Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm thực hiện chủ trương của Đảng “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với điều tra”

Ths Nguyễn Thị Thủy – Phó Viện trưởng Viện khoa học Kiểm sát, VKSNDTC

 

Xác định rõ các nội dung liên quan đến quyền công tố (QCT), thực hành quyền công tố (THQCT),tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với điều tra.v.v. có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng, nhất là trong điều kiện sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 hiện nay. Giải quyết thấu đáo các vấn đề này sẽ giúp xác định chính xác  chức  năng   bản của tố tụng  hình  sự (TTHS); vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể, nhất là của Viện kiểm sát (VKS) và Cơ quan điều tra (CQĐT) trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

 

Trong hơn một chục năm trở lại đây, các vấn đề liên quan đến QCT (như: Bản chất, nhiệm vụ của QCT; phạm vi hoạt động của QCT; những chủ thể tham gia thực hiện QCT và mối quan hệ giữa các chủ thể này.v.v.) đã dành được sự quan tâm của giới khoa học cũng như những nhà hoạt động thực tiễn. Tuy vậy, cho đến nay, QCT vẫn đang là vấn đề phức tạp, tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, đòi hỏi cần được tiếp tục nghiên cứu nhằm thể chế hóa đúng đắn yêu cầu của Đảng "tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với điều tra”[1] trong quá trình hoàn thiện Luật tổ chức các cơ quan tư pháp và các Luật tố tụng tư pháp thời gian tới.

 

1.  Một số nhận thức về quyền công tố và thực hành quyền công tố

 

Ở nước ta, quá trình xây dựng và tổ chức thực thi QCT gắn liền với quá trình xây dựng nền tư pháp và hệ thống tư pháp. Song nghiên cứu về QCT và THQCT mới chỉ được bắt đầu tiến hành vào những năm 90 của thế kỷ thứ XX. Quá trình nghiên cứu đó thực chất là quá trình nhận diệnQCT. Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về QCT được đưa ra như: (1) Công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS mà chỉ là hình thức để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật; (2) Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án (TA) và thực hiện việc buộc tội đó tại phiên tòa; (3) Quyền công tố là quyền của VKS thay mặt Nhà nước bảo vệ lợi ích công, do vậy QCT không chỉ có trong lĩnh vực TTHS mà còn có trong lĩnh vực tố tụng dân sự, hành chính (thông qua việc VKS thực hiện quyền khởi tố vụ án dân sự, hành chính)[2] ; (4) Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan nhất định khởi tố, điều tra, truy tố người phạm tội ra trước TA và thực hiện việc buộc tội trước phiên tòa [3]; (5) Quan điểm của các luật gia ở miền Nam trước năm 1975 cho rằng QCT là hành vi của các Thẩm phán công tố đưa các phạm nhân ra trước TA để xét xử[4].

 

Thời gian gần đây, các công trình nghiên cứu về QCT cũng như cách giải quyết của BLTTHS năm 2003 đã tiệm cận gần hơn với quan niệm chung về QCT trên thế giới. Chúng tôi bày tỏ sự đồng tình với quan điểm[5] cho rằng: Quyền công tố là quá trình nhân danh Nhà nước (theo sự phân công, ủy quyền của Nhà nước) đi tìm chứng cứ buộc tội, thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự đến cùng đối với người phạm tội ra trước cơ quan xét xử, đồng thời bảo vệ sự buộc tội trước Tòa án. Xét theo sự phân chia các chức năng cơ bản của TTHS thì các hoạt động thực hiện QCT hợp thành chức năng buộc tội.

 

Từ cách xác định QCT là quá trình đi tìm chứng cứ buộc tội, thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự đến cùng đối với người phạm tội như nêu trên nên thực hiện QCT sẽ bao gồm các nhóm hoạt động như: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, điều tra, truy tố, buộc tội bị cáo và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa. Trong đó, khởi tố vụ án được xem là phát súng lệnh của quá trình công tố, là sự tuyên bố Nhà nước bắt đầu can thiệp, xem xét, tố cáo một hành vi có dấu hiệu tội phạm. Kể từ thời điểm này, bộ máy TTHS sẽ chính thức được khỏi động.

 

Xung quanh việc xác định các hoạt động thuộc nội dung QCT, có ý kiến cho rằng, chức năng buộc tội không tồn tại ở giai đoạn điều tra, chức năng buộc tội chỉ xuất hiện tại phiên tòa sơ thẩm do Viện kiểm sát/Viện công tố thực hiện, hoạt động điều tra của Điều tra viên là để thực hiện chức năng điều tra - một chức năng độc lập trước giai đoạn xét xử. Trong giai đoạn điều tra, CQĐT thu thập tất cả chứng cứ nhằm phơi bày sự thật, làm sáng tỏ sự thật vụ án, chưa có mục đích buộc tội hay gỡ tội cho một chủ thể cụ thể nào[6]. Chúng tôi đồng tình với ý kiến cho rằng, ở đây đã có sự nhầm lẫn giữa chức năng của TTHS với chức năng về mặt tổ chức của các cơ quan[7]. Nói đến chức năng TTHSlà nói đến những hoạt động tố tụng chủ yếu mà bất kỳ hệ thống tố tụng nào cũng có: Hoạt động buộc tội, hoạt động bào chữa, hoạt động xét xử. Trong giai đoạn điều tra, ngoài vai trò làm sáng tỏ sự thật vụ án thì CQĐT đã cùng với VKS thực hiện chức năng buộc tội và kể từ thời điểm khởi tố vụ án, bắt giữ người phạm tội, khởi tố bị can, chức năng buộc tội đã được bắt đầu mà không phải chờ đến giai đoạn xét xử sơ thẩm. Ý kiến nêu trên vừa không có cơ sở, vừa phủ nhận trách nhiệm chứng minh tội phạm của CQĐT và VKS với tư cách là cơ quan thực hiện chức năng buộc tội.

 

Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất của hoạt động điều tra, nhất là tính không xác định rõ ràng về phạm vi chứng minh trong giai đoạn đầu của điều tra tội phạm[8], nên mặc dù các nước trên thế giới đều thừa nhận CQĐT cũng  tham gia vào hoạt động thực hiện chức năng công tố, song hoạt động điều tra của cơ quan  điều tra được coi là sự chuẩn bị cho hoạt động buộc tội, hỗ trợ hoạt động buộc tội của Vỉện kiểm sát/Viện công tố[9] . Viện kiểm sát/Viện công tố giữ vai trò chủ trì, quyết định việc thực chức năng công tố, mà đỉnh điểm của quá trình này là việc đưa ralời buộc tội chính thức đối với một cá nhân về một tội danh cụ thể (thể hiện trong quyết định truy tố - cáo trạng) và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa công khai với sự tham dự của đầy đủ các chủ thể đại diện cho các chức năng cơ bản của TTHS ( gọi là duy trì QCT tại phiên tòa). Từ việc xác định vị trí, vai trò của CQĐT, Viện kiểm sát/Viện công tố trong quá trình thực hiện QCT như trên nên hoạt động điều tra của CQĐT phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của hoạt động công tố, giúp VKS/Vỉện công tố đủ chứng cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đến cùng đối với người phạm tội. Viện kiểm sát/Viện công tố có trách nhiệm theo sát, gắn kết chặt chẽ với CQĐT, kịp thời đưa ra các yêu cầu chứng minh tội phạm để bảo đảm quá  trình giải quyết vụ án được nhanh chóng, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Cơ quan điều tra có trách nhiệm  hỗ trợ VKS/Viện công tố và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các yêu cầu của VKS/Viện công tố để cùng hướng đến mục tiêu cao nhất của chức năng công tố là phát hiện tội phạm và đưa kẻ phạm tội ra tòa để xét xử.

 

Nghiên cứu kinh nghiệm các nước thì thấy, mặc dù các nước lựa chọn cách thức khá khác nhau trong xử lý mối quan hệ công tố - điều tra, nhưng đều hướng đến mục tiêu giúp cho cơ quan công tố/cơ quan kiểm sát có những chứng cứ buộc tội vững chắc tại phiên tòa. Theo đó, các nước theo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa (điển hình là Pháp, Đức, Italia...)giao cho Viện công tố thẩm quyền làm đầu mối trong việc tiếp nhận mọi tố giác, tin báo về tội phạm, có quyền điều tra với mọi loại tội phạm (mặc dù, trên thực tế hầu hết hoạt động điều tra đều do Cảnh sát thực hiện), chi đạo, giám sát hoạt động điều tra của Cảnh sát. Các nước theo truyền thống luật án lệ (điển hình là Anh, Mỹ), tuy Viện công tố không tham gia sâu vào hoạt động đỉều tra, không chi đạo, giám sát hoạt động điều tra của Cảnh sát nhưng khi nhận được kết quả điều tra do Cảnh sát chuyển sang thì thực hiện thẩm quyền độc lập trong thẩm định, đánh giá chứng cứ, nếu thấy đủ chứng cứ thì truy tố, đưa vụ án ra tòa, nếu không đủ chứng cứ buộc tội thì trả hồ sơ cho Cảnh sát. Việc truy tố chỉ được tiến hành nếu hồ sơ vụ án đáp ứng yêu cầu: Đã đủ chứng cứ kết luận một người phạmtội. Thời gian gần đây, các nước theo truyền thống luật án lệ cũng bắt đầu hình thành xu hướng tăng cường vai trò và sự hiện diện của cơ quan công tố trong hoạt động điều tra, trong một số trường hợp, cơ quan công tố tham gia điều tra từ đầu (phá vỡ truyền thống công tố tách biệt điều tra ở những nước này). Ví dụ: Năm 1998, Nghị viện Hoa Kỳ đã quyết định Viện công tố phải cử các Công tố viên đến làm việc tại Sở Cảnh sát, đưa ra những kiến nghị cho Cảnh sát, ngoài ra còn cỏ thẩm quyền trực tiếp điều tra tội phạm kinh tế, chức vụ[10] . Năm 1998, Viện công tố Anh đã thành lập văn phòng đấu tranh chống những vụ án lừa đảo nghiêm trọng, có quyền trực tiếp điều tra những tội phạm lừa đảo nghiêm trọng.

 

Ở Việt Nam, quá trình phát triển của TTHS từ năm 1945 đến nay chịu ảnh hưởng lớn từ mô hình TTHS Pháp và Xô Viết. Theo đó, VKS có trách nhiệm rất lớn trong hoạt động điều tra, tham gia ngay từ khi có tố giác, tin báo về tội phạm và trong suốt quá trình điều tra vụ án. Mặc dù pháp luật không quy định VKS có trách nhiệm chỉ đạo điều tra, song các quy định của pháp luật giao cho VKS trách nhiệm quyết  định các nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động điều tra như: Quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu điều tra;quyết định việc áp dụng hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung; quyết định việc truy tố.

 

Cải cách tư pháp ở nước ta hơn chục năm trở lại đây[11] triển khai theo hướng: Một mặt, tiếp tục khẳng định mô hình công tố - điều tra trong pháp luật hiện hành; đồng thời, đặt yêu cầu tăng cường hơn nữa trách nhiệm của VKS trong giai đoạn điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điêu tra[12]. Chúng tôi cho rằng, cách đặt vấn đề "Tăng cường trách nhiệm củaViện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với điều tra” là định hướng mang tầm chiến lược, chính là lời giải cho bài toán đẩy mạnh tranh tụng tại phiên tòa; tăng cường khả năng phát hiện và chống bỏ lọt tội phạm.

 

2.  Những bất cập trong tổ chức và thực hiện quyền công tố nước ta

 

Thứ nhất, bất cập trong quản lý thông tin về tội phạm: Một nền công tố mạnh phải đáp ứng yêu cầu nắm bắt đầy đủ, kịp thời thông tin về tội phạm, đồng thời phân định đúng đắn thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan trong quản lý và xử lý các thông tin về tội phạm. Tố tụng hình sự nước ta chưa làm được điều này.

 

Tố tụng hình sự giao cho các CQĐT và VKS cùng có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Sau khi tiếp nhận, VKS có trách nhiệm chuyển ngay cho CQĐT để tiến hành xác minh nhưng pháp luật lại không quy định trách nhiệm của CQĐT thông báo cho VKS các tố giác, tin báo thu thập được, CQĐT chỉ có trách nhiệm thông báo cho VKS kết quả xác minh tố giác, tin báo về tội phạm. Cách giải quyết như trên dẫn đến không có cơ quan nào đuợc giao thực hiện trách nhiệm thống nhất quản lý các tố giác, tin báo về phạm (không nắm đượcđầu vào của tình hình phạm tội).

 

Thứ hai, Viện kiểm sát là cơ quan chủ trì thực hành quyền công tố nhưng không nắm được "đầu vào " của tình hình phạm tội:Xuất phát từ vai trò của cơ quan chủ trì thực hiện QCT, thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đến cùng đối với người phạm tội nên pháp luật quy định VKS phải bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khỏi tố, điều tra, xử lý kịp thời[13]. Tuy nhiên, với các cơ chế pháp luật hiện hành, VKS không đủ điều kiện để thực hiện trách nhiệm quan trọng đó của cơ quan THQCT; không nắm được "đầu vào" của tình hình tội phạm; không có quyền xác minh tố giác, tin báo về tội phạm. Thực tế đó làm cho VKS ở vào thế thụ độngtrong thực hiện trách nhiệm công tố ngay từ khâu khởi tố vụ án; làm giảmvai trò, tác động của VKS đến trách nhiệm của CQĐT trong phát hiện, khám phá tội phạm. Đồng thời, các quy định của pháp luật hiện hành cũng tạo ra không ít khó khăn với VKS khi kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT.

 

Thứ ba, chưa giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các cơ quan trong quá trình thực hành quyền công tố:

 

-  Viện kiểm sát bị phụ thuộc vào CQĐT trong quá trình thực hành quyền công tố. Là cơ quan THQCT nhưng pháp luật nước ta lại đang giải quyết vấn đề theo hướng hạn chế sự chủ động của cơ quan công tố. Quá trình tiếp nhận và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, VKS chỉ có quyền kiểm sát việc giải quyết của CQĐT, không có quyền trực tiếp xác minh tố giác, tin báo về tội phạm khi thấy cần thiết (ví dụ: Việc xác minh của CQĐT không khách quan hoặc có vi phạm pháp luật). Đối với hoạt động khởi tố, VKS chỉ thực hiện thẩm quyền khởi tố vụ án trong trường hợp VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT. Nếu CQĐT đình chỉ điều tra với lý do không có sự việc phạm tội thì VKS cũng không có biện pháp nào để làm sáng tỏ vụ án đưa người phạm tội ra tòa để xét xử.

 

-   Thiếu cơ chế bảo đảm các yêu cầu, quyết định của công tố phải được thực hiện. Điều tra tội phạm là tiền đề của công tố, là sự chuẩn bị cho hoạt động công tố. Quá trình thực hiện chức năng công tố, VKS được giao trách nhiệm quyết định việc buộc tội, thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đến cùng với người phạm tội, trực tiếp thực hiện truy tố, buộc tội, luận tội tại phiên tòa. Chất lượng điều tra quyết định chất lượng công tố, thiếu những chứng cứ trong giai đoạn điều tra thì Kiểm sát viên sẽ rất khó có thể thành công để thực hiện việc buộc tội, tranh tụng tại phiên tòa. Do hoạt động điều tra của CQĐT phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu của hoạt động công tố, thực hiện nghiêm túc các yêu cầu của VKS. Khi các yêu cầu, quyết định tố tụng của VKS không được CQĐT thực hiện hoặc thực hiện không đạt yêu cầu thì pháp luật phải có cơ chế để bảo đảm cho các yêu cầu, quyết định đó phải được thực hiện, điều đó chính là để thực hiện mục tiêu của chức năng công tố - phát hiện tội phạm và đưa kẻ phạm tội ra tòa. Tuy nhiên pháp luật TTHS nước ta lại chưa đáp ứng được yêu cầu này. Thực tiễn cho thấy, nhiều yêu cầu, quyết định tố tụng của VKS không được CQĐT thực hiện, song lại không có biện pháp để xử lý. Thực tế này ảnh hưởng đến mục tiêu, hiệu quả của hoạt động công tố, gây khó khăn đối với VKS trong thực hiện chức năng công tố, là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, làm kéo thời hạn giải quyết vụ án.

 

-  Việc thu hẹp thẩm quyền điều travà bộ máy điều tra của Viện kiểm sát. Lần sửa đổi BLTTHS vào năm 2003 được đánh giá là những bước cải cách đáng kể, tạo cơ sở cho việc tăng cường trách nhiệm của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tăng cường hơn tính dân chủ, công khai trong hoạt động TTHS. Tuy nhiên, việc thu hẹp thẩm quyền của CQĐT thuộc VKS và không tổ chức CQĐT của VKS ở cấp tinh, chỉ tổ chức duy nhất tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao là biểu hiện của việc chưa nhận thức đúng đắn về QCT và tổ chức thực hiện QCT.Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 đã rất tiến bộ khi giao cho VKS thẩm quyền điều tra bất kỳ vụ án nào khi Viện trưởng VKS xét thấy cần thiết. Qua tổng kết thực tiễn cho thấy, lý do cần thiếtở đây chủ yếu được áp dụng đối với truờng hợp VKS xét thấy việc điều tra không đầy đù, không khách quan, có vi phạm pháp luật nghiêm trọng; hoặc các yêu cầu, quyết định của VKS không được CQĐT thực hiện, cần nhận thức rằng, thẩm quyền điều tra của VKS thực chất là một trong những biện pháp để thực hiện đầy đủ trách nhiệm công tố. Nghiên cứu kinh nghiệm các nước cho thấy, các nước đều có hai hệ thống cơ quan độc lập: Cơ quan điều tra và cơ quan Công tố, nhưng hầu hết các nước đều giao cho cơ quan Công tố/VKS thẩm quyền điều tra tội phạm, tuy rằng phạm vi và mức độ tham gia điều tra không giống nhau. Ở các nước theo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa (Pháp, Đức, Italia) giao cho cơ quan công tố thẩm quyền điều tra với mọi loại tội phạm; tuy nhiên, trên thực tế hầu hết việc điều tra do Cảnh sát tiến hành, cơ quan Công tố chủ yếu thực hiện thẩm quyền chỉ đạo, giám sát hoạt động điều tra của Cảnh sát. Ở một số nước (Nhật Bản, Trung Quốc...) lại giao cho Viện kiểm sát/Viện công tố trực tiếp điều ta tội phạm tham nhũng, các vụ án kinh tế có quy mô lớn. Ở một số nước khác lại quy định Công tố viên có trách nhiệm cùng tham gia điều tra với Cảnh sát...

 

Thứ tư, chưa có sự tương xứng giữa trách nhiệm pháp lý phải gánh vác với quyền hạn được giao: Một trong những yêu cầu quan trọng của Nhà nước pháp quyền đó là không chỉ công dân có trách nhiệm với Nhà nước mà Nhà nước cũng phải có trách nhiệm với công dân. Thể chế hóa tư tưởng đó, cải cách tư pháp ở nước ta thời gian qua được triển khai theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng tư pháp. Theo đó, các cơ quan và người THTT phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công dân nếu để xảy ra oan, sai trong quá trình giải quyết vụ án. Ở đây, chúng tôi không đi vào luận giải tính hợp lý hay không hợp lý của việc xác định trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tư pháp như một số ý kiến nêu thời gian qua. Chúng tôi đồng tình với quan điểm Nhà nước làm sai cho công dân thì Nhà nưóc phải có trách nhiệm bồi thường, không loại trừ lĩnh vực hoạt động nào của Nhà nước, vấn đề đặt ra là phải thiết kế các thẩm quyền, thủ tục một cách hợp lý để các cơ quan Nhà nước thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình, tránh rơi vào trường hợp làm oan, làm sai và phải bồi thường thiệt hại.

 

Tố tụng hình sự nước ta giải quyết vấn đề theo hướng trong giai đoạn điều tra, CQĐT chỉ chịu trách nhiệm bồi thường đối với hai trường hợp: 1) Ra quyết định tạm giữ (3 ngày đầu) nhưng bị VKS hủy bỏ quyết định tạm giữ vì người bị tạm giữ không có hành vi vi phạm phạm luật; 2) Ra quyết định khởi tố bị can nhưng VKS không phê chuẩn vì người bị khởi tố không thực hiện hành vi phạm tội. Kể từ thời điểm này, việc gia hạn tạm giữ, khởi tố bị can, quyết định tạm giam.v.v. thuộc trách nhiệm phê chuẩn của VKS và phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của VKS nếu để xảy ra oan, sai trong hoạt động TTHS. Như vậy, TTHS nước ta giao trách nhiệm rất lớn cho VKS, Viện kiểm sát có trách nhiệm bảo đảm cho quá trình chứng minh tội phạm được triệt để, khách quan, đúng pháp luật. Nếu VKS không thực hiện tốt trách nhiệm này thì VKS phải trả giá bằng chính uy tín của mình trước phiên tòa sơ thẩm, phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với toàn bộ hoạt động tố tụng tiến hành trước phiên tòa sơ thẩm. Trách nhiệm nặng nề là như vậy, nhưng các cơ chế pháp luật hiện hành không bảo đảm để VKS hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong một số trường hợp, thời hạn để VKS tiếp cận với quá trình giải quyết vụ án và tiến hành phê chuẩn các quyết định là quá ngắn[14]; các yêu cầu của VKS liên quan đến việc chứng minh tội phạm nếu không được CQĐT thực hiện thì VKS cũng không có biện pháp để xử lý nhằm bảo đảm đủ chứng cứ buộc tội tại phiên tòa...

 

3. Một số đề xuất, kiến nghị

 

Thứ nhất, cần giao cho một cơ quan quản lý thống nhất mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đây là vấn đề hết sức cần thiết của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Xung quanh vấn đề này, hiện tồn tại hai loại ý kiến:

 

- Loại ý kiến thứ nhất đề nghị:Giao cho nhiều cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm (cơ quan Công an, VKS, TA, các cơ quan, tổ chức khác). Viện kiểm sát làm đầu mối tiếp nhận mọi tố giác, tin báo về tội phạm từ các cơ quan này chuyển về và quyết định việc xác minh tố giác, tin báo về tội phạm.

 

-   Loại ý kiến thứ hai đề nghị: Tiếp tục giao cho CQĐT chủ động xác minh tố giác, tin báo về tội phạm như hiện nay nhưng sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm phải có trách nhiệm thông báo ngay cho VKS để VKS tiến hành kiểm sát.

 

Chúng tôi cho rằng, việc giao cho VKS làm đầu mối nắm và quản lý mọi tố giác, tín báo về tội phạm là hoàn toàn phù hợp với vị trí, trách nhiệm của cơ quan THQCT, tạo cho VKS chủ động trong THQCT ngay từ khâu xem xét khởi tố vụ án và thực hiện tốt trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Tuy nhiên, để phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, không gây xáo trộn lớn, trước mắt chỉ nên quy định CQĐT sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm phải thông báo ngay cho VKS. Viện kiểm sát sẽ vào cuộc cùng với CQĐT từ thời điểm này và chỉ trực tiếp xác minh tố giác, tin báo tội phạm khi xét thấy cần thiểt (ví dụ: Khi phát hiện việc xác minh của CQĐT vi phạm nghiêm trọng pháp luật, bỏ lọt tội phạm, có khiếu nại…). Nhiệm vụ xác minh tố giác báo về tội phạm vẫn chủ yếu do CQĐT đảm nhiệm như hiện nay. Về lâu dài, cần tính toán để có cơ chế chia sẻ trách nhiệm giữa Công an các cấp với CQĐT trong việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm nhằm tránh áp lực cho CQĐT, phù hợp với thực tiễn thực hiện hiện nay[15]. Đồng thời, nghiên cứu viêc giao cho VKS làm đầu mối quản lý và quyết định việc xác minh tố giác, tin báo về tội phạm phù hợp với vị trí, trách nhiệm của cơ quan THQCT (quyết định phát động công tố quyền); trên cơ sở đó quy định lại đường đi của những tố giác, tin báo về tội phạm từ các cơ quan này về VKS.

 

Thứ hai,xây dựng mô hình quan hệ VKS và CQĐT trên cơ sở nhận thức đúng về QCT và tổ chức thực thi QCT, phát huy tối đa trách nhiệm của các cơ quan này trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; bảo không trùng dẫm, làm thay chức trách, nhiệm vụ của nhau và cũng không đùn đẩy trách nhiệm. Cụ thể là:

 

-   Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm tăng cường sự phối hợp giữa VKS và CQĐT ngay từ khâu tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và trong suốt quá trình điều tra vụ án. Điều này hoàn toàn phù hợp với bản chất của hoạt động điều tra và hoạt động công tố - hai hoạt động có chung định hướng, chung mục đích. Có như vậy sẽ giúp giảm bớt thời gian tố tụng, tránh việc trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, sớm đưa tội phạm và người phạm tội ra tòa xét xử.

 

-   Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm khắc phục tình trạng thụ động và lệ thuộc của VKS vào CQĐT như hiện nay, dành cho VKS quyền chủ động trong thực hiện chức năng công tố nhưng phải trên cơ sở không lấn sân hoặc làm thay chức năng của CQĐT. Viện kiểm sát chỉ tiến hành các biện pháp công tố (như: Trực tiếp xác minh tố giác, tin báo về tội phạm; khởi tố vụ án; khởi tố bị can; trực tiếp điều tra vụ án.v.v.) khi VKS đã yêu cầu CQĐT thực hiện mà CQĐT không thực hiện hoặc thực hiện không đạt kết quả hoặc có vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

 

-   Bên cạnh thẩm quyền điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các quan tư pháp như quy định của pháp luật hiện hành, bổ sung thẩm quyền điều tra của VKS theo hướng: Khi phát hiện việc điều tra không khách quan, không đầy đủ hoặc có vi phạm pháp luật nghiêm trọng và VKS đã ban hành các yêu cầu, quyết định tố tụng đối với CQĐT nhưng CQĐT không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không đạt hiệu qủa hoặc trong các trường hợp khác mà Viện trường VKS xét thấy cần thiết để thực hiện đầy đủ trách nhiệm công tố thì VKS có thể rút vụ án để trực tiếp điều tra. Đồng thời, có bộ máy để thực hiện tốt trách nhiệm điều tra này.

 

Thứ ba,tiếp tục giao cho VKS trách nhiệm phê chuẩn các quyết định tố tụng quan trọng trong giai đoạn điều tra như hiện nay và phải chịu trách nhiệm bồi thường các trường hợp oan, sai thuộc phạm vi phê chuẩn của mình. Tuy nhiên, cần rà soát các quy định hiện hành liên quan đến thời hạn tố tụng, cơ chế tố tụng để bảo đảm VKS đủ điểu kiện thực hiện tốt trách nhiệm được giao, tránh xảy ra oan, sai cho công dân và phải bồi thường thiệt hại.

 

Thứ tư,về mặt nhận thức lý luận, đã đến lúc cần suy nghĩ một cách thấu đáo về cách phân chia các giai đoạn tố tụng hiện nay (giai đoạn khỏi tố, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử...). Việc phân chia giai đoạn tố tụng như nêu trên vô hình chung tạo sự cắt khúc của quá trình THQCT cả trên phương diện nhận thức và hành động, coi truy tố là giai đoạn độc lập tiếp sau của giai đoạn điều tra. Không phải là không có lý khi nhiều nước trên thế giới chỉ chia quá trình TTHS thành 2 giai đoạn: Giai đoạn tiền xét xử và giai đoạn xét xử.

 


[1] Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005; Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Tr 127; Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, tr 251.

[2] Giáo trình công tác kiểm sát, Trường Cao đẳng kiểm sát, 1988

[3] Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 1998, tr204

[4] Trích theo Nguyễn Thái Phúc, Một số vấn đề về quyền công tố của Viện kiểm sát, Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp Bộ của VKSNDTC, 1999

[5] Trần Văn Độ, một số vấn đề về quyền công tố, Kỷ yếu Đề tại khoa học cấp Bộ của VKSNDTC, 1999; Trần Đình Nhã, Vị trí tố tụng, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, mối quan hệ giữa VKS và CQĐT trong tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Kỷ yếu Hội thảo xây dựng BLTTHS, tháng 6/2011.

[6] V.M.Xavitxki, Buộc tội nhà nước tại phiên tòa, Nxb Khoa học, Matsxcova, 1971, tr19

[7] Đào Trí Úc, Tổng quan về mô hình tố tụng hình sự Việt Nam- thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Kỷ yếu Hội thảo xây dựng BLTTHS, tháng 6/2011

[8] Giai đoạn đầu, hoạt động điều tra có tính chất tìm kiếm, kiểm tra các tình tiết, giả thiết khác nhau để loại trừ những giả thiết không đúng, các tình tiết không liên quan. Tình trạng này kéo dài cho đến khi chủ thể chứng minh nhận biết được những liên hệ khách quan giữa các sự kiện hoặc cơ sở tồn tại của một giả thiết nhất định trong số các giả thiết đặt ra ban đầu. Chủ thể này đi đến những nhận định, kết luận và thể hiện trong dạng đề cươn, luận điểm cụ thể. Kể từ thời điểm này trở đi, hoạt động điều tra, chứng minh có định hướng cụ thể.

[9] Học viện kiểm sát quốc gia Trung Quốc, giáo trình chế độ công tố (tập II), Nxb Pháp luật, Bắc Kinh 2002.

[10] Lưu Lập Hiến (Chủ biên), Xu hướng cải cách tư pháp nước ngoài, Tập 2, Nxb Phương Chính – Trung Quốc, năm 2000, tr96.

[11] Tính từ thời điểm Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 53 –CT/TW ngày 21/3/2000 của Bộ Chính Trị về một số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000.

[12] Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3/2000, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005, Văn kiện Đại hội X, XI.

[13] Điều 12 Luật Tổ chức VKSND năm 2002.

[14] Nhiều trường hợp chỉ đến khi CQĐT chuyển kết quả xác minh tố giác, tin báo, quyết định khởi tố vụ án, đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can thì VKS mới tiếp cận được vụ việc, trong khi đó thời hạn phê chuẩn chỉ được phép trong 3 ngày.

[15] Hiện nay, tố giác, tin báo về tội phạm do công dân cung cấp chủ yếu đến cơ quan Công an các cấp, nhất là Công an cấp xã, Công an cấp huyện.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi