Cần thống nhất nhận thức về các khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và các nguồn thông tin về tội phạm
 
Tiếng việt   |   English "Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt được mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư". (Hồ Chí Minh)

Cần thống nhất nhận thức về các khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và các nguồn thông tin về tội phạm
Cập nhật lúc: 29/11/2012 10h 25' 29"

Thạc sĩ Lê Ra – Phó Viện trưởng VKSND quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng

Công tác tiếp nhận và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là một trong những hoạt động quan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân. Thông qua việc thực hiện tốt công tác này, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) mới có cơ sở để đảm bảo hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra (CQĐT) đúng pháp luật, có căn cứ, khách quan và triệt để; mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; bảo đảm sự tuân thủ pháp luật của CQĐT và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, VKSND các cấp vẫn chưa quản lý chặt chẽ, đầy đủ các tố giác, tin báo về tội phạm. Tình trạng vi phạm pháp luật về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT vẫn còn xảy ra nhung chưa có biện pháp khắc phục một cách hiệu qu. Chất lượng công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm còn hạn chế. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là về mặt nhận thức của một số lãnh đạo và cán bộ, Kiểm sát viên VKSND các cấp vẫn còn chưa đầy đủ, toàn diện và chưa thống nhất về những khái niệm liên quan đến công tác này, dẫn đến việc vận dụng vào thực tiễn còn khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi phân tích, xác định các khái niệm cơ bn: Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, các nguồn thông tin v tội phạm nhm góp phần thống nhất nhận thức, nâng cao cht lượng công tác kim sát việc tiếp nhn,giải quyết tố giác, tin báo v tội phạm của VKSND trong thời gian tới.

1.      Khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm

  Dưới góc độ ngôn ngữ học, thìcác thuật ngữ: Tố cáo, tố giác, tin báo được hiểu là:

Tố cáo: 1. Báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó. 2. Vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn.

Tố giác: 1. Báo cho cơ quan chính quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó.

Tin: 1. Điều được truyền đi, báo đi cho biết về sự việc, tình hình xảy ra. 2. Sự truyền đạt, sự phản ánh dưới các hình thức khác nhau, cho biết v thế giới chung quanh và những quá trình xảy ra trong nó (Một khái niệm cơ bản của điều khiển học).

Báo: 1. Cho biết việc gì đó đã xảy ra. 2. Cho người có trách nhiệm nào đó biết về việc xảy ra có thể hại đến trật tự an ninh chung... Là dấu hiệu cho biết trước[1].

Trên bình diện pháp lý, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật Tố cáo năm 2011 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2012) thì: "Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Tố cáo đây là khái niệm chung, là việc công dân thực hiện quyền của mình báo tin về tất cả các hành vi vi phạm pháp luật nói chung cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết. Tuỳ theo lĩnh vực pháp luật bị vi phạm mà người ta phân biệt các loại tố cáo khác nhau. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự (TTHS)(khoản 3 Điều 31 Luật T cáo). Việc tố giác và tin báo về tội phm được thực hiện theo quy định của pháp luật về TTHS (khon 1 Điều 3 Luật Tố cáo).

Như vậy, trong TTHS, tố cáo hành vi phạm tội được gọi là Tố giác về tội phạm. Đâychính là việc thuộc nội dung khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm.

Tố cáo và tố giác về tội phạm có nhữngđiểm khác biệt nhất định. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật, không phân biệt tính chất, mức độ vi phạm. Còn tố giác về tội phạm ch bao gồm hành vi vi phạm pháp luật có thể cấu thành tội phạm đã được quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS). Do đó, có thể nói, khái niệm tố cáo rộng hơn và cơ bản đã bao hàm c khái niệm tố giác về tội phạm theo luật TTHS. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai khái niệm này là: Tố cáo là quyền của công dân, còn tố giác về tội phạm vừa là quyền, vừalà nghĩa vụ của công dân. Quan hệ pháp luật về tố cáo hành vi vi phạm pháp luật ch phát sinh sau khi công dân thực hiện quyền tố cáo, còn quan hệ pháp luật tố giác về tội phạm thì phát sinh ngay khi công dân biết về tội phạm. Công dân có quyền quyết định việc mình sẽ to haykhông một hành vi vi phạm pháp luật nhưng bắt buộc phải tố giác nếu đã biết rõ về một tội phạm đang chun bị hoặc đã được thực hiện. Công dân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội: "Không tố giác tội phạm” theo quy định tại Điều 314 BLHS, nếu biết mà không giác tội phạm.

phương diện phản ánh, những thông tin về tội phạm là kết quả phản ánh của những tội phạm đó trong hiện thực khách quan, sự tồntại của những thông tin này mang tính quy luật. Những thông tin này tồn tại ở dạng vật chất, đó là tín hiệu thông tin. Trong hoạt điu tra tội phạm, tín hiệu thông tin có thể tồn tại ở hai dạng: Vật chất và tư tưởng ý nghĩ. Hai hình thức tồn tại của tín hiệu thông tin này chính là sự đa dạng của những dấu vết tộiphạm để lại trong môi trường xung quanh.

phương diện điều tra khám phá tội phạm, tố giác, tin báo về tội phạm là những thông tin ban đầu, có ý nghĩa rất lớn cho các cơ quan pháp luật xem xét tính chất nghiêm trọng hay không của sự việc đã được những chủ thể báo tin, t giác đến; tính cnh xác và độ tin cậy của các thông tin đến đâu; dấu hiệu của tội phạm hay không... Tố giác, tin báo về tội phạm là căn cứ để CQĐT m ra nhng hoạt động điều tra, xác minh theo luật định.

Có nhiều cách hiểu về tố giác, tin báo tội phạm. Có quan điểm xác định: Ch có tin báo do nhân dân, đài báo, cơ quan, tổ chức các cấp, kiến nghị mới là t giác, tin báo về tội phạm; hoặc có quan điểm cho rằng, mọi thông tin liên quan đến tội phạm đều là tin báo, tố giác. Có quan điểm nêu: "Tố giác v tội phạm là việc công dân tố giác về hành vi tội phạm được quy định trong BLHS, còn tin báo v tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong BLHS do cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, t chức xã hội cung cấp cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết; do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú[2].

Quan điểm khác cho rng: "T giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện, tố cáo người phạm tội hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thm quyn gii quyết theo quy định tại khoản 1 Điu 100, Điều 101 và Điều 103 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tin báo về tội phạm là việc các cơ quan, tổ chức báo tin hoặc đăng tin có nội dung phn ánh về tội phạm xảy ra cho cơ quan có thẩm quyn giải quyết theo quy định tại khoản 2, 5 Điu 100, Điu 101 và Điều 103 của Bộ luật Tố tng hình sự"[3] .Trái lại, có quan điểm xác định rằng, không th phân biệt giữa tin báo và tố giác về tội phạm. Hiện nay, có quan điểm đưa ra khái niệm t giác, tin báo về tội phạm không rõ đối tượng; dựa theo sự phân loại tố giác, tin báo về tội phạm mà người báo tin, tố giác và k cả CQĐT tiến hành xác minh nhưng không xác định rõ đi tượng gây ra. Ví dụ, một người đến cơ quan có thm quyền trình báo bị mất chiếc xe mô tô trị giá trên 30 triệu đồng nhưng không xác định ai là người đã trộm cp chiếc xe đó. Cách hiu này không đúng với bản chất của t giác, tin báo về tội phạm. Dù rõ hay không rõ đối tượng, đó vẫn là tố giác, tin báo về tội phạm. Với cách hiểu trên, dẫn đến tình trạng các cơ quan có thẩm quyền không đưa vào giải quyết và kiểm sát việc giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm loại này, và hệ qu của nó là việc đánh giá tình hình tội phạm chưa chính xác, làm hạn chế kết quả công tác đu tranh phòng, chống tội phạm.

Các quan điểm trên chưa nêu rõ, đầy đủ về khái niệm tin báo và tố giác về tội phạm, chưa phân biệt rõ tố giác và tin báo, hoặc là nhấn mạnh tiêu chí không thuộc nội hàm của khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm.

Tại Thông tư liên ngành số 03/TT-LN ngày 15/5/1992 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) - Bộ Quốc phòng - Bộ Lâm nghiệp - Tổng cục Hài quan (sau đây viết tắt là Thông tư liên tịch số 03): Hướng dẫn thi hành các quy định của Luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, gii quyết tố giác, tin báo về tội phạm đã nêu định nghĩa: "Tin báo và tố giác về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong BLHS do công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (gọi tắt là người, cơ quan, t chức) cung cp cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết; do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú”. Định nghĩa này đến nay có nhiều điểm chưa phù hợp. Trong khi đó, BLTTHS hiện hành không quy định thế nào là tố giác, tin báo về tội phạm và liên ngành trung ương cũng chưa có văn bản thay thế Thông tư liên ngành số 03 nói trên v khái niệm tố giác, tin báo v tội phạm trên.

Theo quy định tại Điều 101 BLTTHS thì ch thể của tố giác về tội phạm ch có thể là cá nhân; chủ thể của tin báo về tội phạm ch có thể là cơ quan, tổ chức. Cơ quan, tổ chức đây được hiu là bất cứ cơ quan, t chức nào. Như vậy, theo chúng tôi, có thể rút ra các khái niệm tin báo v tội phạm t giác v tội phạm như sau:

Tin báo về tội phạm là việc các cơ quan, tổ chức báo tin hoặc đăng tin có nội dung phản ánh về tội phạm xảy ra cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của BLTTHS.

Tố giác về tội phạm được hiểu là việc cá nhân phát hiện, tố cáo người phạm tội hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của BLTTHS.

Và có thể nêu một khái niệm chung về tgiác, tin báo về tội phạm như sau:

Tố giác, tin báo về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong BLHS do công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế,... (gọi tắt là người, cơ quan, tổ chức) cung cấp bằng các hình thức thông tin khác nhau; do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú để cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết theo quy định của BLTTHS.

2. Khái niệm kiến nghị khởi t

Dưới góc độ ngôn ngữ học, thuật ngữ "Kiến nghị” đuợc hiểu là: "Nêu ý kiến đề nghị về một việc chung để cơ quan có thẩm quyền xét"; "Yêu cầu" là: "Nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn người ấy làm, biết rằng đó là việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của người ấy"[4]. Hai thuật ngữ này đều có ý chung là đề nghị một cơ quan, một người nào đó làm một việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm, khả năng của họ.

góc độ pháp lý, theo chúng tôi, kiến ngh khởi tlà quyền của cơ quan nhà nước, thể hiện bng văn bn kiến nghị gửi đến CQĐT và Viện kim sát (VKS), yêu cầu khi tố vụ án hình sự đ điều tra, xử lý tội phạm và người phạm tội nào đó. Kiến nghị khởi tố là một dạng đặc biệt của tin báo về tội phạm. Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định tất cả các cơ quan nhà nước đều có quyền kiến nghị khi tố: "Cáccơ quan Nhà nước phải thường xuyên kim tra, thanh tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật đ x lý và phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kim sát mọi hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình; có quyền kiến nghị và gửicác tài liệu có liên quan cho Cơ quan điu tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố đối với người có hành vi phạm tội ” (khoản 1 Điều 26 BLTTHS). Tuy nhiên, trong thực tiễn, các văn bảnkiến nghị thông thường là của cơ quan Thanh tra, tòa án. Đối với cơ quan Thanh tra: Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, nếu cơ quan Thanh tra phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm, thì trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày phát hiện dấu hiệu tội phạm, phải chuyển hồ sơ vụ việc đó và bản kiến nghị khởi tố đến CQĐT có thầm quyền để xem xét khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp biết. Đối với tòa án: Kiến nghị khi tố được thể hiện bng "Yêu cầu khi tố vụ án ” của Hội đồng xétxử (HĐXX). Khon 1 Điều 104 BL 2003 quy định: "Hội đồng xét x ra quyết địnhkhởi tố hoặc yêu cầu Viện kim sát khởi tố vụán hình sự nếu qua việc xét xử tại tòa án mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điu tra. Quy định như trên chính là sự thay đổi cách thức xử lý thông tin về tội phạm của cơ quan xét x, thể hiện ở chỗ: Không phải là Toà án nói chung mà chính là HĐXX thông qua việc xét x tại phiên tòa mà phát hiện tội phạm thì có hai cách xử lý: Ra Quyết định khởi t vụ án hình sự hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự.

Có quan điểm cho rng: "Kiến nghị là văn bản kiến nghị khởi tố cùng hồ sơ, tài liệu về hành vi vi phạm pháp luật của tội phạm được phát hiện thông qua hoạt  động thanh tra, kiểm tra của cơ quan chức năng được gửi đến cơ quan Cảnh sát điều tra hoặc Viện kiếm sát nhân dân”[5].Quan điểm này chưa xác định rõ chủ thể của kiến nghị khởi tố. Quan điểm khác cho rằng: "Kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan nhà nước thông qua công tác kiểm tra, thanh tra phát hiện có hành vi phạm tội, hành vi có dấu hiệu tội phạm và có văn bản, kèm theo tài liệu có liên quan, kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét, khởi tố đối với người có hành vi phạm tội”[6]. Quan điểm này đã xác định chủ thể của kiến nghị khởi tố là các cơ quan nhà nuớc. Tuy nhiên, cả hai quan điểm trên đều cho rằng thông qua công tác thanh tra, kiểm tra phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm mới có kiến nghị khởi tố. Chúng tôi cho rằng, quan niệm như vậy là chưa phù hợp, bởi vì, cơ quan Toà án thông qua công tác xét xử cũng có quyền kiến nghị khởi tố.

Về lý luận, cần phân biệt trường hợp nào cơ quan nhà nước là chủ thể của tin báo về tội phạm và trường hợp nào là chủ thể của kiến nghị khởi tố:

Cơ quan nhà nước là chủ thể của kiến nghị khi tố trong trường hợp thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, xét xử... phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm thì thu thập hồ sơ, tài liệu liên quan, kèm theo văn bản kiến nghị khởi tố gửi đến CQĐT, VKSND cùng cấp đề nghị khởi tố vụ án. Ví dụ: Thông qua công tác thanh tra tại Ủy ban nhân dân phường, Thanh tra nhà nước quận phát hiện có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực quản lý ngân sách Nhà nước nên đã lập h sơ, tài liệu kèm theo văn bản kiến nghị khi t gửi đến CQĐT, VKSND cùng cấp.

Cơ quan nhà nước là chủ thể của tin báo về tội phạm trong trường hợp thông qua công tác qun lý hoặc công tác khác, phát hiện vi phạm có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực mình quản lý thì cung cấp thông tin cho cơ quan có thm quyền để xem xét, giải quyểt

Theo sự phân tích trẽn, chúng ta thấy, pháp luật quy định ch có cơ quan nhà nước mới có quyền kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên, hiện nay, BLTTHS và các văn bản pháp luật khác chưa có quy định rõ ràng, đầy đủ thế nào là kiến nghị khởi tố; phân biệt giữa "Kiến nghị khởi tố""Yêu cầu khởi tố”. Theo chúng tôi, BLTTHS cần xác định tên gọi chung là "Kiến nghị khởi tố" đối với các chủ thể là cơ quan nhà nước, tổ chc, vì đây là văn bản mang tính pháp lý, có tính chất về việc chung hơn. Còn đối với cá nhân, khi có ý kiến đề nghị khi tố thì được gọi là văn bản "Yêu cầu khởi tố", việc này phùhợp với quy định tại Điều 105 BLTTHS: Khi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại.

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm kiến nghị khởi tố như sau:

Kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, kinh tế thông qua công tác kiểm tra, thanh tra và khi thực hiện các nhiệm vụ, công tác khác phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, người có hành vi phạm tội và có văn bản, kèm theo tài liệu liên quan, kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét, khởi tố vụ án hình sự, khởi tố đối với người có hành vi phạm tội để điều tra, xử lý.

3. Các nguồn thông tin về tội phạm

Nguồn thông tin về tội phạm có thể hiểu là phương tiện chứa đựng, cung cấp thông tin về tội phạm. Tố giác, tin báo v tội phạm th hiện bằng các hình thức thông tin. được gọi là các nguồn tố giác, tin báo về tội phạm. Như ta đã biết, tố giác, tin báo về tội phạm luôn được coi là nguồn quan trọng cung cấp thông tin đ xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm, nhưng việc xác định điều này phụ thuộc vào CQĐT tổ chức tiến hành thu thập, điều tra, xác minh làm rõ nguồn gốc cũng như tính xác thực của tin báo, tố giác đó. Theo quy định ti Điều 100 BLTTHS, các nguồn thông tin về tội phạm bao gồm: Do công dân trc tiếp tố giác và báo tin về tội phạm (trường hợp người bị hại gửi đơn yêu cầu khi tố vụ án hình sự cũng thuộc hình thức tố giácvề tội phạm); tin báo của cơ quan nhà nưởc, t chức xã hội; tin báo qua phn ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài truyền thanh, truyền hình, báo điện tử...; do CQĐT, VKS, Toà án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điu tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm (những thông tin về tội phạm được phát hiện thông qua các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền như khám nghiệm hiện trường - tử thi; thông qua cơ sởcủa CQĐT như mạng lưới bí mật... Về bản chất, đây chính là nguồn thông tin về tội phạm do chính các cơ quan này thông qua hoạt động của mình mà trc tiếp phát hiện tội phạm); người phạm tội tự thú (sự tự thú của người phạm tội là một nguồn thông tin về tội phạm và cũng là cơ s để khởi tố vụ án. Sự tự thú này về bản chất chính là sự báo tin của một người về tội phạm do chính người đó gây ra).

Như vậy, cần phải phân biệt nguồn thông tin về tội phạmnguồn tố giác, tin báo về tội phạm. Trong TTHS, nhng thông tin về tội phạm được tiếp nhận, thu thập ở các giai đoạn của quá trình này, từ các nguồn và bng những biện pháp theo luật định. Nguồn tố giác, tin báo về tội phạm là một trong những nguồn thông tin chính, đầu tiên về tội phạm được luật quy định là cơ s và căn cứ khởi tố vụ án. Trên cơ sở các đặc điểm của t giác, tin báo v tội phạm đã phân tích, theo chúng tôi, có thể xác định các nguồn thông tin về tội phạm sau đây được gọi là nguồn tố giác, tin báo về tội phạm: Do công dân trực tiếp đến VKS, CQĐT đ tố giác và báo tin v tội phạm; tin báo của cơ quan Nhà nước, t chức xã hội; tin báo qua phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài...; người phạm tội tự thú.

Đối với nguồn thông tin về tội phạm do CQĐT, VKS; Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm, theo chúng tôi, đây không gọi là nguồn tố giác, tin báo về tội phạm mà chính là nguồn thông tin về tội phạm nói chung và cũng là một trong những nguồn thông tin đầu tiên về tội phạm được quy định  là cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án. Nguồn thông tin này thường có tính chất bí mật nghiệp vụ, thuộc về các chuyên án của CQĐT trong giai đoạn chưa phá án (nhất là loại án an ninh quốc gia, ma tuý...), cho nên, VKS phải phối hợp chặt chẽ với CQĐT để kiểm sát việc xử lý thông tin này; đảm bảo việc chuyển hóa tài liệu trong giai đoạn điều tra trinh sát, bí mật sang tài liệu, chứng cứ của giai đoạn điều tra công khai đúng luật định.

Việc phân biệt như trên có ý nghĩa quan trọng trong công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Khi phân loại xử lý các nguồn thông tin về tộiphạm, ngoài việc phải xác định nội dung các nguồn thông tin đó có dấu hiệu của tội phạm hay không thì còn cn phải xác định hình thức của nó thuộc loại nguồn tin nào để có phương pháp xác minh, kiểm tra và kiểm sát một cách hiệu quả. Từ sự phân tích trên, theo chúng tôi, v tên gọi: Công tác kiểm việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm cần phải được sa đổi thành: Công tác kiểm sát việc tiếp nhn, giải quyết thông tin về tội phạm mới phù hợp theo phương diện khoa học.

 


[1] Hoàng Phê (Chủ biên) (1992), Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

[2] Quy chế Phối hợp giữa VKSND quận Long Biên và Công an quận Long Biên trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (QC số 169 ngày 13/7/2011)

[3] Quy chế về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của VKS. (Ban hành kèm theo Quyết định số 59/2006/QĐ-VKSNDTC-V7 ngày 06/02/2006 của Viện trưởng VKSNDTC)

[4] Hoàng Phê (Chủ biên) (1992), Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

[5] Quy chế Phối hợp giữa VKSND quận Long Biên và Công an quận Long Biên trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (QC số 169 ngày 13/7/2011)

[6] Quy chế tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra VKSNDTC. (Ban hành kèm theo Quyết định số 116/2011/QĐ-VKSNDTC-C6 ngày 14/4/2011 của Viện trưởng VKSNDTC)


 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi