Xác định tòa án có vị trí trung tâm, xét xử là hoạt động trọng tâm

GS.TSKH - Đào Trí Úc – Đại học Quốc gia Hà Nội

1.  Cơ sở lýluận cho việc xác định vị trí pháp lý tố tụng của Toà án
 

1.1. Vị trí pháp lý đặc biệt của Toà án

 

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định rõ nhiệm vụ của cải cách tư pháp là bảo đảm để Toà án (TA) là trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm. Trong số các quan điểm và chủ trương của Đảng ta về cải cách tư pháp hình sự thì quan điểm và chủ trương đề cao vai trò của TA trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta là quan điểm mang tính đột phá. Theo đó, về mặt nhận thức cũng như quá trình tổ chức thực tiễn và xây dựng, hoàn thiện pháp luật, phải bảo đảm để TA thực sự đóng vai trò là trung tâm của hệ thống tư pháp và hoạt động xét xử của TA là hoạt động trọng tâm của tố tụng hình sự (TTHS) ở nước ta. Như vậy, khâu đầu tiên trong các nỗ lực này là vấn đề nhận thức, trên cơ sở đó mà triển khai các giải pháp tổ chức, hoạt động thực tiễn và hoàn thiện pháp luật mà trọng tâm là pháp luật về TTHS. Thực tiễn triển khai cải cách tư pháp những năm qua, kể từ khi có Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 nêu trên cho thấy rằng, mặc dù đã đạt được nhận thức chung về vị trí, vai trò của TA trong hệ thống tư pháp cũng như trong TTHS nhưng vẫn chưa có những chuyển biến đáng kể trong thực tiễn. Tình hình này có nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là nhận thức lý luận về "khâu trung tâm" của hệ thống tư pháp. Từ đó, chúng ta đang thiếu những cơ sở pháp lý nhằm chuyển hoá ý chí và nhận thức, thành những cơ chế pháp lý, những bảo đảm về chức năng, thẩm quyền, về tổ chức cán bộ nhằm làm cho TA thực sự đóng vai trò là trung tâm và hoạt động xét xử (HĐXX) thực sự là hoạt động trọng tâm.

 

Vị trí đặc biệt của TA với tính cách là cơ quan thực hiện quyền tư pháp xuất phát từ vai trò và những thẩm quyền hiến định. Chỉ TA với bản án của mình mới có thẩm quyền coi một người là có tội và phải chịu hình phạt. Điều 72 Hiến pháp Việt Nam xác định: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản  án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”.  Trong tất cả các thiết chế quyền lực nhà nước, không một thiết chế quyền lực nào có được thẩm quyền phán xét đó.

 

Vị trí  đặc biệt của TA cũng xuất phát từ việc bảo đảm một quyền quan trọng của bị can, bị cáo với tính cách là quyền con người về dân sự. Đó là quyền đuợc Toà án xét xử khi bị cơ quan nhà nước buộc tội. Nội dung của Điều 72 Hiến pháp Việt Nam về thẩm quyền xét xử duy nhất của TA cũng phần nào nói lên yêu cầu này. Nhìn rộng ra, Công ước của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính tri 1966 xác định, trong quá trình TTHS, bị cáo cần "phải được xét xử nếu không có lý do chính đáng để tri hoãn", được sớm đưa ra TA hoặc cơ quan pháp luật có thẩm quyền tiến hành tố tụng (THTT) và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc trả tự do. "Bất cứ người nào do bị bắt hoặc bị giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu xét xử trước TA nhằm mục đích để Toà án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và trả lại tự do nếu việc giam giữ là trái pháp luật”. "Bất kỳ người nào đều có quyền đòi hỏi việc xét xử công bằng và công khai do một Toà án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội trong vụ án hình sự hoặc xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong tố tụng dân sự" (Các Điều 9.1; 92; 9.3; 14.1).

 

Nghị quyết ngày 29/11/1985 của Liên hợp quốc về các nguyên tắc cơ bản về sự độc lập của các cơ quan tư pháp đã chỉ rõ rằng: "Các quốc gia có trách nhiệm tạo mọi điều kiện cho hoạt động tư pháp độc lập nhận thực hiện quyền của công dân được bảo vệ bởi Toà án".

 

Vị trí đặc biệt của Toà án cũng thể hiện ở chỗ Toà án đưa ra phán quyết nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyền sửa bản án, hủy bản án chỉ thuộc về TA thuộc cấp xét xử cao hơn (phúc thẩm, giám đốc thẩm) và phải dựa trên những căn cứ, theo những trình tự do pháp luật TTHS quy định. Thẩm quyền đó không thể thuộc về một cơ quan nào khác ngoài các TA cấp cao hơn. Bản án của TA có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án của TA và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chấp hành đó (Điều 136 Hiến pháp năm 1992 và Điều 22 BLTTHS). Có thể thấy rằng, một bản án của TA đã có hiệu lực pháp lý cũng có hiệu lực thi hành phổ biến như một văn bản pháp luật. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 130 Hiến pháp).

 

Như vậy, địa vị pháp lý hiến định của TA là cơ sở cho việc xác định địa vị pháp lý TTHS của TA, theo đó, địa vị pháp lý tố tụng là điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện trên thực tế vai trò và vị trí hiến định của TA bởi một lẽ đơn giản là TA chỉ có thể hoàn thành được sứ mệnh là cán cân công lý, là chỗ dựa đáng tin cậy của người dân khi vị trí hiến định đó được bảo đảm bởi những quy định chặt chẽ và đầy đủ về TTHS.

 

Trong quan điểm cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước Việt Nam có thể thấy rất rõ hai điểm nhấn chủ đạo là: 1) Bảo đảm vị trí trung tâm của TA trong hệ thống tư pháp, vai trò trọng tâm của hoạt động xét xử trong TTHS và 2) Thực hiện tranh tụng. Đây là hai đòi hỏi mang tính cải cách và các đòi hỏi đó liên quan khăng khít với nhau; cái này là điều kiện cho cái kia. Chừng nào chúng ta có được vị trí trung tâm của TA và của HĐXX trong TTHS thì chừng đó mới có thể có được sự tranh tụng của các bên với vai trò trung tâm vô tư khách quan của TA. Ngược lại, chỉ khi nào TTHS bảo đảm được các yêu cầu về tranh tụng thì mới có thể tạo ra một thiết chế đóng vai trò trung tâm, hỗ trợ cho tranh tụng.

 

1.2. Những yếu tố làm nền tảng tố tụng hình sự

 

Bất kỳ một hệ thống TTHS nào cũng bao gồm những yếu tố chủ đạo sau đây: Mục đích của TTHS; các nguyên tắc cơ bản của TTHS; các chức năng chủ yếu trong TTHS và vị trí của các chủ thể hoạt động TTHS; các giai đoạn TTHS; chứng cứ và chứng minh trong TTHS.

 

Các yếu tố này trong tổng thể là xương sống của TTHS. Những yếu tố đó hợp thành một hệ thống TTHS thống nhất, nhất quán với nhau, trong đó mục đích là yếu tố quan trọng nhất, chi phối các yếu tố khác. Mục đích nào thì sẽ đặt ra những yêu cầu đòi hởi như vậy cho các hoạt động TTHS, tức là các nguyên tắc của TTHS. Đến lượt chúng, cùng với mục đích, các nguyên tắc của TTHS là điểm xuất phát để xác định chức năng, vị trí và các mối quan hệ giữa các chủ thể TTHS, phương thức của việc bảo đảm chứng cứ và của quá trình chứng minh trong vụ án hình sự.

 

Tính chất và đặc điểm của các yếu tố hợp thành TTHS đều được quyết định bởi mục đích của TTHS. Căn cứ vào tính chất và đặc điểm được pháp luật quy định về các yếu tố đó mà người ta có thể đánh giá về một loại TTHS này hay một loại TTHS khác của từng quốc gia cụ thể. Cũng căn cứ vào các yếu tố đó mà người ta phân biệt sự khác nhau căn bản của các mô hình TTHS. Còn trong khuôn khổ của một mô hình thì tính chất và đặc điểm của các yếu tố đó của TTHS có thể có những sự khác nhau bắt nguồn từ đặc điểm phát triển của TTHS, đặc điểm của hệ thống pháp luật cũng như của hệ thống tư pháp của mỗi quốc gia, trong từng thời đại lịch sử nhất định.

 

1.3. Những đặc trưng của tố tụng hình sự Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành

 

1.3.1. Mục đích của tố tụng hình sự:

 

Tại Điều 1 BLTTHS năm 2003, mặc dù không sử dụng khái niệm "mục đích" nhưng đã dùng từ "nhằm". Trong tiếng Việt "nhằm" cũng có thể được hiểu là mục đích cần đạt được. Theo đó, TTHS có mục đích "phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý "công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội”.

 

Tố tụng hình sự Việt Nam cũng có mục đích bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

 

Có thể thấy rằng, quy định trên đây của BLTTHS đã xác định hai nhóm mục đích của TTHS: Nhóm các mục đích cụ thể, trực tiếp và nhóm các mục đích chung, gián tiếp. "Ngăn chặn tội phạm", "phát hiện chính xác và nhanh chóng tội phạm"; "xử lý công minh, kịp thời tội phạm", "không để lọt tội phạm", "không làm oan người vô tội" là những mục đích thuộc nhóm thứ nhất. Nhóm các mục đích thứ hai gồm mục đích: "Phòng ngừa tội phạm", "bảo vệ chế độ XHCN", "bảo vệ lợi ích của Nhà nước", "bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức", "bảo vệ trật tự pháp luật XHCN", "giáo dục ý thức pháp luật”.

 

 Các mục đích chung hay cụ thể, gần hay xa được nêu trên đây của TTHS Việt Nam đều nhất quán ở một định hướng về ưu thế vượt trội của Nhà nước mà người đại diện là cơ quan và cá nhân được pháp luật TTHS xác định là "cơ quan tiến hành tố tụng" và "người tiến hành tố tụng". Những khái niệm này đã đủ để nói lên vị thế đó của các cơ quan công quyền. Mục đích hoạt động của các cơ quan đó đều xuất phát từ quyền lực của Nhà nước để "phát hiện", "xử lý", để "không để lọt tội phạm" và "không làm oan người vô tội”, để bảo vệ chế độ XHCN, các lợi ích của Nhà nước, "trật tự pháp luật", "quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của tổ chức"... Tại Điều 10 BLTTHS năm 2003, các mục đích nêu trên được cụ thể hoá hơn nữa thông qua việc quy định trách nhiệm của các cơ quan THTT phải "xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ", trong đó có trách nhiệm "làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo". Một lần nữa, trách nhiệm đó chỉ thuộc về Nhà nước.

 

 Những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành đang ở trạng thái tạo ra sự chủ quan cho chủ thể đi tìm sự thật của vụ án sự. Mặc dù pháp luật có xác định phải xử lý công minh, không làm oan người vô tội, nhưng đứng ở vị thế độc quyền chân lý, sự chủ quan là không tránh khỏi.

 

Các mục đích đưọc đặt ra cho TTHS mà thực chất là mục đích hoạt động của các cơ quan THTT nặng về bảo vệ lợi ích công và coi nhẹ lợi ích của cá nhân những con người cụ thể trong vụ án hỉnh sự. Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ nhắc đến mục đích "bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” một cách chung chung mà không chỉ rõ là bảo vệ quyền và lợi ích của những người ở vào vị thế bị động và yếu hơn so với bộ máy công quyền hiện diện trong TTHS, mà cũng chỉ được nhắc đến sau cùng.

 

Mục đích của TTHS xuất phát từ quan điểm về lợi ích cần được bảo vệ trong quá trình TTHS. Xét theo những mục đích được pháp luật TTHS Việt Nam quy định thì TTHS Việt Nam thuộc mô hình tố tụng thẩm vấn. Bởi vì: Trong mô hình tố tụng thẩm vấn, mục đích của TTHS là đi tìm sự thật khách quan của vụ án; định hướng mục đích cơ bản là bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, tức là lợi ích công và đồng thời TTHS cũng có mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nhưng không xác định cụ thể. Từ đó tố tụng thẩm vấn không thừa nhận tùy nghi truy tố, mà ngược lại, đặt nghĩa vụ khởi tố và xét xử cho các cơ quan THTT; chức năng chủ đạo của các cơ quan tư pháp được đặt trên một đòi hỏi chung là đấu tranh phòng, chống tội phạm, do đó không có sự "phân vai" rành mạch các chức năng cho các chủ thể tố tụng. Nói khác đi, các chủ thể tố tụng không thực sự có vị trí pháp lý độc lập với lợi ích độc lập và không có động cơ tham gia tố tụng một cách độc lập thật sự và do vậy không thể hình thành "các bên" trong tố tụng.

 

1.3.2. Các nguyên tắc của tổ tụng hình sự:

 

Nguyên tắc của TTHS, sự "ràng buộc" của nó, giá trị điều chỉnh của nó có ý nghĩa đối với cả hệ thống TTHS, có hiệu lực đối với tất cả các chủ thể các quan hệ tố tụng.

 

Nguyên tắc của TTHS là điều kiện cho việc thực hiện các mục đích của TTHS. Nếu như mục đích của tố tụng là cái mà các hoạt động của TTHS cần đạt được thì nguyên tắc chỉ cho chúng ta thấy rằng, cần đạt được kết quả đó như thế nào. Điều đó có nghĩa là, nguyên tắc có vai trò hỗ trợ cho việc thực hiện mục đích của TTHS.

 

Nguyên tắc của TTHS có chức năng điều chỉnh hành vi tố tụng. Đây cũng là biểu hiện cụ thể chức năng của pháp luật nói chung. Tính điều chỉnh của nguyên tắc thể hiện ở hiệu lực của nó đối với các chủ thể tố tụng mà trước hết là các cơ quan THTT, người THTT. Các chủ thể đó có nghĩa vụ nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật TTHS, thực hiện đúng giới hạn thẩm quyền, tuân thủ các nguyên tắc đã được pháp luật quy định. Không chỉ vi phạm các quy định pháp luật tố tụng cụ thể mà vi phạm các nguyên tắc của TTHS cũng phải được xem là căn cứ để hủy các quyết định tố tụng và vô hiệu các hành vi tố tụng.

 

Có thể phân loại các nguyên tắc kể trên theo các nhóm sau đây:

 

Nhóm các nguyên tắc có nội dung liên quan đến yêu cầu về bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự: Đó là nội dung của các nguyên tắc được quy định tại Điều 3 BLTTHS: "Bảo đảm pháp chế XHCN trong tố tụng hình sự". Theo đó, mọi hoạt động TTHS của cơ quan THTT, người THTT và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của BLTTHS và Điều 13 BLTTHS xác định trách nhiệm của các Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS), TA trong việc khởi tố và xử lý vụ án hình sự. Theo nguyên tắc này, khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì các cơ quan nói trên, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp theo luật định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội.

 

Nhóm các nguyên tắc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung và quyền của bị can, bị cáo nói riêng trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự: Trong nhóm này, trước hết đó là nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân được quy định tại Điều 4 BLTTHS. Theo đó, khi THTT, những người THTT trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa. Có thể nói rằng, nguyên tắc này có nội dung rất gần với đòi hỏi về pháp chế vì hàm chứa trong đó đòi hỏi về việc xem xét, đánh giá, kiểm tra tính hợp pháp của các biện pháp đã áp dụng. Tuy nhiên, mục đích của việc đặt ra nguyên tắc này là để bảo đảm sự tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong các hoạt động TTHS mà không chỉ dừng lại ở yêu cầu về việc nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật.

 

Khách thể ở đây là quyền của công dân. Cùng hướng bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong TTHS là nội dung của các nguyên tắc được quy định tại Điều 5 BLTTHS "Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật", theo đó Bộ luật nhấn mạnh đến việc không phân biệt đối xử trong TTHS, bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật. Kế đó là các nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (Điều 7); nguyên tắc về quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (Điều 8); nguyên tắc "không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật" (Điều 9); nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11); nguyên tắc về tiếng nói và chữ viết dùng trong TTHS (Điều 24); nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (Điều 29); nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền THTT hình sự gây ra (Điều 30).

 

Nhóm các nguyên tắc về tính chất của hoạt động tố tụng hình sự: Những nguyên tắc thuộc nhóm này là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo được quy định trong BLTTHS nói lên tính chất và đặc điểm hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, những bảo đảm về tính thận trọng, vô tư, khách quan trong các hoạt động tố tụng. Đó là nguyên tác quy định trách nhiệm chúng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội (Điều 10); nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người THTT hoặc người tham gia tố tụng (Điều 14); nguyên tác Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16); nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số (Điều 17); nguyên tắc xét xử công khai (Điều 18); nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án. Theo đó, Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự,  người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước TA. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án (Điều 19); nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử (Điều 20); nguyên tắc giải quyết các vấn đề dân sự trong vụ án hình sự (Điều 28); nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong TTHS (Điều 31).

 

 Nhóm các nguyên tắc về sự tham gia của nhân dân và sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ  quan nhà nước khác đối với  hoạt động tố tụng hình sự: Những nguyên tắc này được coi là những bảo đảm quan trọng cho hiệu hoạt động của TTHS. Đó là: Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia, theo đó, việc xét xử của Toà án nhân có Hội thẩm nhân dân, của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia. Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán (Điều 15); nguyên tắc về trách nhiệm của các tổ chức và công dân trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm (Điều 25). Theo quy định điều luật này, cơ quan THTT có trách nhiệm tạo điều kiện để các tổ chức và công dân tham gia TTHS; phải trả lời kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm cho tổ chức đã báo tin, người đã tố giác tội phạm biết; nguyên tắc về sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và các cơ quan THTT (Điều 26); nguyên tắc về sự giám sát của các cơ quan tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan THTT, người THTT (Điều 32).

 

Các nguyên tắc của TTHS nước ta chứa đựng những tư tưởng chỉ đạo chặt chẽ, cụ thể, rõ ràng, tạo điều kiện cho sự vận dụng chúng trong các hoạt động TTHS. Tính chất đó của các nguyên tắc hoàn toàn phù hợp với yêu cầu và đặc điểm của TTHS là một loại hoạt động quyền lực, do đó; khả năng vi phạm các quy định về quyền hạn và nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền là rất lớn.

 

Phải kể đến những bất cập trong các quy định của pháp luật TTHS mà trước hết là quy định về hệ thống các nguyên tắc của TTHS. Đó là sự thiếu vắng các nguyên tắc đủ khả năng phản ánh những tư tưởng, định hướng chỉ đạo quan trọng của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp mà trọng tâm là cải cách hoạt động xét xử. Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực TTHS đã có lý khi đề xuất kiến nghị về việc khẳng định nhận thức và quy định trong pháp luật TTHS nước ta các nguyên tắc quan trọng và phổ biến của TTHS như nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc tranh tụng.

 

1.3.3. Các chức năng tố tụng và vị trí của các chủ thể hoạt động tố tụng hình sự:

 

Theo những quy định hiện nay của BLTTHS thì các chức năng tố tụng chưa được xác định rõ. Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh về chức năng tố tụng và có thêm một lưu ý rằng cần phân biệt chức năng tố tụng với chức năng về mặt tổ chức của các cơ quan, thiết chế tương ứng. Chẳng hạn, TA có chức năng xét xử vì đó là cơ quan xét xử duy nhất ở Việt Nam; VKS có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; CQĐT có chức năng điều tra tội phạm; người bào chữa có quyền bào chữa. Chính vì theo cách hiểu về chức năng được đặt ra từ tổ chức và tính chất hoạt động của các chủ thể TTHS mà lâu nay có quan niệm về sự tồn tại trong TTHS các chức năng: Chức năng điều tra, chức năng công tố, chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, chức năng xét xử, chức năng bào chữa. Trong khi đó, trong bất kỳ một hệ thống TTHS nào cũng đều tồn tại các nhu cầu được đặt ra bởi tính chất của tố tụng là: Truy tổ tội phạm và người phạm tội; bào chữa của bị can, bị cáo và Luật sư của họ; hoạt động xét xử của TA. Từ đó, ba chức năng: Buộc tội, bào chữa và xét xử luôn luôn tồn tại trong bất kỳ một loại TTHS nào. Do đó, nói chức năng tố tụng là nói đến những định hướng hoạt động trong quá trình TTHS mà không lẫn lộn với chức năng vốn có của các thiết chế tổ chức.

 

Như đã nêu ở trên, tâm điểm của TTHS Việt Nam là "xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ". Do đó, toàn bộ cỗ máy các cơ quan THTT và những người THTT hầu như hoạt động trên cùng một hướng là xác định sự thật của vụ án. Nói khác đi, có một điểm chung quyết định đối với chức năng của các chủ thể TTHS Việt Nam. Điều 10 BLTTHS quy định: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

 

Trước đó, Điều 4 BLTTHS xác định: Khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa.

 

Như vậy, có thể thấy rằng, ba chức năng tố tụng nêu trên đều thuộc về tất cả các chủ thể và từng chủ thể đó. Trong TTHS hiện hành không tồn tại việc khu biệt ba chức năng tố tụng cho từng chủ thể tố tụng. Nếu có, thì đó cũng chỉ là sự phân biệt tương đối. Ngoài ra, Điều 13 BLTTHS còn quy định rõ: "Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội". Theo quy định này, không chi CQĐT, VKS mà TA cũng có chức năng khởi tố vụ án hình sự. Điều này được bổ sung bởi một số quy định khác trong BLTTHS, chẳng hạn như quy định Hội đồng xét xử vẫn phải xét xử toàn bộ vụ án khi tại phiên toà, nếu sau khi xét hỏi, Kiểm sát viên rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn (Điều 195); quy định TA có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố (Điều 196).

 

Trên thực tế, CQĐT, VKS chủ yếu thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ theo hướng buộc tội, còn trong trường hợp không phát hiện được thì đình chỉ điều tra, không truy tố. Pháp luật đặt ra yêu cầu chung đối với họ về việc bảo đảm tôn trọng và bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân mà không nêu đích danh là quyền và lợi ích của bị can, bị cáo - những người yếu thế nhất trong quan hệ tố tụng. Chỉ còn lại người bào chữa là chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội cho bị can, bị cáo, nhưng vị trí và khả năng tố tụng của chủ thể này lại rất hạn chế.

 

Việc không phân biệt thật rõ ràng mục đích của các chủ thể tố tụng dẫn đến sự không rõ ràng chức năng của các chủ thể đó và trong tổng thể nên đã không tạo ra được động cơ và động lực thúc đẩy hiệu quả của TTHS, nếu xét tiêu chí của hiệu quả là xác định chính xác sự thật khách quan của vụ án và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và của công dân.

 

Và như đã nói ở trên, do các chức năng chủ đạo của các cơ quan tư pháp được đặt trên một đòi hỏi chung là đấu tranh phòng, chống tội phạm, do đó, không có sự "phân vai" rành

 

mạch các chức năng cho các chủ thể tố tụng.

 

Nói khác đi, các chủ thể tố tụng không thực sự có vị trí pháp lý độc lập với lợi ích độc lập và không có động cơ tham gia tố tụng một cách độc lập thật sự và do vậy không thể hình thành "các bên" trong tố tụng.

 

Những quy định của pháp luật TTHS về mục đích của TTHS, về các nguyên tắc TTHS, về các chức năng tố tụng cũng như về chứng  cứ và chứng minh đã cho thấy rõ về một loại quan hệ mang tính quyết định và phụ thuộc, quyền lực và đối tượng của quyền lực mà không phải là quan hệ bình đẳng và đối trọng trong quan hệ của các chủ thể tố tụng.

 

Có thể nói rằng, ở giai đoạn nào cũng có những biểu hiện của đặc trưng chủ đạo đó. Tuy nhiên, biểu hiện rõ nhất là ở giai điều tra. Ước tính như sau: Khoảng 40% bị cáo trước khi bị đưa ra xét xử đã từng bị giam, đa số trong số đó đã bị tạm giữ. Thời hạn tạm giam để điều tra được quy định không quá 2 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 3 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 4 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Việc tạm giam đó còn có thể được gia hạn tương ứng là một lần không quá một tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, hai lần với tội phạm nghiêm trọng theo công thức không quá 2 tháng trong lần thứ nhất, không quá 1 tháng trong lần thứ hai, có nghĩa tối đa là 3 tháng; mức độ tương ứng tiếp theo là 3 tháng + 2 tháng = 5 tháng; 3 lần x 4 tháng = 12tháng. Nói khác đi, trong một khoảng thời gian dài bị cáo đã phải đối diện với Điều tra viên, và vì vậy, số phận, việc bảo đảm quyền và lợi ích của họ hoàn toàn phụ thuộc vào Điều tra viên, chưa nói đến tính bí mật khép kín của hoạt động điều tra. Giai đoạn được coi là công bằng, công khai nhất là giai đoạn xét xử thì trừ những vụ án phức tạp, có nhiều vụ án thông thường chỉ diễn ra từ 1 đến 2 ngày. Và như đã nói ở trên, bị cáo và người bào chữa có vị thế hết sức thụ động với vị thế nổi trội của đại diện VKS và của chính TA.

 

1.3.4. Chứng cứ và chứng minh:

 

Theo quy định của BLTTHS, chủ thể có quyền chủ động hoàn toàn trong toàn bộ quá trình tố tụng nói chung và trong việc thu thập, đánh giá chúng cứ là các cơ quan THTT.

 

Bởi vậy, bắt đầu từ khi khởi tố vụ án, CQĐT "lập ra hồ sơ vụ án hình sự" (Điều 35); khi kết thúc điều tra thì hồ sơ đó được chuyển sang VKS để quyết định truy tố (nếu phát hiện tội phạm và người phạm tội); từ khi có quyết định truy tố của VKS thì hồ sơ đó được chuyển đến TA để xét xử. Và vì mục đích đi tìm sự thật khách quan của vụ án nên việc xét xử ở TA cũng là sự tiếp tục điều tra.

 

Như vậy, hồ sơ là căn cứ duy nhất và hợp pháp để xét xử.

 

Các chứng cứ cũng hoàn toàn thuộc về quyền chủ động của các cơ quan THTT, bởi theo quy định của BLTTHS thì "Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát vả Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án" (Điều 64). Trong toàn bộ quá trình của vụ án, các cơ quan nói trên và chỉ các cơ quan đó mới có quyền thu thập chứng cứ thông qua thẩm quyền triệu tập những người biết về vụ án và nghe họ trình bày, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án (Điều 65). Các vật chứng phải được đưa vào hồ sơ vụ án hoặc chụp ảnh, ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án.

 

Trong khi đó, từ phía khác, người bào chữa chỉ được quyền thu thập các tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án và chúng chỉ có thể là chứng cứ khi được nộp cho các cơ quan THTT và được các cơ quan này chứng nhận, đưa vào hồ sơ. Hơn thế nữa, mặc dù được quyền "đọc, ghi chép, sao chụp" các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nhưng phải là những tài liệu liên quan đến việc bào chữa mà không phải là toàn bộ những tài liệu của vụ án. Bị can, bị cáo, người bào chữa được xác định là những người "tham gia" tố tụng; nói khác đi, tố tụng không thuộc quyền của họ, họ chỉ tham gia.

 

Như vậy, trong TTHS hiện hành của Việt Nam, việc xác định chứng cứ cũng như quá trình chứng minh cho thấy vai trò nổi trội và áp đảo của các cơ quan THTT và vai trò bị động, yếu ớt của bị can, bị cáo, người bào chữa của họ. Hãy so sánh:

 

Kiểm sát viên được quyền đưa ra danh sách những người được triệu tập để xét hỏi trước toà và đề xuất trình tự xét hỏi. Dựa vào đó, TA quyết định về người được triệu tập và trình tự xét hỏi tại phiên toà. Kiểm sát viên đọc cáo trạng tiến hành xét hỏi sau xét hỏi của Thẩm phán rồi thực hiện luận tội và đưa ra ý kiến cuối cùng. Việc xét hỏi được bắt đầu bởi Thẩm phán. Người bào chữa đuợc trình bày một lần trong phần tranh luận, bị cáo nói lời cuối cùng, nếu không tính đến những trả lời đối với các câu hỏi được đặt ra. Người bào chữa không được triệu tập nhân chứng của mình, không được xét hỏi nhân chứng của mình mà chỉ có các nhân chứng do CQĐT và VKS đưa ra.

 

Trong TTHS Việt Nam, TA đóng vai trò tích cực trong quá trình xét xử. Toà án công bố lời khai của người làm chứng vắng mặt; tại phiên toà ở phần xét hỏi, Chủ tọa phiên toà là người hỏi trước bị cáo rồi mới đến Kiểm sát viên; người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Hội đồng xét xử trực tiếp hỏi bị cáo, người làm chứng, yêu cầu sự có mặt và sự giám hộ của cha mẹ của những bị cáo chưa thành niên; thực hiện những biện pháp bảo vệ an toàn cho người làm chứng; thậm chí, Hội đồng xét xử đi cùng Kiểm sát viên, người bào chữa và những người khác đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên toà được hoặc đến nơi đã xảy ra tội phạm hoặc những địa điểm khác có liên quan đến vụ án.v.v. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, trong quá trình xét hỏi ấy, các chứng cứ được thu thập đầy đủ đến đâu, đánh giá chúng như thế nào và được phản ánh như thế nào vào biên bản phiên toà và đóng vai trò đến đâu trong nội dung phát biểu của các chủ thể khác trong việc hình thành quan điểm của họ trong phần tranh luận và cuối cùng là trong phòng nghị án và trong bản án - phân lớn phụ thuộc vào quan điểm và vị trí chủ động tích cực đó của TA. Đương nhiên, với cách thức tố tụng này thì vai trò của TA là rất cần thiết và quan trọng như là vai trò của người dẫn dắt quá trình xét xử.

 

1.3.5. Các giai đoạn tố tụng:

 

Tố tụng hình sự Việt Nam được xác định như một hệ thống các giai đoạn thực hiện các hoạt động của các cơ quan THTT mà giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn kế sau và giai đoạn sau là hệ quả của giai đoạn trước nó. Theo đó, ở Việt Nam đã hình thành một quan điểm chung về các giai đoạn tố tụng gồm: Giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giai đoạn truy tố; giai đoạn xét xử sơ thẩm; giai đoạn xét xử phúc thẩm, giai đoạn thi hành bản án và quyết định của TA. Việc xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực của pháp luật là những thủ tục có tính chất kiểm tra bao gồm thủ tục giám đốc thẩm: Xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình xử lý vụ án ở các giai đoạn tố tụng; thủ tục tái thẩm được áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà TA đã không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó. Tính thống nhất của các giai đoạn TTHS thể hiện ở hai yếu tố: a) Tuy tố tụng được chia thành nhiều giai đoạn, nhưng hồ sơ vụ án chỉ có một và được lập từ giai đoạn điều tra vụ án; b) Các giai đoạn tố tụng sau nhất thiết phải xảy ra nếu giai đoạn trước đó không bị chấm dứt bởi lý do không xác định được cơ sở của trách nhiệm hình sự.

 

 2. Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 theo hướng bảo đảm vai trò trung tâm của Toà án và vị trí trọng tâm  của hoạt động xét xử

 

   2.1. Mô hình tố tụng hình sự - cơ sở chủ đạo của những sửa đổi, bổ sung cần thiết đối với Bộ luật Tố tụng hình sự

 

Như chúng ta đã biết, cải cách tư pháp hình sự ở nước ta được xác định theo hướng bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng. Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 ở Việt Nam gắn kết hai yếu tố cốt lõi là thực hiện tranh tụng, bảo đảm vị trí trung tâm củaTA và của hoạt động xét xử. Hai yếu tố này là sự kết hợp thống nhất, mỗi yếu tố vừa là điều kiện vừa là hệ quả tất yếu của yếu tố khác: Không thể tạo ra được vai trò trung tâm của TA nếu không có tố tụng tranh tụng và không thể tranh tụng, nếu TA không được yêu cầu bảo đảm để trở thành chủ thể duy trì vị trí pháp lý bình đẳng của các bên, bảo đảm sự tôn trọng quyền, lợi ích và quyền tự do định đoạt của các bên tố tụng.

 

Việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS chỉ có thể được tiến hành theo hướng đó trên cơ sở nhận thức mới về mô hình TTHS, nhận thức và đánh giá đúng những yếu tố hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng. Những nhận thức đánh giá đó cần được triển khai trên toàn bộ các yếu tố chủ đạo hợp thành TTHS, từ việc xác định lại mục đích của TTHS; các nguyên tắc của TTHS; các chức năng tố tụng và vị trí của các chủ thể hoạt động TTHS; chứng cứ và chứng minh trong TTHS; các giai đoạn tố tụng. Trên cơ sở đó mới có thể có được những sự sửa đổi, bổ sung phù hợp trong pháp luật TTHS nhằm điều chỉnh một cách đầy đủ và đồng bộ cải cách và đổi mới TTHS nước

 

2.2. Về mục đích của tố tụng hình sự

 

Cần xác định rõ hơn mục đích của TTHS theo hướng cụ thể hơn và gần hơn với chức năng của các chủ thể TTHS. Mục đích mà tất cả các chủ thể đó cần đạt được khi thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình là xác định sự thật của vụ án để chứng minh sự buộc tội (từ phía CQĐT và VKS) hoặc chứng minh cho những yếu tố gỡ tội (từ phía bị can, bị cáo và người bào chữa). Đồng thời với mục đích xác định sự thật của vụ án cần khẳng định mục đích bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong các hoạt động tố tụng.

 

Cách xác định những mục đích của TTHS như trên bảo đảm đánh giá được hiệu quả của TTHS rõ rệt hơn, chính xác hơn; đồng thời, thúc đẩy việc thực hiện có hiệu quả yếu tố tranh tụng trong TTHS mà chiến lược cải cách tư pháp đã đặt ra.

 

Nếu xét theo yêu cầu đó, BLTTHS cần được bổ sung một điều về mục đích của TTHS bởi Điều 1 BLTTHS hiện hành nói về nhiệm vụ của BLTTHS, tức là chỉ quy định về yêu cầu của việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ tố tụng mà thôi.

 

Mục đích của TTHS Việt Nam cần được xác định trước hết là để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của phía bị hại do hành vi tội phạm gây ra, đồng thời bảo vệ những người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị đơn dân sự nhằm loại trừ việc truy cứu trách nhiệm hình sự trái pháp luật hoặc các hành vi và quyết định khác thiếu căn cứ, trái pháp luật.

 

Mô hình tố tụng tranh tụng trước hết xuất phát từ mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên của bị can, bị cáo. Các hoạt động TTHS ở đây không chỉ phục vụ cho mục đích chung của tư pháp hình sự là "đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm" mà phải hết sức cụ thể, trong đó, trước hết là bảo đảm tuân thủ thủ tục pháp lý (due process) vì có bảo đảm THTT "đúng thủ tục" mới có thể bảo đảm được tính công khai, minh bạch và khả năng chứng minh của các chủ thể. Tố tụng hình sự tranh tụng không chỉ nhằm xác định sự thật của vụ án mà còn nhằm loại trừ những gì không phải là sự thật trong vụ án. Tố tụng tranh tụng vừa bảo vệ lợi ích công, vừa nhằm bảo vệ lợi ích tư, nhưng là những lợi ích được xác định giữa các bên tranh tụng mà trước hết là tôn trọng lợi ích của bị can, bị cáo - phía yếu thế trong tố tụng.

 

Với mục đích như vậy, tố tụng tranh tụng cần đến sự phân vai rõ ràng giữa các chủ thể và nhờ đó, các chủ thể hình thành ra "hai bên" trong vụ án - bên buộc tội và bên bào chữa với lợi ích tố tụng độc lập và khác nhau, đối lập nhau. Từ đó, các bên sẽ nỗ lực hết mình để bảo vệ lợi ích, bảo vệ quan điểm, trình bày chứng cứ, chủ động chứng minh về các tình tiết của vụ án theo châm ngôn "chân lý chỉ tìm thấy trong tranh luận".

 

2.3. Sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc của tố tụng hình sự

 

Để có thể tiếp thu những yếu tố của tố tụng tranh tụng, bên cạnh những nguyên tắc đã được khẳng định, TTHS Việt Nam cần được bổ sung bởi những nguyên tắc phổ biến làm hạt nhân cho sự tiếp thu này. Đó là các nguyên tắc như nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc về quyền được TA xét xử, nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc tự do trình bày chứng cứ và chứng minh.

 

2.4. Về các quy định nhằm đảm bảo phân biệt rõ hơn các chức năng trong tố tụng hình sự

 

Trong tố tụng tranh tụng, với việc hình thành lợi ích của chủ thể và vai trò độc lập của các chủ thể đã hình thành rõ rệt hai bên tố tụng và cả hai bên đều hoàn toàn bình đẳng, tự do, tự chịu trách nhiệm cho riêng mình về việc sử dụng mọi khả năng và phương tiện tố tụng mà pháp luật đã đặt ra để bảo vệ quan điểm, quyền và lợi ích của mình.

 

Như vậy sự hiện hữu của hai yếu tố chủ đạo: Yếu tố hai bên tố tụng và yếu tố phân chia chức năng tố tụng là điểm đặc trưng cơ bản của tố tụng tranh tụng.

 

Như đã nêu ở trên, căn cứ của việc hình thành và tồn tại hai bên trong tố tụng là sự tồn tại của các lợi ích tố tụng độc lập. Từ đó, việc theo đuổi tố tụng để bảo vệ lợi ích của mình đã làm nên tính tranh tụng của tố tụng, tức là quan hệ tranh tụng giữa các bên có lợi ích khác nhau.

 

Cũng vì lý do đó mà trong tố tụng tranh tụng, các hoạt động tố tụng không được coi là nhiệm vụ duy nhất của một phía trong việc phát hiện tội phạm, xử lý người phạm tội, để qua đó đấu tranh chống tội phạm, phòng ngừa tội phạm, giáo dục người phạm tội. Tố tụng tranh tụng được coi là địa hạt hành động của cả hai phía: Phía Nhà nước mà đại diện là các cơ quan có chức năng buộc tội; phía bị can, bị cáo cùng với người bào chữa hoặc do người bào chữa đại diện.

 

-   Bên công tố: Khái niệm quyền công tố bao hàm trong đó quyền phát hiện những hành vi vi phạm những điều cấm của Nhà nước và việc nhân danh Nhà nước truy tố hành vi vi phạm và người vi phạm đó ra trước TA.

 

Các hoạt động điều tra tội phạm, truy tố và buộc tội bị cáo trước TA là những hình thức để thực hiện quyền công tố. Nếu xét về thẩm quyền thì đó là những hoạt động của các cơ quan hành pháp và do vậy, đó là chức năng của hành pháp trong quá trình thực hiện vai trò duy trì và bảo vệ trật tự pháp luật. Nếu xét theo mục đích cần đạt được thì những hoạt động này nằm trong chuỗi các hoạt động tư pháp vì đích cần hướng tới ở đây là xét xử tội phạm đã xảy ra: Điều tra, truy tố là để xét xử. Trong trường hợp mục đích xét xử không còn thì sẽ không còn chức năng công tố.

 

Như vậy quyền công tố, chức năng công tố là một hệ thống hoạt động do những cơ quan khác nhau thực hiện, trong đó VKS chịu trách nhiệm chủ đạo. Vì thế pháp luật của các quốc gia đều giao cho VKS hoặc các thiết chế tương tự vai trò chỉ huy điều tra, chí ít là phối hợp điều tra và phê chuẩn kết luận điều tra, quyết định truỵ tố hay không truy tố. Tại phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án hình sự, VKS là chủ thể duy nhất giữ quyền công tố, là một bên trong tố tụng tranh tụng với việc một mình chịu trách nhiệm chứng minh lời buộc tội; chịu trách nhiệm về dung lượng và chất lượng buộc tội, truy tố hay rút truy tố (toàn bộ hay từng phần). Hơn thế nữa, VKS còn có nhiệm vụ đưa ra các lập luận trong việc bác bỏ (một phần hay toàn bộ) nội dung bào chữa của bên bị buộc tội. Vì vậy, yêu cầu đối với  việc bảo vệ quan điểm truy tố, nội dung, mức độ và phương pháp buộc tội phải được đặt ra ngay từ thời điểm khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án của TA có hiệu lực pháp luật hoặc khi chính cơ quan công tố chủ động rút quyết định truy tố. Là một bên trong vụ án hoạt động của chủ thể quyền công tố đều chịu sự điều hành của TA. Toàn quyền định vấn đề truy tố và buộc tội (quyền công tố) và hoàn toàn chịu trách nhiệm bảo vệ quan điểm buộc tội là những tổ chất làm nên tính độc lập của chủ thể quyền công tố biểu hiện đầy đủ nhất cho tính chất của tranh tụng trong TTHS.

 

-    Bên bào chữa: Bào chữa là quyền hiến định của bị can, bị cáo. Nhưng quyền đó chỉ trở thành quyền tố tụng khi có sự thể hiện của quyền đối lập là quyền công tố. Công tố là hoạt động làm khởi động và chuyển động vụ án hình sự. Với nghĩa "đối lập" như vậy, chức năng bào chữa không thể thuộc về cơ quan công tố. Việc pháp luật quy định trách nhiệm của các cơ quan THTT "phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo" (Điều 10 BLTTHS) hoàn toàn không có nghĩa rằng, TA, CQĐT, VKS bên cạnh chức năng buộc tội và xét xử cũng thực hiện chức năng bào chữa. Những yêu cầu trên đây thực chất là nội dung của nguyên tắc về tính khách quan của TTHS.

 

Lợi ích của bị can, bị cáo trong vụ án hình sự là bào chữa cho hành vi của mình trước buộc tội của cơ quan công tố. So với lợi ích tố tụng của phía công tố thì lợi ích này dễ nhìn nhận hơn vì không ai ngoài bị can hay bị cáo và người bào chữa của họ quan tâm đầy đủ và triệt để đến lợi ích đó. Đó là lý do và cơ sở quan trọng nhất để xác định tính chất của một bên trong tố tụng.

 

Tuy nhiên, để có thể là một bên đích thực, bị can, bị cáo và người bào chữa phải thực sự được bình đẳng và được bảo đảm có đủ quyền tiếp cận công lý mà cụ thể là tiếp cận hồ sơ, tự do trình bày chứng cứ và chứng minh trong quá trình tố tụng. Có thể nói rằng, đây là vấn đề tưởng chừng như dễ hiểu và đơn giản nhưng rất khó đổi với nhận thức và trong quá trình thực hiện.

 

Sự hình thành và tồn tại của hai bên tranh tụng dẫn đến nhu cầu về "người thứ ba vô tư" -đó là lý do hình thành và tồn tại chức năng xét xử của TA và lý do cho việc khẳng định vị trí, vai trò trung tâm của TA trong TTHS tranh tụng.

 

Để bảo đảm thực hiện đúng chức năng đó, TA phải được thoát ra khỏi vai trò theo đuổi mục đích đi tìm sự thật khách quan của vụ án, để rồi từ đó đóng luôn cả vai trò của phía buộc tội. Việc Toà án có thể trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo những quy định như tại Điều 179 BLTTHS là biểu hiện của việc vi phạm nguyên tắc quan trọng của tố tụng tranh tụng là: Một chủ thể tố tụng chỉ thực hiện một chức năng tố tụng. Toà án trong tố tụng tranh tụng chỉ xét xử trong phạm vi và mức độ buộc tội theo nguyên lý "nemo judex sine actore" - sẽ không có xét xử nếu không có bên nguyên.

 

Để đóng được vai trò là khâu trung tâm, việc xét xử của TA phải thực sự là tạo ra tự do tranh luận, tự do trình bày quan điểm, chứng cứ của các bên: Bên buộc tội cũng như bên bào chữa. Toà án phải là chủ thể trung tâm của HĐXX theo nghĩa tạo mọi điều kiện cho những hoạt động tố tụng nói trên. Yếu tố "vô tư", "khách quan" chính là chỗ đó chứ không chỉ dừng lại ở đòi hỏi về sự "vô tư, khách quan" của cá nhân các Thẩm phán khi xem xét chứng cứ, lời khai, khi quyết định về định tội và hình phạt.

 

Cần bỏ sự phân biệt "cơ quan THTT, người THTT" và "nguời tham gia tố tụng". Thay vào đó, cần có một khái niệm chung cho những cơ quan và cá nhân này là: "Các chủ thể của tố tụng hình sự". Chủ thể tố tụng hiện luôn gắn với chức năng tố tụng.

 

Đối với chủ thể thực hiện quyền công tố: Trên cơ sở khẳng định quyền công tố (truy tố, buộc tội) là hoạt động có mục đích nhất quán kể từ khi khởi tố vụ án hình sự nhằm xác định hành vi tội phạm và truy tố người phạm tội ra trước TA để xét xử, chủ thể của quyền đó cần được hiểu là CQĐT, Điều tra viên, VKS và Kiểm sát viên, người bị hại, nguyên đơn dân sự. Những chủ thể này có mục đích chung là phát hiện tội phạm và đưa người phạm tội ra truy tố. Trong số đó, cần quy định VKS là chủ thể chịu trách nhiệm chính và cuối cùng đối với việc thực hiện chức năng này. Như đã nói ở trên, tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, chủ thể duy nhất thực hiện chức năng công tố là VKS và Kiểm sát viên, đối diện với bên gỡ tội bào chữa (người bào chữa, bị cáo, bị đơn dân sự).

 

Đại diện VKS trước toà chịu trách nhiệm về chất lượng, dung lượng, mức độ buộc tội; có quyền thay đổi mức độ buộc tội so với buộc tội ban đầu; có quyền quyết định truy tố nếu thấy không đủ chứng cứ buộc tội hoặc có căn cứ để không áp dụng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

 

Như vậy, chất lượng buộc tội trước TA của VKS phụ thuộc vào chất lượng điều tra, truy tố và cần đặt trách nhiệm đối với việc bảo đảm chất lượng này cho VKS. Vì thế, cần xác định thẩm quyền kiểm soát và chỉ huy hoạt động điều tra cho VKS mà không đơn thuần chỉ dừng lại ở những thẩm quyền hiện hành, được quy định tại Điều 36 và Điều 37 BLTTHS. Đồng thời, cần quy định thêm rằng, tại phiên toà xét xử vụ án hình sự, VKS có trách nhiệm bảo vệ lời buộc tội của mình trước các chứng lý của phía gỡ tội.

 

Đối với chủ thể thực hiện quyền bào chữa (gỡ tội) bao gồm bị can, bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự: cần có những quy định đảm bảo thực hiện nguyên tắc tranh tụng, trong đó nội dung quan trọng nhất là quyền được đưa ra bất kỳ chứng cứ nào và vào bất kỳ giai đoạn nào của TTHS, quyền được tiếp cận hồ sơ.v.v. Bộ luật TTHS cũng cần quy định rõ nguyên tắc suy đoán vô tội, theo đó, một trong những nội dung quan trọng của nguyên tắc này là quyền không buộc phải chứng minh là mình vô tội và quyền giữ im lặng đã được đề cập đến trong Công ước của Liên hợp quốc năm 1966 về các quyền chính trị và dân sự mà nước ta dã tham gia.

 

Những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành đang ở trạng thái tạo ra sự chủ quan cho chủ thể đi tìm sự thật của vụ án hình sự. Mặc dù pháp luật có xác định phải xử lý công minh, không làm oan người vô tội, nhưng đứng ở vị thế độc quyền chân lý, sự chủ quan là không tránh khỏi.

 

Các mục đích được đặt ra cho TTHS mà thực chất là mục đích hoạt động của các cơ quan THTT nặng về bảo vệ lợi ích công và coi nhẹ lợi ích của cá nhân những con người cụ thể trong vụ án hình sự. Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ nhắc đến mục đích "bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân" một cách chung chung mà không chỉ rõ là bảo vệ quyền và lợi ích của những người ở vào vị thế bị động và yếu hơn so với bộ máy công quyền hiện diện trong TTHS.

 

Cần tạo cho bị can, bị cáo, người bào chữa của họ có được khả năng và vị thế ngang với khả năng và vị thế của các cơ quan THTT, người THTT trong việc đi tìm sự thật cũng như chống lại những gì phi sự thật, phản sự thật. Cách duy nhất để thoả mãn được yêu cầu đó là đổi mới cách nhìn về mục đích của TTHS theo hướng bình đẳng đối với các giá trị, lợi ích cần đạt được của TTHS, lợi ích của trật tự pháp luật và lợi ích của cá nhân những con người nằm trong vòng tố tụng.

 

Đối với chủ thể của chức năng xét xử: Bộ luật Tố tụng hình sự nước ta cần có quy định nhằm khẳng định lại quy định của Hiến pháp về TA là cơ quan duy nhất thực hiện quyền xét xử. Quyền xét xử với tư cách là một quyền hiến định khi trở thành nội dung của một quyền tố tụng sẽ được thể hiện thông qua chức năng  xét xử với tính cách là chức năng chỉ thuộc về TA.

 

Theo đó, cần đổi mới BLTTHS theo hướng làm rõ hơn vị trí trung tâm của TA. Tại giai đoạn xét xử, TA là chủ thể có toàn quyền điều hành, kiểm soát quá trình tố tụng. Tính chất "trung tâm”, "trọng tâm" của hoạt động xét xử cần được thể hiện qua vai trò duy nhất không thể thiếu được là điều hành phiên tòa theo hướng để bên công tố và phía bị cáo thực hiện được đầy đủ chức năng, thẩm quyền và các quyền tố tụng một cách bình đẳng. Nhất thiết cần bỏ quy định ở Điều 179 BLTT: "Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung", bởi vì quy định này, một mặt, đã trao vào tay TA chức năng buộc tội vốn chỉ thuộc về VKS. Cùng với việc bỏ quy định này, cũng cần phải bỏ quy định tại Điều 195 và Điều 221 BLTTHS, theo đó, mặc dù tại phiên tòa, khi xét hỏi hoặc sau khi tranh luận, Kiển sát viên rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử toàn bộ vụ án. Quy định này cũng đã chuyển vào tay TA chức năng buộc tội vốn phải là của VKS và làm yếu đi vị trí và vai trò vô tư, khách quan trong thực hiện chức năng xét xử của TA.

 

Cần thay đổi toàn bộ quy trình của thủ tục xét hỏi tại phiên toà được quy định tại Chương XX của BLTTHS hiện hành. Bởi lẽ, những quy định này không thể hiện đúng logic của vụ án hình sự, theo đó, sự buộc tội của VKS nhân danh Nhà nước là yếu tố làm khởi động vụ án, làm phát sinh nhu cầu gỡ tội của phía bị cáo vai trò xét xử của TA. Quy định tại Chương XX của BLTTHS cũng đã không đủ khả năng làm cho TA (Hội đồng xét xử) đóng được vai trò xét xử khách quan, vô tư; vai trò tạo điều kiện để các bên buộc tội và gỡ tội làm hết sức mình để đi đến những kết cục cần thiết (cho họ) trong vụ án.

 

2.5. Sửa đổi, bổ sung các quy định về chứng cứ chứng mình

 

Theo những quy định hiện hành thì trong toàn bộ quá trình của vụ án, CQĐT, VKS, TA và chỉ các cơ quan này mới có quyền thu thập chứng cứ, thông qua việc: Triệu tập những người biết về vụ án và nghe họ trình bày; trưng cầu giám định; tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án (Điều 65); các vật chứng phải được đưa vào hồ sơ vụ án hoặc chụp ảnh, ghi hình cũng phải đưa vào hồ sơ vụ án.

 

Trong khi đó, từ phía khác theo BLTTHS người bào chữa chẳng hạn, chỉ được thu thập các tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án và những thứ đó chỉ có thể làm chứng cứ khi được nộp cho các cơ quan THTT. Mặc dù người bào chữa được quyền "đọc, ghi chép, sao chụp các tài liệu trong hồ sơ vụ án", nhưng đấy chỉ là những tài liệu liên quan đến việc bào chữa mà không phải là những tài liệu của cả vụ án. Kiểm sát viên đưa ra danh sách những người được triệu tập để xét hỏi trước tòa và đề xuất tình tự xét hỏi.

 

Như vậy, cần sửa đổi BLTTHS theo hướng tạo ra sự bình đẳng cho cả hai phía trong quá trình thu thập chứng cứ, trình bày chứng cứ và chứng minh; cần từ bỏ mô hình tố tụng thiên về xét hỏi với vị trí và quyền nổi trội, áp đảo của các cơ quan THTT, và với vị trí yếu thế, vai trò bị động của bị cáo và người bào chữa - một quy trình tố tụng làm lệch lạc vai trò trung tâm và không thiên vị của Toà án. Đó là một trong những giải pháp quan trọng để củng cố lòng tin của nhân dân vào công lý xã hội chủ nghĩa. ♦

 


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi