Những vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về Viện kiểm sát, người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát và một số kiến nghị hoàn thiện

Thạc sĩ Nguyễn Duy Giảng – Viện kiểm sát nhân dân tối cao

1.Một số vướng mắc trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay về Viện kiểm sát và người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 2002, Viện kiểm sát (VKS) có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Người tiến hành tố tụng thuộc VKS gồm có Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên. Thực tiễn tổ chức thực hiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS và những người tiến hành tố tụng thuộc VKS trong pháp luật tố tụng hình sự cho thấy một số quy định của pháp luật tố tụng thực định chưa đầy đủ và có một số quy định chưa phù hợp. Cụ thể như:

Những tồn tại, hạn chế nêu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng từ quy định của pháp luật tố tụng thực định chưa đầy đủ và có một số quy định chưa phù hợp. Cụ thể như:

Pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) hiện hành chưa quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của VKS, của những người tiến hành tố tụng thuộc VKS ở giai đoạn thụ lý, xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Cơ chế để nắm bắt và quản lý thông tin về tội phạm của các cơ quan chức năng vẫn còn khiếm khuyết, dẫn đến nhiều thông tin về tội phạm chưa được phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết và kiểm sát việc giải quyết, nhất là các thông tin về tội phạm trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Tình trạng "khép kín” từ việc nhận thông tin và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm (đến trước khi có quyết định xử lý tố giác, tin báo về tội phạm) vẫn còn xảy ra do chưa có một cơ chế để kiểm sát đầy đủ. Chẳng hạn, các tố giác, tin báo về tội phạm mà Cơ quan điều tra (CQĐT), các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận được, nhất là hoạt động trinh sát nghiệp vụ của CQĐT trong nhiều trường hợp vẫn là bí mật đối với cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực này là VKS. Việc CQĐT có phải thông báo thông tin, kết quả hoạt động trinh sát nghiệp vụ cho VKS hay không chưa có một cơ chế ràng buộc, tạo thuận lợi cho VKSND giám sát các hoạt động này. Viện kiểm sát nhân dân không có thẩm quyền trực tiếp xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kể cả trong trường hợp phát hiện CQĐT chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình, bỏ lọt tội phạm.

Pháp luật TTHS hiện hành không quy định VKS có quyền trực tiếp điều tra vụ án hình sự, mà chỉ có thẩm qụyền tiến hành một số hoạt động điều tra trong vụ án hình sự do CQĐT thụ lý (khoản 2 Điều 13 Luật Tồ chức VKSND năm 2002 và Điều 37 BLTTHS).

Mặc dù khoản 1 Điều 13 Luật Tổ chức VKSND và điểm a khoản 2 Điều 36 BLTTHS có quy định khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự VKS có nhiệm vụ và quyền hạn "khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can...), nhưng tại Điều 104 BLTTHS (quy định về khởi tố vụ án hình sự) lại quy định VKS chỉ được ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp VKS huỷ bỏ quyết định không khởi tố của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Vì vậy, thực tế có nhiều trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm cần được khởi tố, điều tra, nhưng vì những lý do khác nhau, CQĐT không ra quyết định khởi tố và cũng không ra quyết định không khởi tố vụ án thì VKS không thể ra được quyết định khởi tố vụ án để yêu cầu điều tra, mà chỉ có thể ra văn bản yêu cầu khởi tố vụ án (theo quy định tại Điều 114 BLTTHS thì yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của VKS không phải là loại yêu cầu mà nếu không nhất trí, CQĐT vẫn phải chấp hành như một số yêu cầu, quyết định khác nên hiệu lực bị hạn chế).

Đối với việc khởi tố bị can, tại khoản 5 Điều 126 BLTTHS quy định VKS chỉ thực hiện thẩm quyền khởi tố bị can sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà VKS phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố. Quy định nói trên có hạn chế là trong khi vụ án đang được tiến hành điều tra, nếu yêu cầu khởi tố bị can của VKS chưa được thực hiện thì phải chờ đến khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra, VKS mới có thể ra quyết định khởi tố bị can và yêu cầu điều tra (phải trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung).

Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành chưa có quy định cụ thể, đầy đủ về mối quan hệ tố tụng giữa VKS với các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi tiến hành giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và điều tra vụ án hình sự như đối với CQĐT.

Quy định về trình tự, thủ tục tại phiên tòa chưa phù hợp, thiếu cơ chế có hiệu quả cho việc xét hỏi, tranh tụng của Kiểm sát viên. Mặt khác, tại phiên tòa, thay vì trách nhiệm chứng minh chủ yếu thuộc về bên buộc tội (VKS), thì theo quy định của pháp luật hiện hành lại đang thuộc về Tòa án.

Quy định về thẩm quyền tố tụng của Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS có một số điểm còn thiếu tính thực tiễn, đó là: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 BLTTHS, Phó Viện trưởng VKS chỉ được thực hiện các thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 36 BLTTHS khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với vụ án hình sự. Điều này có thể phù hợp với VKSND cấp huyện nơi ít việc, còn đối với VKSND cấp tỉnh trở lên và cả các đơn vị cấp huyện nhưng có nhiều án (ở các thành phố lớn) thì quy định trên không thể thực hiện được, bởi vì các Phó Viện trường VKS được phân công phụ trách chủ yếu phải dành thời gian cho công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, không trực tiếp làm án mà phân công cho các Kiểm sát viên. Trong thực tế khi đã được Viện trưởng phân công phụ trách thì Phó Viện trưởng vẫn phải ký các quyết định tố tụng được quy định tại khoản 2 Điều 36 BLTTHS, mặc dù theo quy định đã viện dẫn ở trên, nếu vụ án không phải do Phó Viện trưởng là người thực hành quyền công tố thì Phó Viện trưởng không có thẩm quyền ký. Quy định về thẩm quyền tố tụng của những người tiến hành tố tụng thuộc VKS trong BLTTHS hiện hành thiếu sự phân cấp cần thiết cho Phó Viện trưởng, Thủ trưởng các đơn vị nghiệp vụ thuộc VKSND tối cao, Kiểm sát viên với tư cách là người tiến hành tố tụng nên hạn chế tính chịu trách nhiệm độc lập của Kiểm sát viên (trong thực tế Viện trưởng VKSND tối cao phải có văn bản quy định riêng về việc ủy quyền mới thực hiện được).

Các quy định hiện nay về nhiệm vụ, thẩm quyền của Kiểm sát viên vừa chưa bao quát hết nội dung công việc của Kiểm sát viên phải tiến hành trên thực tế, vừa chưa đáp ứng yêu cầu "tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình...” theo chủ trương cải cách tư pháp (ví dụ: Trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của CQĐT, BLTTHS chưa quy định cụ thể Kiểm sát viên có được kiểm sát các hoạt động điều tra xác minh của Điều tra viên không, có quyền đưa ra các yêu cầu đối với Điều tra viên không...). Mặt khác, các thẩm quyền mà Kiểm sát viên đang có theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự cơ bản chỉ là những quy định có tính liệt kê các công việc Kiểm sát viên phải làm, cơ bản không có thẩm quyền quyết định về tố tụng.

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về Viện kiểm sát và người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát

Theo quan điểm của Đảng trong Chiến lược cải cách tư pháp từ nay đến năm 2020, VKS tiếp tục thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, nhiệm vụ của VKS trong tố tụng hình sự cần được hoàn thiện theo hướng "tăng cường trách nhiệm của VKS trong hoạt động điều tra, gắn công tố với điều tra”, tăng cường vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Từ định hướng cơ bản nêu trên, để hoàn thiện các quy định của BLTTHS về VKS và người tiến hành tố tụng thuộc VKS, theo chúng tôi cần sửa đổi, bổ sung các vấn đề cơ bản sau đây:

Một là, cần bổ sung các quy định để VKS chủ động và có cơ sở pháp lý quản lý được đầy đủ các nguồn tố giác, tin báo về tội phạm diễn ra và đảm bảo các tố giác, tin báo đó đều được tiến hành xác minh, giải quyết đúng quy định của pháp luật. Theo chúng tôi, cần bổ sung quy định: Ngay sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, CQĐT phải thụ lý vào sổ và thông báo cho VKS cùng cấp để thực hiện nhiệm vụ kiểm sát. Viện kiểm sát có quyết định phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT; Kiểm sát viên có quyền đề ra các yêu cầu đối với việc thu thập chứng cứ để đảm bảo việc giải quyết tin báo, tố giác kịp thời, đúng pháp luật. Khi cần thiết, VKS có quyền tự mình tiến hành xác minh và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin cần thiết cho việc xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; nếu yêu cầu không được đáp ứng thì VKS có quyền trực tiếp xác minh. Việc sửa đổi như vậy sẽ tạo nên một cơ chế giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm linh hoạt, thực tế, có thể bổ sung cho nhau giữa VKS và CQĐT theo đúng chủ trương tăng cường trách nhiệm của công tố trong điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra. Bên cạnh đó, cần sửa đổi sự hạn chế về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của VKS đang được quy định tại Điều 104 BLTTHS. Theo đó, VKS không chỉ ra quyết định khởi tố trong trường hợp hủy quyết định không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT và trường hợp Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án hình sự mà cần bao gồm các trường hợp VKS tự mình xác minh và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và trong trường hợp có căn cứ khởi tố vụ án hình sự nhưng CQĐT không ra quyết định giải quyết (không ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, nhưng cũng không ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự).

Hai là, về thẩm quyền khởi tố bị can của VKS, cần bổ sung thẩm quyền khởi tố bị can của VKS theo hướng, ngoài các trường hợp VKS quyết định khởi tố bị can như quy định hiện hành, cần bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 126 BLTTHS là: "Trong trường hợp phát hiện có người đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, nếu Cơ quan điều tra không thực hiện yêu cầu thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can, yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra".

Ba là, đề nghị bổ sung quy định VKS có quyền trực tiếp điều tra vụ án hình sự với tư cách là cơ quan công tố (khác với thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra thuộc VKSND tối cao). Tuy nhiên, cần xác định rằng, thẩm quyền điều tra của VKS là để phục vụ chức năng thực hành quyền công tố, do vậy, cần hạn chế thẩm quyền này trong những trường hợp nhất định như: Đối với những vụ án do VKS trực tiếp xác minh tố giác, tin báo về tội phạm; những vụ án mà quá trình điều tra, CQĐT có vi phạm nghiêm trọng xét thấy cần rút để VKS tự điều tra; những vụ án CQĐT đã kết thúc điều tra nhưng còn có những vấn đề chưa rõ, nhưng xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung.

Bốn là, cần nghiên cứu xác định phạm vi, điều kiện để VKS có quyền lựa chọn việc không truy tố (miễn tố) đối với một số loại tội phạm hoặc trường hợp phạm tội cụ thể khi xét thấy việc truy tố không phục vụ lợi ích của cộng đồng cũng như cá nhân, không được xã hội ủng hộ, thay vào đó có một cơ chế xử lý linh hoạt, hiệu quả hơn (như chuyển xử lý hành chính, bồi thường thỏa đáng...). Tuy nhiên, cần quy định trong BLTTHS cơ chế giám sát chặt chẽ để tránh sự lạm dụng, tiêu cực của người tiến hành tố tụng khi thực hiện cơ chế này.

Năm là, tăng cường yếu tố tranh tụng là nội dung rất quan trọng của yêu cầu cải cách tư pháp và có liên quan chặt chẽ đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKS. Đề nghị quy định trách nhiệm xét hỏi để chứng minh tội phạm chủ yếu thuộc về VKS (xét hỏi để làm rõ cả chứng cứ buộc tội và gỡ tội), trách nhiệm xét hỏi để bào chữa thuộc về người bào chữa. Theo đó, trình tự xét hỏi cần quy định theo hướng Kiểm sát viên hỏi trước, rồi đến người bào chữa, Hội đồng xét xử hỏi sau cùng và chỉ hỏi những vấn đề chưa được hỏi hoặc chưa rõ.

Sáu là, đề nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về nhiệm vụ, thẩm quyền của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên VKS theo hướng bảo đảm tính hợp lý, có tính khả thi và tạo thuận lợi cho việc nâng cao quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên theo chủ trương cải cách tư pháp. Cụ thể, nên có sự phân cấp hợp lý nhiệm vụ, thẩm quyền giữa Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS các cấp để khắc phục những hạn chế như chúng tôi đã nêu ở phần trên. Theo chúng tôi, phạm vi thẩm quyền của Viện trưởng, Phó Viện trưởng của VKSND cấp huyện (tới đây là cấp khu vực) có thể cơ bản giữ nguyên như hiện nay nhưng phân cấp bớt một số thẩm quyền cho Kiểm sát viên (mức độ phân cấp có thể là Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và Kiểm sát điều tra vụ án hình sự, ngoài thẩm quyền được giao hiện nay, có các thẩm quyền phê chuẩn lệnh gia hạn tạm giữ, gia hạn điều tra vụ án, cấp giấy chứng nhận quyền bào chữa...). Phân cấp bớt một số thẩm quyền của Viện trưởng, Phó Viện truởng VKS cấp tỉnh cho Kiểm sát viên giữ chức vụ Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng nghiệp vụ của VKS cấp tỉnh hoặc Kiểm sát viên được giao thụ lý chính vụ án, trừ các thẩm quyền phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, phê chuẩn việc tạm giam, quyết định giải quyết vụ án (như truy tố, đình chỉ, miễn tố, quyền kháng nghị, kiến nghị đối với Tòa án). Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND tối cao cơ bản không trực tiếp thực hiện các thẩm quyền tố tụng mà có một số thẩm quyền xử lý hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật của cấp dưới và thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị đối với bản án, quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Kiểm sát viên VKSND tối cao giữ chức vụ Thủ truởng, Phó Thủ trưởng các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hình sự thuộcVKSNDTC cần được BLTTHS quy định có thẩm quyền tố tụng như Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND cấp tỉnh hiện nay. Để phù hợp với yêu cầu thực tiễn, cần bổ sung chức danh Trợ lý Kiểm sát viên, chức danh này chủ yếu giúp việc cho Kiểm sát viên về các việc hành chính tư pháp, ghi chép biên bản các hoạt động tố tụng, tống đạt các lệnh, quyết định...

Ngoài ra, đề nghị cần có quy định cụ thể, đầy đủ hơn về trình tự, thủ tục, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể thuộc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi tiến hành giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và điều tra vụ án hình sự. Đồng thời, mối quan hệ tố tụng giữa VKS với chủ thể thuộc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng cần được quy định cụ thể như mối quan hệ giữa VKS với CQĐT chuyên trách.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi