Cần quy định rõ trong Bộ luật Hình sự các chế định: Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng

Ths Huỳnh Quốc Hùng – Viện kiểm sát Quận sự Trung ương

 

Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng là những tình tiết tăng nặng định khung quy định tại một số điều của Bộ luật Hình sự (BLHS). Tuy nhiên, ngoại trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 175 BLHS (Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng) đã được hướng dẫn tại tiểu mục 1.5 và mục 1.6 Phần IV Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT-BNN- BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 08/3/2007 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn - Bộ Tư pháp -Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một s điều của BLHS về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; một số điều luật khác cũng quy định các tình tiết định khung tăng nặng nêu trên, nhưng chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào hướng dẫn, làm cho việc nhận thức và áp dụng trong thực tiễn gặp khó khăn, không thống nhất, nên rất cần có hướng dẫn cụ thể để tháo gỡ.

 

Tình tiết "phạm tội trong trường hợp nghiêm trọnglà tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại khoản 2 Điều 180 và khoản 2 Điều 181 (Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả và Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc gi, các giấy tờ có giá giả khác) của BLHS; "Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng” là tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại khoản 3 Điều 180, Điều 181, khoản 2 Điều 258 của BLHS (Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân); "Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng” là tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại khoản 2 Điều 88 (Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) và khoản 3 Điều 91 (Tội trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân), khoản 2 Điều 97 (Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ), khoản 4 Điều 104 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác), điểm b khoản 2 Điều 105 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh), khoản 3 Điều 161 (Tội trốn thuế) của BLHS.

 

Vấn đề đặt ra là cần xác định nội hàm cụ thể của các tình tiết đang bàn để có cơ s pháp lý cho việc thống nhất nhận thức và áp dụng trong thực tiễn điều tra, truy t và xét xử. Trong bài viết này, tôi xin nêu quan điểm cá nhân về nhận thức và đề xuất cụ thể hoá nội dung các tình tiết nêu trên.

 

Nghiên cứu kỹ thuật lập pháp trong từng nhóm tội danh, vị trí và phạm vi điều chnh của các điều luật có các tình tiết tăng nặng định khung nêu trên, vị trí của các tình tiết ấy trong từng điều luật, cũng như nguyên tắc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khọản 2 Điều 48 BLHS, có thể rút ra các vấn đề có tính nguyên tắc khi xác định nội dung cụ thể của từng tình tiết đang bàn, như sau: Thứ nhất, do được quy định ở các tội danh thuộc các lĩnh vực khác nhau như xâm phạm an ninh quốc gia (Điều 88 và 91 của BLHS), xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người (Điều 97, 104 và 105 của BLHS), xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Điều 180 và 181 của BLHS) và xâm phạm trật tự quản lý hành chính (Điều 258 BLHS), vì thế, nội dung cụ thể ca mỗi tình tiết định khung tăng nặng đang bàn không thể có chung một nội hàm, mà sẽ có các tiêu chí khác nhau tuỳ theo từng nhóm tội hoặc từng tội danh cụ thể. Thứ hai, các tình tiết định khung tăng nặng trong từng điều luật, về cơ bản cũng là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 48 BLHS, phản ánh tính chất hành vi, thủ đoạn, số lần phạm tội.v.v. (phạm tội có tố chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn, phạm tội nhiều lần.v.v.) hoặc phản ánh hậu quả tác hại do hành vi phạm tội gây ra (gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng), hoặc các yếu tố đặc thù khác chỉ có ở nhóm tội hoặc bản thân tội danh đó, phản ánh vị trí, vai trò của người phạm tội (người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực) trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc phản ánh quy mô của hành vi phạm tội (vật phạm pháp có số lượng lớn, giá trị lớn, thu lợi bất chính lớn.v.v.) trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và một số tội phạm khác, mà khi xuất hiện một trong các tình tiết này sẽ làm tăng đáng kể tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đến mức phải được xử lý ở khung hình phạt cao hơn. Khi đó và do đó, các tình tiết này phải được quy định là tình tiết định khung tăng nặng đối với tội danh ấy, chứ không còn vị trí là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được điều chnh theo Điều 48 BLHS nữa. Thứ ba, các tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng”, "gây hậu quả rất nghiêm trọng” và "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” chỉ là một trường hợp cụ thể của các tình tiết tương ứng "phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng”, "phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng” và "phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng” chứ không đồng nhất với các tình tiết này. Và "phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng”, "phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng”, "phạm tội trong trường hp đặc biệt nghiêm trọng” cũng không đồng nghĩa với các trường hợp "phạm tội nghiêm trọng”, "phạm tội rất nghiêm trọng” và "phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”.

 

Theo đó, các tình tiết tăng nặng định khung đang bàn, cần được xác định theo nhóm tội hoặc từng tội danh và với nội dung cụ thể như sau:

 

1.Đối với tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 88 BLHS)

 

Nghiên cứu kỹ thuật lập pháp một số tội danh cùng nhóm xâm phạm an ninh quốc gia như "Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, "Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ”, "Tội bạo loạn”, "Tội hoạt động ph” (Điều 79, 81, 82, 83 của BLHS), cho thấy trong cấu thành cơ bản (khung hình phạt nặng nhất) của các điều luật này đều có quy định trường hợp "Người tổ chức, người xúi dục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng” là những yếu tố định khung. Như vậy, với cấu thành cơ bn (khung hình phạt nhẹ nhất) của Điều 88 là: "a) Tuyên truyền xuyên tạc, phbáng chính quyền nhân dân; b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân; c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và khách thể bị xâm hại là "sự vững mnh ca chính quyền nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[1], thì tình tiết định khung tăng nặng "Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng ” quy định tại khoản 2 điều này, cần được xác định là các trường hợp sau đây: Người t chức; người xúi dục; người hoạt động đắc lực; phạm tội gây hậu qủa nghiêm trọng, rt nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

2.Đối với tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 91 BLHS)

 

Với cấu thành cơ bản như tên của điều luật, khách thể bị xâm hại là "An ninh đối ngoại, an ninh đối nội của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[2]và các tình tiết định khung tăng nặng quy định ở khoản 2 đã là "Người tổ chức, người cưỡng ép, người xúi giục”, thì tình tiết "Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại khon 3 của điều luật này, cần được xác định là phạm tội trong trường hợp có một trong các tình tiết sau đây: Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

3.Đối với tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97 BLHS)

 

Với cấu thành cơ bn là: "Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép”, do tội phạm xâm phạm đến tính mạng con người, nên trường hợp định khung tăng nặng thứ nhất quy định tại khoản 2 đã được xác định là "Phạm tội làm chết nhiều người”. Theo đó, trường hợp định khung tăng nặng còn lại trong khoản 2 "trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác”cần đuợc xác định theo mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra và thuộc một trong các trường hợp sau đây: Phạm tội trong trường hợp làm chết một người và bị thương nhiều người khác; Làm chết một người và gây thiệt hại tài sản có giá trị lớn; Làm chết một người và gây hậu quả nghiêm trọng, rt nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác.

 

4.Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 104 BLHS)

 

Với hai cấu thành cơ bn là "gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp: a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e) Có tổ chức; g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê; i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiếm; k) Để cản tr người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

 

Và tại các khung tăng nặng ở khoản 2 và 3 của điều luật đều được xác định theo kỹ thuật lập pháp tại khoản 1. Theo đó, hoặc là ấn định tỷ lệ thương tật của người bị hại (khoản 2 từ 31% đến 60%, khoản 3 từ 61% trở lên) hoặc tỷ lệ thương tật dưới mức quy định trên nhưng có thêm một trong các tình tiết quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1. Đồng thời, tình tiết "phạm tội dẫn đến chết nhiều người” đã được quy định là trường hợp thứ nhất của khung tăng nặng trong khoản 4, thì trường hợp còn lại của khoản 4 điều luật này với tình tiết: "Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác ", cần tuân theo kỹ thuật lập pháp đã sử dụng tại khoản 2 và 3 để xác định là: Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các đim từ điểm a đến đim k khoản 1 Điều này.

 

5.Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tình thần bị kích động mạnh (Điều 105 BLHS)

 

Với cấu thành cơ bản là: "Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó” và các trường hợp tăng nặng tại khoản 2 đã được quy định là: "a) Đối với nhiều người; b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người”. Như vậy, nhà làm luật chỉ coi các yếu tố phản ánh hậu quả cao hơn của hành vi phạm tội là những tình tiết tăng nặng định khung. Do đó, tình tiết "phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác " quy định tại khoản 2 ch có thể là các yếu tố: Dn đến chết nhiu người; gây thương tích hoặc tn hại sức khỏe của nhiều người, mà mi người có tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên[3].

 

Tuy nhiên, so vi các tình tiết quy định tại điểm a và b nêu trên, thì tình tiết "phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác" với nội dung như đề xuất, cần được quy định thành khoản 3 với mức hình phạt cao hơn mới đảm bảo tính công bằng trong xử lý tội phạm này.

 

6.Đối vi tội trốn thuế (Điều 161 BLHS)

 

Với cấu thành cơ bản là: "Người nào trốn thuế với số tiền từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điu 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tíchmà còn vi phạm” và tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2 là: "Phạm tội trốn thuế với số tiền từ ba trăm triệu đồng đến dưới sáu trăm triệu đồng hoặc tái phạm về tội này”, cũng như trường hợp thứ nhất ca tình tiết định khung tăng nặng quy định tại khoản 3 là "Phạm tội trốn thuế vi số tiền từ sáu trăm triệu đồng tr lên”, thì trường hợp định khung tăng nặng còn lại quy định tại khoản 3 "phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác" cần được xác định là phạm tội trong các trường hợp sau đây: Trốn thuế với s tiền từ ba trăm triệu đồng đến dưới sáu trăm triệu đồng nhưng gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác; tái phạm nguy hiểm về tội này.

 

7.Đối với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180 BLHS) và tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác (Điều 181 BLHS)

 

Các tội phạm trên đều xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và đều sử dụng một kỹ thuật lập pháp, theo đó, đều có cấu thành cơ bản gồm các hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển và lưu hành các đối tượng được làm giả mà từng điều luật đã liệt kê và cùng có tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2 là "phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng” và tại khoản 3 là "phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”. Nghiên cứu kỹ thuật lập pháp của các điều luật cùng loại như: Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm; tội sn xuất, buôn bán hàng gi; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; tội sản xuất, buôn bán hàng gi là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi; tội làm tem gi, tội buôn bán tem giả, vé giả (Điều 155, 156, 157, 158 và 164 của BLHS) thấy các tình tiết: Phạm tội có tổ chức; lợi dụng chức vụ quyền hạn; phạm tội nhiều lần; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; hàng phạm pháp có s lượng rất lớn hoặc thu lợi bất chính rất lớn; tái phạm nguy hiểm; gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rt nghiêm trọng, thường được quy định là các yếu tố định khung tăng nặng ở khoản 2; các tình tiết: Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn; thu lợi bất chính đặc biệt lớn; gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thường được quy định là các yếu tố định khung tăng nặng khoản 3. Riêng Điều 157 BLHS, thì tình tiết gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng được xác định là yếu tố định khung tăng nặng tại khoản 4.

 

Tiếp thu kỹ thuật lập pháp nêu trên và cấu trúc của các Điều 180 và 181 của BLHS ch có hai khung tăng nặng, nên tình tiết "phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng” quy định tại khoản 2 các Điều 180 và 181 cần được xác định là phạm tội trong trường hợp có một trong các tình tiết sau đây: Phạm tội có t chức; lợi dụng chức vụ quyn hạn; phạm tội nhiều lần; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; vật phạm pháp có mệnh giá lớn hoặc thu lợi bất chính lớn; tái phạm ngụy hiểm; gây hậu quả nghiêm trọng. Và tình tiết "phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại khoản 3 các điều luật này cần được xác định là phạm tội trong trường hợp có một trong các tình tiết sau đây: Vật phạm pháp có mệnh giá rất lớn hoặc đặc biệt lớn; thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn; gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

8.Đối với Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm li ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân (Điều 258 BLHS)

 

Với cấu thành cơ bản là: "Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích ca Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”, thì "Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng” quy định tại khoản 2 điều này cần được xác định là phạm tội trong trường hợp có một trong các tình tiết sau đây: Phạm tội có tổ chức; lôi kéo người khác phạm tội; phạm tội nhiều ln; tái phạm, tái phạm nguy him; gây hậu qủa nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng[4].

 

Để thống nhất về kỹ thuật lập pháp giữa các điều luật trong BLHS, cũng như nhận thức và áp dụng trong thực tiễn công tác, đề nghị sửa đi các điều luật đang bàn theo hướng không quy định các trường hợp "phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng”, "phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng” và "phạm tội trong trường hp đặc biệt nghiêm trọng” mà quy định "phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù..- ”như đa số các điều luật; đồng thời quy định rõ các tình tiết cụ th trong từng khoản định khung tăng nặng như đã nêu ở phần trên. Trước mắt, các cơ quan tư pháp Trung ương có thẩm quyền cần ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể nội dung các tình tiết "phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng” "phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng” và "phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng” trong các điều luật nêu trên.

 



[1] Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 1999. Nhà xuất bản Công an nhân dân. Trang 36,42.

[2] Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 1999. Nhà xuất bản Công an nhân dân. Trang 36,42

[3] Xem Đinh Văn Quế. Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự. Phần các tội phạm, tập I, Trang 153.

[4] Xem Đinh Văn Quế. Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự. Phần các tội phạm, tập VIII, Trang 52.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi