truy tố đối với mọi người phạm tội, bảo đảm tính thống nhất của thực thi pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và các việc làm vi phạm pháp luật.

Loại ý kiến khác cho rằng, Viện kiểm sát nên được bố trí như một cơ quan ngang Bộ và trực thuộc Chính phủ để bảo đảm sự thống nhất chỉ đạo của hành pháp trong quản lý nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm. Theo đó cần áp dụng nguyên tắc song trùng trực thuộc, Viện kiểm sát vừa chịu sự lãnh đạo của địa phương vừa chịu sự chỉ đạo của Viện kiểm sát cấp trên. Viện kiểm sát các địa phương thực hiện quyền công tố độc lập theo thẩm quyền luật định. Viện kiểm sát cấp trên không can thiệp vào công việc truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới. Viện kiểm sát tối cao chỉ hướng dẫn đường lối công tố để tăng cường tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của Viện kiểm sát địa phương trong truy tố tội phạm, khắc phục tình trạng Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, sau đó ủy quyền cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm như hiện nay.

 Trong chế độ XHCN xác định thực chất trách nhiệm của Viện trưởng và các Kiểm sát viên khi truy tố tội phạm chính là làm sao thực hiện cho được nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật để bất cứ ai, dù người đó đang giữ bất kỳ cương vị công tác nào, nếu đã có hành vi phạm tội, tất yếu phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự; ngược lại nếu có công dân nào đó bị khởi tố, bị bắt, bị giam giữ không có căn cứ và trái pháp luật, thì Viện trưởng và Kiểm sát viên phải can thiệp ngay để chấm dứt sai phạm. Thông qua đó, gắn yêu cầu bảo vệ các nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp và các đạo luật với phục vụ các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước trong từng thời gian; bảo đảm việc trừng trị gắn với giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện; đấu tranh chống tội phạm đi đôi với phòng ngừa tội phạm.

Nguyên tắc khi truy tố tội phạm, Viện kiểm sát các cấp và các Kiểm sát viên quán triệt quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng trong hoạt động nghiệp vụ, thực hiện quyền hạn đấu tranh chống tội phạm gắn với nghĩa vụ bảo vệ quyền và các lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm dân chủ đi đôi với giữ gìn kỷ cương phép nước. Do đó, khi truy tố tội phạm, Viện kiểm sát các địa phương chỉ tuân theo pháp luật và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao mà không chịu sự can thiệp của bất cứ cơ quan hành chính nhà nước nào ở địa phương. Có như vậy, việc truy tố mới mang đầy đủ ý nghĩa nhân danh lợi ích chung, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và yêu cầu tăng cường pháp chế XHCN. Đồng thời, cần tiếp tục duy trì nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành kiểm sát như quy định hiện hành ([1]). VKSND tối cao có trách nhiệm thực hành quyền công tố trên phạm vi cả nước, có quyền truy tố tội phạm ra bất cứ Tòa án cấp dưới nào. Viện kiểm sát các địa phương có thẩm quyền truy tố các tội phạm theo thẩm quyền xét xử của Tòa án địa phương cùng cấp.

Hai là, về nguyên tắc truy tố hình sự

Nguyên tắc truy tố - Nhà nước, chứ không phải cá nhân công dân có quyền và nghĩa vụ truy tố. Nguyên tắc Nhà nước truy tố, không phụ thuộc vào việc nạn nhân có muốn truy tố hay không. Chức năng này do cơ quan nhà nước (Viện kiểm sát hay Viện công tố, có nước còn giao cho Cảnh sát hoặc Hải quan truy tố đối với một số tội phạm nhất định). Kết thúc giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát (Viện công tố) phải quyết định có đưa vụ án ra toà hay không, lập văn bản chính thức và đưa vào hồ sơ vụ án. Trong quá trình ra quyết định truy tố, cơ quan Công tố viên phải đánh giá chứng cứ để xem xét về khả năng bị cáo có thể bị kết tội (tại toà) hay không. Quá trình tố tụng cũng có thể có những thiếu sót như quá thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự dẫn đến việc không thể truy tố. Có căn cứ để quyết định không truy tố tội phạm do tính chất của hành vi tội phạm và mức độ lỗi của bị cáo; nếu tội phạm ít nghiêm trọng và lỗi của bị cáo nhẹ thì Công tố viên có thể huỷ bỏ thủ tục tố tụng một cách vô điều kiện nếu lợi ích công chúng không đòi hỏi buộc phải truy tố. Khi quyết định huỷ bỏ, cả lợi ích chung và lợi ích cá nhân của bị cáo đều được cân nhắc để không ảnh hưởng đến nguyên tắc hợp pháp ([2]).

Trên thế giới hiện nay có hai nguyên tắc truy tố được vận hành chủ yếu, đó là nguyên tắc truy tố bắt buộc và nguyên tắc tuỳ nghi truy tố. Nguyên tắc truy tố bắt buộc được áp dụng ở nhiều nước theo truyền thống luật lục địa đặt ra yêu cầu khi có đầy đủ bằng chứng về hành vi phạm tội của một người nào đó, cơ quan công tố bắt buộc phải truy tố người đó ra toà (như Cộng hoà Liên Bang Đức, Việt Nam). Theo nguyên tắc truy tố bắt buộc hay truy tố theo luật, mọi hành vi đủ các yếu tố cấu thành tội phạm đều phải được chuyển sang Tòa án xét xử. Nguyên tắc truy tố này bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật, mọi người phạm tội đều phải được Tòa án xét xử nhưng là một nguyên tắc cứng nhắc "truy tố theo luật", xa rời thực tiễn, hoàn cảnh cụ thể làm phát sinh vụ án.

Trước khi có Bộ luật TTHS năm 1988, pháp luật TTHS nước ta còn có thủ tục miễn tố. Chế định miễn tố hoàn toàn khác với chế định đình chỉ vụ án. Miễn tố có nghĩa là bị can đã phạm tội và có thể đã phải chịu trách nhiệm hình sự trong giai đoạn điều tra như bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, nhưng sau khi cân nhắc các mặt như bị can phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị can có nhân thân tốt, thì không cần thiết phải đưa ra tòa xét xử. Đến Bộ luật TTHS năm 1988 và năm 2003, đã bỏ thủ tục miễn tố và quy định nguyên tắc truy tố bắt buộc, nghĩa là khi có đủ căn cứ xác định có tội phạm và bị can thì Viện kiểm sát phải làm cáo trạng truy tố tội phạm.

Nguyên tắc tuỳ nghi truy tố được áp dụng ở hầu hết các nước theo truyền thống luật án lệ và ở một số nước Châu âu lục địa cho phép Công tố viên có quyền lựa chọn truy tố tội phạm. Nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở không phải mọi hành vi phạm tội đều phải đưa ra toà do phải cân nhắc các nguồn lực và lợi ích công chúng. Thay vì truy tố tất cả, cơ quan công tố chỉ tập trung vào các tội phạm nghiêm trọng, phức tạp tuỳ theo biến động của tình hình. Khi áp dụng nguyên tắc tuỳ nghi truy tố, Viện công tố có quyền không truy tố một tội phạm ngay cả khi đủ bằng chứng phạm tội. Nhờ áp dụng nguyên tắc này mà phán quyết có tội ở các nước Cộng hoà Pháp, Nhật Bản, Vương Quốc Anh rất cao, tại Nhật Bản hơn 99%. Tại Trung Quốc, khi đã đầy đủ chứng cứ và xét thấy cần truy tố bị can ra toà thì Viện kiểm sát mới quyết định việc truy tố([3]). Việc sử dụng linh hoạt nguyên tắc quyết định truy tố hay không truy tố cho phép Viện công tố chỉ đưa ra toà xét xử những tội phạm nghiêm trọng, đình chỉ những vụ phạm tội ít nghiêm trọng, nhằm giải quyết một cách mềm dẻo vấn đề tội phạm, cân bằng giữa lợi ích công và lợi ích cá nhân.

Nếu như nguyên tắc truy tố bắt buộc (nguyên tắc “truy tố theo luật" đòi hỏi, mọi vụ việc đều phải được chuyển cho Tòa án xét xử khi xác định người đã có hành vi phạm tội), thể hiện tính công bằng và bình đẳng trong TTHS, thì nguyên tắc tuỳ nghi truy tố tuy không đạt được yêu cầu này nhưng tạo ra sự độc lập, chủ động trong hoạt động của Công tố viên và khi đó Công tố viên không thuần tuý chỉ là người áp dụng luật pháp mà còn là người đại diện cho lợi ích của công chúng trong việc hành xử công tố quyền. Nguyên tắc truy tố bắt buộc có tác dụng ngăn cản mọi sự tác động từ bên ngoài vào hoạt động của Công tố viên nhưng thường lãng phí thời gian, gây tốn kém các nguồn lực, các cơ quan tư pháp không tập trung đấu tranh chống những tội phạm nghiêm trọng, phức tạp. Nguyên tắc tuỳ nghi truy tố chịu sự can thiệp của dư luận công chúng nhưng bảo đảm hiệu quả tiết kiệm cho hệ thống tư pháp. Không sợ áp dụng nguyên tắc tuỳ nghi truy tố, cơ quan công tố sẽ lạm quyền, ở các nước áp dụng nguyên tắc này, đã có cơ chế giám sát nội tại chặt chẽ để ngăn ngừa, chế ước quyền tự quyết của Viện kiểm sát (Viện công tố). trong việc truy tố hay không truy tố một tội phạm. Nếu Cơ quan điều tra cho rằng quyết định miễn tố của Viện kiểm sát (Viện công tố) không đúng, có quyền kiến nghị với Tòa án. Tòa án sẽ tổ chức một phiên toà mở do một Thẩm phán chủ trì để nghe Kiểm sát viên (Công tố viên) lập luận các căn cứ của việc miễn tố; nếu lý lẽ không thuyết phục thì buộc Kiểm sát viên (Công tố viên) phải xem xét lại quyết định của mình như phải huỷ quyết định miễn tố và đưa vụ án ra toà; nếu đủ căn cứ thuyết phục thì Kiểm sát viên (Công tố viên) vẫn giữ nguyên quyết định miễn tố([4])

Ba là, về thời hạn truy tố và các+ thủ tục khác để đưa người phạm tội ra tòa

Thời hạn truy tố được tính từ khi Viện kiểm sát nhận hồ sơ cùng bản kết luận điều tra đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra, kết thúc khi Viện kiểm sát ra một trong ba quyết định là bản cáo trạng, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Thời hạn truy tố theo quy định hiện hành, được tính theo loại tội phạm: 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra. Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, theo quy định hiện hành, thời hạn truy tố được tính dựa trên sự phân loại tội phạm. Đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng thời hạn tối đa là 30 ngày, tội phạm rất nghiêm trọng là 45 ngày, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là 60 ngày (Điều 166 Bộ luật TTHS năm 2003).

Nghiên cứu pháp luật nước ngoài cho thấy, có nước cũng quy định thời hạn truy tố (như Trung Quốc quy định thời hạn truy tố không theo sự phân loại tội phạm mà quy định chung là một tháng, nếu vụ án phức tạp thì gia hạn thêm 15 ngày; tối đa là 45 ngày. Trong trường hợp thay đổi thẩm quyền truy tố thì thời hạn truy tế được tính lại từ đầu, do đó thời hạn tối đa là 90 ngày để bảo đảm cho Viện kiểm sát nắm chắc hồ sơ trước khi truy tố theo thẩm quyền)([5]); nhiều nước khác không quy định thời hạn truy tố mà giải pháp để đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án trong giai đoạn truy tố là tăng quyền hạn và trách nhiệm của Công tố viên.

Bốn là, về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố

Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát có quyền truy tố, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Để thực hiện việc truy tố, Viện kiểm sát có quyền áp dụng biện pháp tạm giam và tiến hành một số hoạt động điều tra khi cần thiết như hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, đối chất để kiểm tra chứng cứ, loại trừ các mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án (Điều 166 Bộ luật TTHS năm 2003).

Nghiên cứu pháp luật nước ngoài cho thấy, nhiều nước cũng quy định thẩm quyền của Viện kiểm sát (Viện công tố) như nước ta. Bộ luật TTHS Trung Quốc quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát khi thẩm tra các vụ án, khi ra các quyết định tố tụng. Ngoài nghiên cứu hồ sơ vụ án việc phúc cung bị can và lấy lời khai người bị hại là bắt buộc; Viện kiểm sát còn tự mình điều tra hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ mà không cần trả hồ sơ. Đây là bảo đảm thực tế để Viện kiểm sát nắm vững chứng cứ trước khi truy tố, khắc phục sự quan liêu thụ động. Đối với những vụ án mà Viện kiểm sát quyết định không truy tố, thì có quyền huỷ bỏ việc thu giữ hoặc phong toả tài sản trong quá trình điều tra. Nếu cần phải xử phạt hành chính người không bị truy tố hoặc cần tịch thu tài sản thu nhập bất hợp pháp của người này, Viện kiểm sát phải đề nghị và chuyển vụ án cho cơ quan có thẩm quyền xử lý. Cơ quan có thẩm quyền phải không được trì hoãn, thông báo cho Viện kiểm sát biết việc xử lý"([6]).

Năm là, về nội dung cáo trạng, quyết định truy tố bị can ra tòa

Để mở một phiên toà xét xử cần có một bản cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra tòa, trong đó xác định tội danh bị cáo và mức độ phạm tội của bị cáo.

Theo quy định hiện hành, nội dung cáo trạng gồm các nội dung sau: "l) Phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng. 2) Bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập cáo trạng; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra cáo trạng" (Điều 167 của Bộ luật TTHS năm 2003). Như vậy, nội dung bản cáo trạng trong luật TTHS nước ta không chỉ mô tả hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân bị can mà còn viện dẫn các chứng cứ xác định tội trạng của bị can.

Nghiên cứu pháp luật nước ngoài cho thấy, nhìn chung nội dung cáo trạng truy tố bị can ra tòa thường ngắn gọn, chỉ nêu họ tên bị can, hành vi phạm tội bị truy tố, thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm, hậu quả của tội phạm, nhân thân bị can và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án, điều khoản truy tố. Nội dung cáo trạng không viện dẫn chứng cứ chứng minh tội phạm([7]). Đối với các vụ án áp dụng thủ tục rút gọn chỉ ra thông báo hoặc quyết định truy tố nêu rõ họ tên bị can, hành vi phạm tội và điều, khoản áp dụng của Bộ luật hình sự.

1.2. Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn áp dụng những quy định hiện hành về thủ tục truy tố Thực hiện các nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, trong những năm gần đây Viện kiểm sát các cấp đã có nhiều cố gắng trong truy tố hình sự, góp phần giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội, góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành luật thực định trong giai đoạn truy tố còn bộc lộ những vướng mắc, bất cập sau đây:

Một là, thời hạn truy tố chủ yếu căn cứ vào sự phân loại tội phạm là chưa phù hợp. Có những vụ án thuộc loại tội ít nghiêm trọng nhưng tính chất vụ án rất phức tạp (vụ án thuộc loại tội gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích, có nhiều bị can tham gia, xảy ra vào đêm tối thường không có nhân chứng, vật chứng không thu hồi được). Việc đánh giá chứng cứ xác định vị trí vai trò của từng bị can trong vụ án thường dựa vào chứng cứ gián tiếp, dựa vào niềm tin nội tâm; thời gian luật định không đủ để hoàn thành việc truy tố. Ngược lại, rất nhiều vụ án thuộc loại tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nhưng thuộc trường hợp quả tang (giết người, cướp tài sản) chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng, hoàn toàn có thể kết thúc việc truy tố sớm hơn nhiều so với thời hạn luật định. Thời hạn 3 ngày để thực hiện việc truy tố trong những vụ án áp dụng thủ tục rút gọn không khả thi trong những trường hợp bị can tại ngoại. Đó cũng là nguyên nhân giải thích tại sao, các địa phương ít áp dụng thủ tục rút gọn, chỉ chưa đến 1 % tổng số án thụ lý, giải quyết hàng năm.

Những bất cập trên đã xảy ra tình trạng hoặc nôn nóng, sợ vi phạm thời hạn, nhanh chóng chuyển hồ sơ sang toà cho kịp thời hạn, dẫn đến hồ. sơ thiếu chứng cứ, sai sót về thủ tục tố tụng phải trả đi trả lại nhiều lần, hoặc có tư tưởng ỷ lại, kéo dài việc kết thúc truy tố, kéo dài thời hạn giải quyết vụ án.

Hai là, quy định thời hạn 3 ngày để Viện kiểm sát giao cáo trạng cho bị can thiếu khả thi, quá ngắn trong những trường hợp vụ án có nhiều bị can tại ngoại, bị can tạm giam ở nơi xa. Nhiều địa phương và trong hầu hết các vụ án phức tạp thường vi phạm thời hạn giao nhận cáo trạng. Đã xảy ra tình trạng phải biến hoá bằng cách khi giao được cáo trạng cho bị can mới ghi ngày ban hành bản cáo trạng cho phù hợp thời hạn luật định.

Ba là, theo quy định hiện hành, trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát phải ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền, rất khó thực hiện trong trường hợp vụ án phức tạp, có tổ chức, đông bị can tham gia. Đáng lưu ý hiện nay, các đơn vị nghiệp vụ thuộc VKSND tối cao còn thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra khá nhiều vụ án do Cơ quan điều tra của Bộ Công an điều tra sau đó ủy quyền cho Viện kiểm sát cấp tỉnh thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm, có tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung rất cao([8]).

Bốn là, việc kiểm tra hồ sơ chứng cứ trong giai đoạn truy tố, chất lượng còn hạn chế (phúc cung bị can, tiến hành lấy lời khai người bị hại, người làm chứng chưa hiệu quả). Điều đó có nguyên nhân chưa có quy định pháp luật về trách nhiệm của Kiểm sát viên khi nghiên cứu hồ sơ phải làm rõ những vấn đề gì trước khi đề xuất lãnh đạo ra các quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát.

Năm là, việc thực hiện quyền bào chữa của bị can trong giai đoạn truy tố hiện còn mang tính hình thức. Bị can sau khi nhận cáo trạng, ít khi trình bày ý kiến về việc buộc tội. Người bào chữa phát hiện vi phạm trong việc khởi tố, điều tra, đưa ra những bằng chứng bị can không phạm tội hoặc những tình tiết làm thay đổi khung hình phạt áp dụng truy tố, nhưng chưa được xem xét thỏa đáng, khách quan để thay đổi quan điểm truy tố. Đến phiên toà người bào chữa xuất trình chứng cứ, tranh luận, lúc đó Viện kiểm sát phải rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố hoặc đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung, gây phản ứng tiêu cực trong dư luận nhân dân.

Sáu là, phần căn cứ ban hành cáo trạng cũng như nội dung bản cáo trạng như hiện nay còn dài do phải mô tả nội dung hành vi phạm tội, viện dẫn chứng cứ, lý lịch các bị can mà trong đó nêu cả tên, tuổi những người thân thích của bị can mà họ không liên quan đến hành vi phạm tội là quá rườm rà, không cần thiết. Đồng thời, do luật quy định chưa rõ ràng, thiếu cụ thể cấu trúc bản cáo trạng nên việc xây dựng cáo trạng giữa các địa phương chưa thống nhất; có nơi liệt kê toàn bộ chứng cứ của vụ án, cổ nơi phần kết luận và phần mô tả hành vi phạm tội giống nhau. Phần nhận định, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội giữa các địa phương cũng rất khác nhau.

Bảy là, vướng mắc nhất hiện nay do điều luật không quy định rõ nội dung từng căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung, như thế nào là "thiếu chứng cứ quan trọng hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng" dẫn tới cách hiểu giữa các ngành thiếu thống nhất. Có nơi còn lạm dụng việc trả hồ sơ, thấy chưa đủ chứng cứ mà lẽ ra có thể tự mình khắc phục được hoặc chỉ là vi phạm thủ tục tuy không nghiêm trọng, vẫn trả hồ sơ, làm cho việc giải quyết vụ án kéo dài.

Tám là, thủ tục đình chỉ vụ án theo căn cứ miễn trách nhiệm hình sự tại Điều 25 của BLHS cũng còn vướng mắc, khó khăn. Chế định miễn trách nhiệm hình sự thường được áp dụng trong quá trình điều tra, truy tố khi không cần thiết phải đưa ra toà xét xử những hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng Điều 25 không quy định rõ lý do này mà chỉ nêu chung "do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa". Thực tế nhiều trường hợp thấy không cần thiết phải truy tố nhưng không dám đình chỉ, vì sợ dư luận nghi ngờ Viện kiểm sát không vô tư, tiêu cực trong giải quyết vụ án. Từ đó, những hành vi không cần truy tố vẫn truy tố chính là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ án treo còn cao trong những năm gần đây ([9]).

2. Yêu cầu đặt ra đối với việc đổi mới, hoàn thiện thủ tục truy tố

Từ thực tiễn hoạt động tố tụng, tham khảo kinh nghiệm các nước đã đặt ra nhu cầu đổi mới thủ tục truy tố theo các yêu cầu sau đây:

Một là, bảo đảm việc truy tố nhanh chóng, kịp thời, khách quan, thận trọng, không truy tố oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội trong vụ án.

Hai là, thể hiện tính minh bạch, công khai của thủ tục truy tố, bảo đảm đầy đủ quyền bào chữa của bị can. Kết hợp hài hòa giữa lợi ích công và lợi ích cá nhân để giải quyết mềm dẻo vấn đề truy tố hay không truy tố một tội phạm ra tòa.

Ba là, nâng cao chất lượng hoạt động của Viện kiểm sát trong truy tố hình sự, xác định hợp lý thời hạn truy tố, quy định rõ thẩm quyền truy tố, đổi mới hình thức và nội dung cáo trạng, nhằm tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra, nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại các phiên toà xét xử các vụ án hình sự.

3. Đề xuất đổi mới, hoàn thiện thủ tục truy tố hình sự

Để việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để Tòa án đưa vụ án ra xét xử, bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân, cần đổi mới các thủ tục truy tố theo hướng:

Thứ nhất, để nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên trong nghiên cứu hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra chuyển sang đề nghị truy tố, cần quy định những vấn đề cần được làm sáng tỏ trước khi Kiểm sát viên đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát ra các quyết định tố tụng thuộc thấm quyền.

Thứ hai, thực chất cáo trạng là bản buộc tội người phạm tội và yêu cầu phải đưa người đó ra xét xử trước Tòa án, do đó bản cáo trạng cần ngắn gọn, chỉ nêu hành vi và tội danh truy tố đặc điểm nhân thân bị can và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, không viện dẫn chứng cứ, không nêu danh tính của những người thân thích của bị can, nhằm giảm thiểu sự rườm rà không cần thiết và tiết kiệm tố tụng.

Các nội dung khác trong cáo trạng hiện nay như phân tích thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, hậu quả của tội phạm cũng như đánh giá nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án để đưa vào phần luận tội của Kiểm sát viên trước Tòa án.

Thứ ba, việc đổi mới thẩm quyền ban hành cáo trạng còn có ý kiến khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất, giao cho Kiểm sát viên giữ chức vụ Trưởng phòng hoặc Phó Trưởng phòng ở cấp tỉnh ký cáo trạng, không nên quy định cho Viện trưởng, Phó Viện trưởng. Loại ý kiến thứ hai, quy định cho phó Viện trưởng trực tiếp ký ban hành với tư cách là một chức danh tố tụng độc lập, không phải là ký thay là phù hợp với thực tế hiện nay. Loại ý kiên thứ ba, các quyết định tố tụng của Viện kiểm sát là của Viện trưởng, do đó giữ như hiện hành để bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành kiểm sát. Theo chúng tôi, luật quy định cho Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền ban hành cáo trạng, thì những người đó ký cáo trạng là phù hợp với tình hình hiện nay về tổ chức và hoạt động của ngành.

 Thứ tư, hoàn thiện thời hạn truy tố nhằm bảo đảm đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nhưng phải khả thi để Viện kiểm sát có đủ thời gian cần thiết thực hiện các hành vi tố tụng nhằm "truy tố chính xác, đầy đủ mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, đồng thời không làm oan người vô tội". Không cần phân định thời hạn truy tố theo loại tội mà quy định chung thời hạn truy tố là 30 ngày cho tất cả các vụ án; nếu vụ án phức tạp thì gia hạn 15 ngày hoặc 30 ngày. Bỏ quy định trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày ban hành cáo trạng, Viện kiểm sát phải giao cáo trạng cho bị can vì quy định trên không khả thi, gây sức ép cho cơ quan tiến hành tố tụng, mà quy định bản cáo trạng phải được giao cho bị can trong thời hạn truy tố, trước khi chuyển hồ sơ vụ án sang Tòa án.

Thứ năm, hoàn thiện thủ tục trả hồ  sơ để điều tra bổ sung theo hướng quy định rõ căn cứ và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, như căn cứ: "thiếu chứng cứ quan trọng về vụ án mà Viện kiểm sát hoặc Tòa án không thể bổ sung được" và căn cứ "vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự”. Cần quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung tránh tình trạng trả hồ sơ nhiều lần hoặc trả hồ sơ để điều tra những vấn đề không cần thiết hoặc vấn đề Cơ quan điều tra không thể thực hiện được.

Trong trường hợp thấy yêu cầu trả hồ sơ để điều tra bổ sung không có căn cứ, Cơ quan điều tra có văn bản nêu rõ lý do và quan điểm đối với việc giải quyết vụ án. Nếu thấy yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án có căn cứ, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ và ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra; nếu yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án không có căn cứ hoặc không cần thiết, Viện kiểm sát có văn bản nêu rõ lý do giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án để đưa vụ án ra xét xử như quy định hiện hành (Khoản 2 Điều 179 Bộ luật TTHS).

Viện kiểm sát hoặc Tòa án không được trả hồ sơ để điều tra bổ sung ngoài những căn cứ quy định tại Điều 168 hoặc Điều 179 Bộ luật TTHS. Để tránh việc giải quyết vụ án kéo dài, những sai sót về số liệu, lỗi kỹ thuật văn bản, vi phạm thủ tục tố tụng không nghiêm trọng thì Viện kiểm sát hoặc Tòa án không được trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Thứ sáu, bổ sung chế định miễn tố, nhằm thực hiện yêu cầu kết hợp hài hòa giữa lợi ích xã hội và lợi ích công dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và hợp lý khi giao trách nhiệm cho Viện kiểm sát cân nhắc quyết định việc truy tố hay không truy tố tội phạm. Trong trường hợp xét thấy rằng đủ căn cứ để truy tố bị can nhưng tính chất hành vi phạm tội không nghiêm trọng, tuổi tác, hoàn cảnh của bị can khó khăn và có nhiều tình tiết giảm nhẹ phát sinh sau khi tội phạm xảy ra (bị can phạm tội ít nghiêm trọng, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả của tội phạm) thì có thể không truy tố. Vận dụng đúng và sử dụng linh hoạt giữa truy tố và miễn tố sẽ giải quyết một cách mềm dẻo vấn đề tội phạm, góp phần thực thi chính sách hình sự nhân đạo trong xử lý người phạm tội, cân bằng lợi ích công và lợi ích cá nhân.

Khi áp dụng chế định miễn tố, cần có cơ chế ràng buộc trách nhiệm pháp lý của Viện kiểm sát, ngăn ngừa việc lạm dụng chế định này để bảo đảm công bằng, không gây xáo trộn trật tự truy tố. Đồng thời, phát huy hiệu quả cơ chế giám sát nghiêm ngặt theo hai hình thức là giám sát nội tại và giám sát từ bên ngoài. Hệ thống giám sát nội tại đòi hỏi Viện kiểm sát trước khi ra quyết định miễn tố hoặc truy tố phải nêu rõ các căn cứ và đối chiếu với kinh nghiệm đã xử lý những vụ án tương tự xảy ra trước đó. Cơ quan điều tra nếu không đồng ý với quyết định miễn tố của Viện kiểm sát thì có quyền kiến nghị lên Viện kiểm sát cấp trên xem xét; nếu thấy quyết định miễn tố không đủ căn cứ thì có quyền hủy bỏ và yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới ra quyết định truy tố. Khi người bị hại hoặc người tố giác tội phạm khiếu nại quyết định miễn tố, Viện kiểm sát phải xem xét giải quyết; nếu họ không đồng ý thì Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét giải quyết lần cuối.

Tăng cường cơ chế giám từ bên ngoài (Uỷ ban Tư pháp, giám sát của các cơ quan dân cử) đối với quyết định miễn tố của Viện kiểm sát. Khi có ý kiến của các cơ quan, tổ chức về quyết định miễn tố, Viện kiểm sát phải xem xét lại quyết định đó và trả lời các cơ quan, tổ chức đã yêu cầu, kiến nghị xem xét.

Thứ bảy, đổi mới thẩm quyền truy tố theo hướng gắn liền với thẩm quyền thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm. Để nâng cao chất lượng truy tố của Viện kiểm sát các cấp, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiện tòa, cần quy định rõ thẩm quyền truy tố theo hướng: Viện kiểm sát truy tố bị can ra trước Tòa án cùng cấp. Đối với các vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì ngay sau khi kết thúc điều tra phải chuyển ngay vụ án đến Viện kiểm sát cấp dưới để lập cáo trạng truy tố; trong trường hợp Viện kiểm sát cấp trên truy tố, thì phải cử Kiểm sát viên trực tiếp thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm, không ủy quyền cho Kiểm sát viên Viện kiểm sát cấp dưới. Quy định như vậy, vừa bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành kiểm sát, vừa bảo đảm tính liên tục trong việc giải quyết án của Kiểm sát viên từ đầu đến khi kết thúc./.


[1] Điều 9 Luật tổ chức VKSND 2002.

[2] Bộ luật TTHS Pháp quy định không cần thiết phải truy tố trong những trường hợp: 1) Khi tội phạm là một vụ việc nhỏ, ít nghiêm trọng và việc truy tố không đem lại lợi ích cho công chúng (các điều 153, 153b, 154(1), (2) và 154a); 2) Khi lợi ích công chúng từ việc truy tố có thể đạt được bằng một cách khác (bằng cách bồi thường (Điều 153a); 3) Khi việc truy tố không phục vụ lợi ích công chúng hoặc có thể làm phương hại, không có lợi cho lợi ích quốc gia hoặc khi người phạm tội đã thực hiện các biện pháp hạn chế khả năng thiệt hại cho đất nước theo đúng tinh thần của Hiến pháp sau khi thực hiện hành vi phạm tội (các điều 153d (I), 153e (I), 154c, 154d).

[3] Ở Nhật, ngay cả khi có đủ bằng chứng chứng minh tội phạm thì Công tố viên vẫn có thể dừng việc truy tố nếu thấy không cần thiết vì các lý do tội phạm học. Điều 248 Bộ luật TTHS Nhật Bản quy định: "Trường hợp không cần thiết truy tố do đặc điểm, tuổi và hoàn cảnh của người phạm tội, mức độ và điều kiện của tội phạm cũng như các hoàn cảnh sau khi phạm tội, việc truy tố có thể không được thực hiện".

[4] Tại Pháp, các Viện công tố được toàn quyền quyết định việc truy tố hay không, khác với các nước theo hệ thống pháp luật dân sự lục địa ở Châu Âu khác (trừ Bỏ vốn áp dụng nguyên tắc truy tố bắt buộc và các cơ quan công tố không có quyển tự quyết như vậy. Ước tính rằng, quyết định không truy tố của Công tố viên chiếm ít nhất 50% tổng số vụ án có thể bị truy tố. Các căn cứ được đưa ra thường là chứng cứ không đủ, không xác định được người phạm tội hoặc đơn giản là việc truy tố không phục vụ lợi ích của công chúng. Tiêu chí cho căn cứ cuối cùng có thể thay đổi rất khác nhau giữa các Công tố viên nhưng thường là do nhân thân của bị can, tính chất ít nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tính có lỗi của chính nạn nhân hay sự bồi thường đã được giải quyết Quyết định không truy tố chỉ là tạm thời và mặc dù hồ sơ đã được đưa vào lưu trữ thì sau đó vẫn có thể phục hồi (tuỳ thuộc vào các nguyên tắc liên quan đến thời hiệu). Khi một người bị truy tố về tội trộm cắp khai ra là mình đã hành động cùng một tên nữa thì Công tố viên có thể quyết định chỉ truy tố thủ phạm chính chứ không truy tố người đồng phạm.

Tại Trung Quốc: Đối với những vụ án ít nghiêm trọng và không cần phải xử lý hình sự hoặc miễn trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát có thể quyết định không truy tố người phạm tội. Điều 142 quy định: "Nếu thấy bị can thuộc một trong các trường hợp quy định trong Điều 15 của luật này, Viện kiểm sát phải ra quyết định không truy tố”. Quyết định không truy tố phải được công khai trước công chúng. Điều 143 quy định: "Quyết định không truy tố phải được công bố công khai trước công chúng, và quyết định phải bằng hình thức văn bản, được chuyển giao cho người không bị truy tố và.đơn vị của người này. Nếu người đó đang bị tạm giam thì phải trả tự do ngay".

Trong trường hợp Cơ quan điều tra không đồng ý với quyết định không truy tố của Viện kiểm sát, thì có quyền đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp xem xét lại và nếu không được chấp nhận, thì kiến nghị Viện kiểm sát cấp trên xem xét. Điều 144 quy định: " Khi quyết định không truy tố đối với vụ án cơ quan Công an đề nghị truy tố, Viện kiểm sát phải giao quyết định bằng văn bản cho cơ quan Công an. Khi thấy quyết định không truy tố có sai sót, cơ quan Công an có thể yêu cầu xem xét lại và nếu không được chấp nhận, có thể đề nghị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét lại".

Nếu Viện kiểm sát không quyết định truy tố thì người bị hại có quyền khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên và đề nghị quy tố, nếu Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp đồng ý với quyết định không truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới, thì người bị hại có thể khởi kiện ra Tòa án. Điều 145 quy định: "Khi quyết định không truy tố đối với những vụ án có người bị hại, Viện kiểm sát phải gửi quyết định không truy tố bằng văn bản cho người bị hại. Nếu không tán thành, thì trong thời hạn bảy ngày kể từ khi nhận quyết định, người bị hại có thể khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp và đề nghị truy tố. Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo quyết định sau khi đã thẩm tra cho người bị hại biết. Nếu Viện kiểm sát cấp trên đồng ý với quyết định không truy tố, người bị hại có thể kiện ra Tòa án. Người bị hại cũng có thể trực tiếp kiện ra Tòa án mà không cần phải khiếu nại trước. Sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án liên quan cho Tòa án".

[5]  Điều 138 của Bộ luật TTHS Trung Quốc.

[6] Trước khi truy tố phải làm rõ những điểm như sau: (Điều 137) " 1. Tình tiết phạm tội có rõ ràng hay không, chứng cứ có đáng tin cậy và đầy đủ hay không, việc buộc tội và bản chất của tội phạm có được quyết định đúng hay không; 2. Có bỏ lọt hành vi phạm tội và người phải truy cứu trách nhiệm hình sự nào không; 3. Liệu vụ án có thuộc trường hợp không cần truy cứu trách nhiệm hình sự hay không;4. Liệu vụ án có phát sinh vụ kiện dân sự hay không; và 5. Liệu hoạt động điều tra vụ án có được tiến hành hợp pháp không".  Điều 139 quy định: "Khi thẩm tra một vụ án, Viện kiểm sát phải thẩm vấn bị can và ghi lại ý kiến của người bị hại và những người do bị can và người bị hại chỉ định". Điều 140 quy định: "Trong khi thẩm tra hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát có thể yêu cầu cơ quan Công an cung cấp chứng cứ cần thiết để xét xử tại Tòa án.

Điều 141 của Bộ luật quy định: " Khi thấy các tình tiết phạm tội bị can đã chắc chắn, chứng cứ là đáng tin cậy và đầy đủ và cần truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật, Viện kiểm sát phải ra quyết định truy tố và tiến hành buộc tội tại Tòa án theo các quy định về thẩm quyền xét xử.

[7]. Điều 220 Bộ luật TTHS Liên Bang Nga quy định " Trong bản cáo trạng cần nêu rõ: họ tên bị can hoặc ác bị can; thông tin về nhân thân từng bị can; thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm; phương pháp, động cơ, nục đích phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án; điểm, khoản, điều ủa Bộ luật hình sự áp dụng". Cáo trạng do Dự thầm viên ký và ghi rõ thời gian, địa điểm lập cáo trạng.

Điều 200 Bộ luật TTHS Liên Bang Đức quy định nội dung cáo trạng: Bản cáo trạng sẽ phải chỉ rõ bị cáo bị buộc tội gì, hành vi mà bị cáo bị truy tố, thời gian, địa điểm xảy ra lội phạm, các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật và điều khoản của BLHS được áp dụng.

Điều 256 Bộ luật TTHS Nhật Bản quy định: "1. Việc truy tố được thực hiện bằng bản cáo trạng; 2. Bản cáo trạng gồm những nội dung sau: Tên và đặc điểm riêng của bị cáo; những sự kiện cấu thành tội phạm bị truy tố như thời gian, địa điểm và phương thức phạm tội, tội danh, các điều luật của Bộ luật hình sự được áp dụng".

Nguyên tắc 7 về cáo trạng của Bộ luật TTHS Mỹ quy định: Không phải mọi tội phạm đều phải bị truy tố bằng bản cáo trạng, mà một tội phạm phải bị truy tố bằng bản cáo trạng nếu bị phạt tử hình hoặc bị phạt tù từ một năm trở lên. Tuy nhiên một hành vi phạm tội có thể bị phạt tù từ một năm trở lên có thể bị truy tố bằng thông báo nếu bị cáo trong phiên toà công khai và sau khi được tư vấn về bản chất của cáo buộc và các quyền của bị cáo khước từ việc truy tố bằng cáo trạng. Cáo trạng và thông báo phải bằng văn bản dễ hiểu, chính xác và nhất quán bao gồm các yếu tố cấu thành tội phạm và phải được luật  sư Chính phủ ký mà không cần phải có mở đầu hoặc kết luận một cách chính thức. Một tội danh truy tố có thể kết hợp bằng một dẫn chiếu đến một cáo buộc tại một Tòa án khác. Một luận điểm truy tố có thể cho rằng phương thức phạm tội của bị cáo chưa được làm rõ hoặc tội phạm được thực hiện bằng một hoặc nhiều phương thức cụ thể. Đối với mỗi tội danh, bản cáo trạng hoặc thông báo phải trích dẫn chính thức hoặc theo tập quán các luật, nguyên tắc, quy định, hoặc các quy định khác của luật mà được xác định là bị cáo vi phạm. Vì các mục đích của cáo trạng được đề cập tại Điều 3282 Chương 18, Bộ luật Mỹ, theo đó lai lịch của bị cáo chưa xác định được, có thể chấp nhận được đối với bản cáo trạng mô tả bị cáo là một người chưa rõ tên nhưng đã có tài liệu gen ADN cá nhân như thuật ngữ được định nghĩa tại Điều 3282

[8] Tình trạng Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, nhất là những vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an điều tra và các Vụ nghiệp vụ ở VKSND tối cao truy tố. Những vụ án thuộc VKSND tối cao truy tố nhưng phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung chiếm tỷ lệ cao (44,75%) so với tỷ lệ Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để điều tra bổ sung (5,25%). Đáng lưu ý, trong đó có 82,07% số vụ án do Tòa án trả hồ sơ để điều trả bổ sung là có căn cứ pháp luật; nhiều vụ án phải trả đi trả lại nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết vụ án, gây tốn kém về thời gian, kinh phí, có trường hợp phải đình chỉ điều tra hoặc Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội.

[9] Điều 169 "BLTTHS 2003 quy định, Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 105 và Điều 107 của Bộ luật này hoặc tại Điều 19, Điều 25 và Khoản 2 Điều 169 của Bộ luật hình sự. Trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can. Trong trường hợp quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát cấp dưới không có căn cứ và trái pháp luật, thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền huỷ bỏ quyết định đó và yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới ra quyết định truy tố".

 Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp - kinh nghiệm CHLB Đức” do Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Quỹ Hợp tác quốc tế về pháp luật CHLB Đức phối hợp tổ chức ngày 9-10/6/2011 tại Hà Nội.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi