Vấn đề bảo vệ nhân chứng, người tố giác và những người tham gia tố tụng khác trong các vụ án tham nhũng

Theo quy định của pháp luật, mọi công dân đều có quyền được Nhà nước bảo vệ tránh các nguy cơ bị xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.  Nhân chứng (người làm chứng), người tố giác và những người tham gia tố tụng khác (người bị hại, giám định viên…) trong các vụ án hình sự là những người đưa ra lời khai hoặc cung cấp các thông tin, kết luận khoa học về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án, góp phần làm sáng tỏ sự thật và giải quyết đúng đắn vụ án. Vì vậy, họ có nguy cơ bị người phạm tội hoặc thân nhân của người phạm tội đe doạ, gây thiệt hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp nhằm gây cản trở cho việc điều tra hoặc trả thù. Để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người làm chứng, người tố giác và những người tham gia tố tụng khác trong các vụ án hình sự nói chung, các vụ án về tham nhũng nói riêng và nhằm thu thập được đầy đủ chứng cứ chứng minh từ những người này, các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp bảo vệ, tạo điều kiện cho họ tham gia cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác, không bị ràng buộc bởi bất cứ sự đe dọa, mua chuộc, khống chế nào.

Việc áp dụng đầy đủ các biện pháp bảo vệ người làm chứng, người tố giác, và những người tham gia tố tụng khác có hiệu quả trước những nguy cơ bị trả thù hoặc đe dọa có thể xảy ra đối với họ không những thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà còn góp phần tạo lập và củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân vào Nhà nước, trước hết là vào các cơ quan bảo vệ pháp luật, từ đó khuyến khích quần chúng nhân dân tham gia ngày càng tích cực hơn vào cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, trong đó có các tội phạm về tham nhũng.

Ngày 10/12/2003,  Việt Nam đã ký Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc (ngày 19/8/2009 Công ước này có hiệu lực thi hành đối với Việt Nam). Nội dung Công ước có những điều khoản về bảo vệ nhân chứng, chuyên gia, nạn nhân, người tố giác tội phạm. Để thi hành các nội dung của Công ước (ngoài những vấn đề mà Việt Nam bảo lưu), chúng ta cần phải rà soát lại các văn bản pháp luật có liên quan để bảo đảm tính tương thích. Đồng thời, cần xây dựng các cơ chế, áp dụng biện pháp thực thi bảo đảm các nội dung của Công ước được thực hiện trên thực tế.

Để bảo vệ nhân chứng và chuyên gia, theo Điều 32 Công ước, mỗi quốc gia thành viên căn cứ vào pháp luật quốc gia và trong khả năng có thể, áp dụng các biện pháp thích hợp bảo vệ trước nguy cơ trả thù hoặc đe doạ có thể xảy đến với nhân chứng và chuyên gia, những người đã đưa ra bằng chứng hoặc chứng thực liên quan đến các tội phạm quy định theo Công ước và, nếu phù hợp, bảo vệ cả thân nhân và những người gần gũi với họ. Các biện pháp áp dụng có thể bao gồm thiết lập các quy trình bảo vệ an toàn thân thể những người này, chẳng hạn, trong phạm vi cần thiết và khả thi, tái định cư họ và quy định, nếu phù hợp, không tiết lộ hoặc tiết lộ hạn chế thông tin liên quan đến nhân dạng hoặc nơi ở của những người này; đưa ra các quy định về chứng cứ cho phép nhân chứng và chuyên gia có thể làm chứng hoặc chứng thực theo cách đảm bảo an toàn cho họ, chẳng hạn có thể cho phép việc làm chứng hoặc chứng thực được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin liên lạc như video hay các phương tiện thích hợp khác.

Các quốc gia thành viên có thể tham gia ký kết Hiệp định hoặc Thoả thuận với quốc gia khác để tái định cư những nhân chứng, chuyên gia, nạn nhân có vai trò như nhân chứng.

Đối với người tố giác tội phạm, theo Điều 33 Công ước, mỗi quốc gia thành viên xem xét việc quy định các biện pháp thích hợp trong hệ thống pháp luật quốc gia để bảo vệ trước những đối xử bất công đối với bất kỳ người nào tố giác có thiện ý và dựa trên những căn cứ hợp lý, với cơ quan có thẩm quyền về bất cứ sự thật nào.

Để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trong đó có nhân chứng, người tố giác tội phạm và những người tham gia tố tụng khác và thực thi các nội dung về vấn đề này theo tinh thần của Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc, trong những năm qua, chúng ta cũng đã chú ý đến việc ban hành các quy định liên quan đến bảo vệ nhân chứng, người tố giác tội phạm  và những người tham gia tố tụng khác trong các vụ án hình sự nói chung, các vụ án về tham nhũng nói riêng.

 Theo quy định tại Điều 7 BLTTHS năm 2003, người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003, người làm chứng có quyền: Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng; được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật.

Khoản 3, Điều 7 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 quy định:

Trong phạm vi trách nhiệm của mình, Cơ quan điều tra phải xem xét, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức đã báo tin, kiến nghị, người đã tố giác tội phạm biết và phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm

 Khoản 1, Điều 13 Luật Công an nhân dân năm 2005 quy định:

Nhà nước bảo vệ, giữ bí mật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ Công an nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội

 Khoản 2 Điều 65 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định:

 Người đứng đầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền khi nhận được tố cáo hành vi tham nhũng phải xem xét và xử lí theo thẩm quyền, giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin khác theo yêu cầu của người tố cáo; áp dụng đồng thời các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố cáo khi có biểu hiện đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo hoặc khi người tố cáo yêu cầu; thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo khi có yêu cầu

 Như vậy, có thể nói, trong các văn bản pháp luật hiện hành của nước ta đã có những quy định về việc bảo vệ người làm chứng, người tố giác tội phạm và những người tham gia tố tụng khác; quy định trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong việc bảo vệ những người này. Tuy nhiên, các quy định này mới dừng lại ở những nguyên tắc chung mà chưa có những quy định cụ thể như thẩm quyền, điều kiện, thủ tục, trình tự… áp dụng. Đây là một trong những hạn chế cần sớm được khắc phục.

 Thực tiễn thực thi pháp luật ở nước ta cho thấy nhiều trường hợp nhân chứng trong các vụ án tham nhũng bị mua chuộc, khống chế, người tố giác tiêu cực bị các đối tượng tham nhũng quy chụp là làm mất đoàn kết nội bộ hoặc chỉ trích là “qua mặt chính quyền, khiếu nại vượt cấp”, bị đe dọa, trả thù… song việc bảo vệ người làm chứng, người tố giác và những người tham gia tố tụng khác có nguy cơ bị đe dạo gây thiệt hại không kịp thời và chưa theo một quy trình thống nhất. Một số trường hợp nguy cơ bị đe dọa trả thù của người tố giác, nhân chứng không được ngăn chặn kịp thời đã để xảy ra hậu quả đáng tiếc, khi xảy ra hậu quả cơ quan có thẩm quyền mới can thiệp.

Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là các quy định của pháp luật về việc bảo vệ người làm chứng, người tố giác và những người tham gia tố tụng khác trong các vụ án hình sự còn chung chung, thiếu cụ thể và thiếu một cơ chế hữu hiệu để áp dụng thống nhất

  Để có cơ sở pháp lý áp dụng các biện pháp bảo vệ người làm chứng, người tố giác và những người tham gia tố tụng khác trong trường hợp họ có nguy cơ bị đe dọa gây thiệt hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp, theo chúng tôi, cần sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTHS và các văn bản pháp luật có liên quan đến  việc bảo vệ người làm chứng, người tố giác tội phạm và những người tham gia tố tụng khác. Đồng thời, sớm xây dựng, ban hành đạo luật riêng về bảo vệ nhân chứng, người tố giác, nạn nhân và những người tham gia tố tụng khác (người giám định, người phiên dịch) trong các trường hợp họ có nguy cơ bị đe doa, gây thiệt hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp. Cụ thể cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới các nội dung sau:

 - Bổ sung quy định về các trường hợp không được tiết lộ hoặc tiết lộ hạn chế thông tin liên quan đến nhân dạng hoặc nơi ở của người làm chứng, người tố giác. Ví dụ, khi tiến hành đối chất, nhận dạng giữa nhân chứng với bị can, bị cáo trong các trường hợp nhân chứng có nguy cơ bị khống chế, đe dọa trả thù thì không để cho họ tiếp xúc trực tiếp với bị can, bị cáo; có biện pháp thích hợp để giữ bí mật về thông tin tên, tuổi, địa chỉ của người làm chứng, người tố giác trong hồ sơ vụ án khi chuyển hồ sơ cho Luật sư bào chữa nghiên cứu trước khi vụ án được đưa ra xét xử; nghiên cứu xây dựng các quy định không cho chụp ảnh, ghi hình tại các phiên tòa và đăng thông tin về ảnh, tên tuổi, địa chỉ của nhân chứng, người tố giác trong các trường hợp có căn cứ để cho rằng họ có thể bị đe dọa, trả thù…

- Bổ sung các quy định cho phép nhân chứng, người tố giác, người tham gia tố tụng khác có thể làm chứng hoặc cung cấp thông tin, đưa ra kết luận khoa học chứng thực theo cách đảm bảo an toàn cho họ, như cho phép việc làm chứng hoặc cung cấp thông tin, kết luận được thực hiện thông qua đường truyền video hoặc các phương tiện thích hợp khác.

- Quy định rõ thẩm quyền, thủ tục, trình tự, điều kiện áp dụng các biện pháp bảo vệ nhân chứng, người tố giác tội phạm và những người tham gia tố tụng khác.

- Ban hành những quy định cụ thể cho phép áp dụng các biện pháp bảo vệ nhân chứng, người tố giác tội phạm và những người tham gia tố tụng khác để tránh nguy cơ bị đe dọa, trả thù. Ví dụ, di chuyển nhân chứng, người tố giác tội phạm đến nơi khác một thời gian hoặc thay đổi nơi ở, nơi làm việc của họ; thay đổi, tên, tuổi, nhân dạng và các yếu tố nhân thân của họ.

- Nghiên cứu đưa vấn đề chuyển nhân chứng, người tố giác tội phạm đến nước khác định cư trong các trường hợp đặc biệt vào nội dung tương trợ tư pháp với một số nước theo nguyên tắc có đi có lại…  

- Sớm xây dựng, ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành các quy định về bảo vệ người làm chứng, người tố giác…được quy định trong Luật phòng, chống tham nhũng, có tính đến những nguyên tắc chung được thể hiện tại Điều 32 và Điều 33 Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc.

- Xác định rõ nguồn ngân sách cấp cho công tác bảo vệ nhân chứng, người tố giác…; quy định thẩm quyền và các tiêu chí cụ thể phân bổ kinh phí dành cho công tác này.

 

(Tham luận tại Hội thảo “Hình sự hóa và thực thi pháp luật phòng, chống tham nhũng theo Công ước của Liên hợp quốc và pháp luật Việt Nam” do Trung tâm Luật so sánh, khoa Luật, Đại học Quốc gia – Hà Nội tổ chức ngày 29/6/2011)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi