Một số ý kiến hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự về quyền, nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo

Ths. Đoàn Tạ Cửu Long và Ths. Nguyễn Tấn Hảo - VKSND thành phố Hồ Chí Minh

Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là một trong những nguyên tắc cơ bản quan trọng hàng đầu trong tố tụng hình sự.

 

Cụ thể hoá nguyên tắc này, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 đã có nhiều quy định để bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong hoạt động tố tụng hình sự (TTHS). Trong đó, đáng chú ý là các quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo trong TTHS tại các Điều 48, 49, 50 BLTTHS.

 

Ngoài ra, trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo lả người chưa thành niên, thì còn có các quyền theo quy định tại Chương XXI của BLTTHS.

 

Nhìn chung, các quy định về quyền và nghĩa vụ của nguời bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo trong BLTTHS năm 2003 là tương đối đầy đủ và đảm bảo nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân.

 

Tuy nhiên, về cách thức quy định của điều luật cũng như thực tiễn áp dụng đã cho thấy một số vấn đề cần phải sửa đổi, bổ sung để đảm bảo tính phù hợp và hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

 

Trong phạm vi bài viết này, xuất phát trên cơ sở nghiên cứu nội dung quy định của BLTTHS năm 2003 và thực tiễn áp dụng các quy định này chúng tôi xin nêu lên một số vấn đề khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị một số nội dung sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo, góp phần định hướng xây dựng sửa đổi, bổ sung BLTTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Cụ thể như sau:

 

Việc quy định một cách cụ thể quyền và nghĩa vụ của chủ thể là cơ sở quan trọng cho các chủ thể thực hiện tốt quyền và chấp hành đúng các nghĩa vụ.

 

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo chưa thật sự đầy đủ, cụ thể, các điều luật mới chỉ quy định nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan THTT.

 

Thực tế áp dụng pháp luật cho thấy, còn rất nhiều các nghĩa vụ khác của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo nhưng BLTTHS không quy định và liệt kê cụ thể trong điều luật. Cụ thể như nghĩa vụ chấp hành các yêu cầu của cơ quan THTT trong quá trình điều tra giải quyết vụ án, thực hiện việc khai báo, cung cấp chứng cứ, tài liệu theo yêu cầu, chấp hành các nội quy quy định của trại tạm giam, nhà tạm giữ trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam, chấp hành các quy định về trình diện khi bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm và các nghĩa vụ khác theo quy định của BLTTHS.

 

Hạn chế này dẫn đến tình trạng các chủ thể như người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo không thể nắm rõ nghĩa vụ của mình nên sẽ có những vi phạm gây ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án và tác động xấu đến quyền lợi của các chủ thể.

 

Do đó, cần quy định bổ sung các nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo để làm cơ sở cho việc áp dụng trong thực tiễn, nhằm nâng cao hiệu quả công tác áp dụng pháp luật, góp phần bảo vệ tốt hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo.

 

2.     Bổ sung cơ chế bảo đảm quyền chứng minh vô tội của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự

 

Điều 10 BLTTHS năm 2003 quy định: "Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh là mình vô tội”.

 

Người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo có quyền chứng minh mình không phạm tội theo quy định của BLTTHS. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy việc thực hiện quyền chứng minh vô tội của bị can, bị cáo còn hạn chế và bị can, bị cáo chưa thực sự bảo vệ được quyền của mình, chưa chủ động tranh luận, bào chữa và đưa ra các lý lẽ chứng minh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

 

Nguyên nhân của thực trạng này là do mặc dù BLTTHS quy định quyền của bị can, bị cáo nhưng lại chưa xác định cơ chế để tạo điều kiện cho bị can, bị cáo thực hiện quyền đó của mình.

 

Theo quy định tại Điều 64 BLTTHS thì: "Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định mà các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án”.

 

Với quy định này thì chỉ những gì được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục luật định và được cơ quan THTT chấp nhận sử dụng phục vụ việc giải quyết vụ án mới được coi là chứng cứ. Quy định nêu trên đảm bảo tính chặt chẽ của quá trình thu thập chứng cứ và nâng cao giá trị pháp lý của chứng cứ đối với hoạt động giải quyết vụ án. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là, trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo cung cấp tài liệu, đồ vật hoặc có những lời khai về vụ án nhưng cơ quan THTT, người THTT không ghi nhận và không thực hiện quy trình chuyển hoá chứng cứ theo luật định thì sẽ xử lý như thế nào? Hiện nay BLTTHS chưa có quy định cụ thể. Đây là "khoảng trống pháp lý” không chỉ ảnh hưởng đến quyền của người bị tình nghi thực hiện tội phạm mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động giải quyết vụ án hình sự. Chúng tôi cho rằng, nên điều chỉnh quy định về chứng cứ theo hướng: "Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định có thể dùng làm căn cứ xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án”. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế để người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo có quyền yêu cầu cơ quan THTT, người THTT đánh giá những chứng cứ mình cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Trong trường hợp không sử dụng các chứng cứ đó phải có lý do cụ thể. Bên cạnh đó, BLTTHS hiện hành không có quy định nào về trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ cũng như về cơ chế đảm bảo cho người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo thu thập chứng cứ hoặc coi các tài liệu, đồ vật mà họ đưa ra là chứng cứ.

 

Để thực hiện được việc chứng minh vô tội, người bị tình nghi phạm tội cần phải thu thập được chứng cứ để chứng minh. Không có quyền thu thập chứng cứ cũng có nghĩa là quyền chứng minh vô tội của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo cũng chỉ còn mang tính hình thức. Do đó, để khắc phục hạn chế này cần bổ sung quy định về cơ chế thực hiện quyền tự bào chữa, thu thập chứng cứ để tạo hành lang pháp lý cho bị can, bị cáo thực hiện quyền chứng minh bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình và góp phần cho việc giải quyết vụ án được chính xác, khách quan và toàn diện.

 

3.    Tăng cường quy định bảo đảm các quyền dân sự của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo

 

Một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS được ghi nhận trong BLTTHS là chỉ khi bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án thì một người mới bị xem là có tội.

 

Trên cơ sở nguyên tắc này thì các chủ thể bị khởi tố, áp dụng các biện pháp ngăn chặn... vẫn chưa bị xem là có tội và bị tước các quyền công dân, nhất là các quyền về dân sự, như quyền thực hiện các giao dịch dân sự, quyền liên quan đến nhân thân.... Tuy nhiên, việc đảm bảo các quyền này cần có một cơ chế đặc biệt để phù hợp với tình trạng thực tế của người đang bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn hoặc các hạn chế khác theo quy định của BLTTHS.

 

Bộ luật Tố tụng hình sự cần bổ sung quy định về quyền được bảo vệ các quyền dân sự và các quyền liên quan cho người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo và xác lập cơ chế thực hiện quyền này trong thực tiễn. Việc bổ sung quy định này, ngoài việc xây dựng cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo còn thể hiện tính chất dân chủ, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của pháp luật Việt Nam.

 

4.  Hoàn thiện cơ chế áp dụng biện pháp ngăn chặn để bảo vệ quyền của người bị tình nghi phạm tội

 

Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong TTHS là một trong những hoạt động ảnh hưởng trực tiếp nhất đến quyền của người bị tình nghi phạm tội. Bên cạnh biện pháp tạm giam, BLTTHS năm 2003 đã quy định nhiều biện pháp ngăn chặn khác với tính chất, mức độ ảnh hưởng thấp hơn đối với người bị áp dụng như: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Tuy nhiên, thực tế áp dụng pháp luật những năm vừa qua cho thấy, biện pháp bắt tạm giam được áp dụng quá nhiều, thậm chí là lạm dụng trong khi các biện pháp ngăn chặn khác mang tính tiến bộ hơn như bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm hầu như không được áp dụng.

 

Nhiều trường hợp bị can, bị cáo lẽ ra chỉ cần áp dụng biện pháp bảo lãnh, cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc đặt tiền, tài sản có giá trị để bảo đảm là đã đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử, nhưng các cơ quan THTT không áp dụng các biện pháp này mà lại phải áp dụng biện pháp tạm giam. Việc lạm dụng biện pháp tạm giam đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo.

 

Nguyên nhân của tình trạng nêu trên là do BLTTHS chưa quy định cụ thể, rõ ràng về cơ chế áp dụng các biện pháp ngân chặn khác như bảo lãnh, đặt tiền, tài sản có giá trị để bảo đảm dẫn đến hiệu quả áp dụng chưa cao. Để khắc phục tình trạng này, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, theo chúng tôi, cần bổ sung quy định về cơ chế, thủ tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác biện pháp tạm giam. Bên cạnh đó, cần quy định thêm điều kiện để áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nhằm hạn chế việc lạm dụng biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi