Một số vấn đề về bảo vệ trẻ em trong các vụ án xâm hại trẻ em

Nguyễn Thị Lộc - Phòng QLKH&TTTL Trường ĐT, BDNV kiểm sát

Theo số liệu thống kê, dân số Việt Nam tính đến năm 2008 đạt mức 87,1 triệu người, trong đó có 28,65 triệu trẻ em (chiếm khoảng 1/3 dân số cả nước). Vì vậy, có thể nói bảo vệ trẻ em chính là bảo vệ sự phát triển trong tương lai của mỗi quốc gia. Nhận thức được tầm quan trọng này, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Tuy nhiên, qua công tác phòng, chống tội phạm của các cơ quan chức năng cho thấy, cùng với sự biến động, gia tăng của tội phạm nói chung, tội phạm xâm hại trẻ em cũng tăng lên đáng lo ngại. Điều này đã trở thành một vấn đề bức xúc trong xã hội, bởi phạm tội đối với trẻ em có tính chất đặc biệt hơn so với các trường hợp phạm tội thông thường khác ở đối tượng bị xâm hại là trẻ em. Trẻ em là những người bị hạn chế hoặc hoàn toàn không có khả năng, điều kiện tự vệ hoặc bảo vệ mình. Hành vi xâm hại để lại hậu quả rất nặng nề, nó không chỉ gây tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khỏe mà còn tác động tiêu cực đến tâm lý và sự phát triển bình thường của các em, nhất là các em tuổi còn quá nhỏ. Vì vậy, trẻ em là đối tượng đặc biệt cần được toàn xã hội bảo vệ.

Thực tế trong những năm qua cho thấy, tình hình tội phạm xâm hại trẻ em không có chiều hướng giảm mà có chiều hướng gia tăng, tính chất tội phạm  ngày càng nguy hiểm và phức tạp1.  Trẻ em thường là nạn nhân của tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người như: Giết người; cố ý gây thương tích; xâm hại tình dục (hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu với trẻ em, dâm ô với trẻ em); mua bán người, đặc biệt là tội phạm hiếp dâm trẻ em. Theo số liệu thống kê thì tội phạm hiếp dâm trẻ em có nơi chiếm đến hơn 50% tổng số các vụ phạm tội hiếp dâm2. Từ năm 2006 đến tháng 6/2011 Cơ quan điều tra các cấp đã khởi tố 8.382 vụ với 10.796 bị can và  8.556 bị hại. Viện kiểm sát các cấp đã truy tố 7.523 bị can với 10.016 bị can,  và 7.625 bị hại.3

Trong pháp luật Việt Nam nói chung và trong luật Hình sự nói riêng, mặc dù có những quy định khác nhau về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhưng nhìn chung đều thừa nhận trẻ em là những người dưới 16 tuổi. Bộ luật Hình sự hiện hành của Việt Nam quy định các hành vi xâm hại trẻ em như: Hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm trẻ em, giao cấu với trẻ em, dâm ô với trẻ em, mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em ...trong đó, có trường hợp hành vi nguy hiểm xâm phạm đến trẻ em được coi là tình tiết định tội, có trường hợp hành vi nguy hiểm xâm phạm đến người chưa thành niên được coi là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt. Ngoài ra, hành vi xâm hại đến trẻ em còn được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nói chung, quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 48 (tình tiết "phạm tội đối với trẻ em” ).

Như vậy, có thể nói Bộ luật Hình sự đã đưa ra nhiều quy định về tội phạm và hình phạt nghiêm khắc đối với những hành vi phạm tội mà bị hại là trẻ em  giúp phòng ngừa và trừng trị những hành vi xâm hại đến trẻ em, bảo vệ trẻ em khỏi bị bạo lực, xâm hại tình dục, bóc lột về mại dâm và lao động, ma túy…

Tuy nhiên, thực tế tiến hành tố tụng vẫn còn một số vướng mắc cần được tháo gỡ như việc xác định tội danh, khung hình phạt đối với các trường hợp người phạm tội nhầm khách thể như không quen biết nạn nhân và nhìn thấy bề ngoài cơ thể nạn nhân phát triển hoàn chỉnh (ý thức chủ quan của người có hành vi xâm hại tưởng và cho rằng đối tượng bị xâm hại không phải là trẻ em) và việc xác định chính xác tuổi của bị hại là người chưa thành niên khi bị hại không có bất cứ một giấy tờ gì chứng minh tuổi hoặc tuy có nhưng không đáng tin cậy sẽ được giải quyết như thế nào?...  Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi xin trao đổi và bày tỏ ý kiến của mình trong việc tháo gỡ các vướng mắc trên.

Thứ nhất, trường hợp người phạm tội nhầm khách thể - Ý thức chủ quan của người có hành vi xâm hại tưởng và cho rằng đối tượng bị xâm hại không phải là trẻ em. Trong thực tế, trường hợp này có thể xảy ra hai khả năng sau:

Khả năng thứ nhất: Ý thức chủ quan người phạm tội không biết và cho rằng đối tượng mình xâm hại không phải là trẻ em;

Khả năng thứ hai: Người phạm tội cố tình không khai rõ ý thức chủ quan của mình.

Hiện nay, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về việc áp dụng tình tiết "phạm tội đối với trẻ em” để xác định trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp này. Cụ thể:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội đối với trẻ em” nếu thỏa mãn đầy đủ các điều kiện về người bị hại là trẻ em và về ý thức chủ quan người phạm tội biết rõ nạn nhân là trẻ em. Bởi theo BLHS, các tội quy định tình tiết "phạm tội đối với trẻ em” dù là dấu hiệu định tội hay định khung hình phạt đều là các tội mà lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Trong trường hợp được cân nhắc đến khi quyết định hình phạt, người phạm tội cũng chỉ phải chịu TNHS khi có lỗi cố ý đối với tình tiết đó - nghĩa là người phạm tội phải nhận thức được đối tượng bị xâm phạm là trẻ em. Phạm tội đối với trẻ em có dấu hiệu đặc trưng ở đối tượng bị xâm hại là trẻ em. Do đó, chỉ coi là cố ý phạm tội khi người phạm tội nhận thức được đối tượng mình xâm hại là trẻ em. Trên cơ sở lí thuyết như vậy có thể khẳng định: Một người chỉ bị coi là cố ý phạm tội đối với trẻ em khi họ nhận thức được đối tượng bị xâm hại là trẻ em. Nếu không nhận thức được sẽ loại trừ sự cố ý. Nếu buộc một người không nhận thức được đối tượng bị xâm hại là trẻ em phải chịu TNHS về hành vi này là buộc tội khách quan. Vì vậy, để giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS của người phạm tội trong các vụ án có đối tượng bị xâm hại là trẻ em, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải chứng minh được người phạm tội nhận thức được hoặc buộc phải nhận thức được hoặc không nhận thức được đối tượng bị xâm hại là trẻ em. Đây là vấn đề phức tạp và việc chứng minh này còn phức tạp hơn nhiều khi người phạm tội cố tình không khai rõ ý thức chủ quan của mình khi ranh giới giữa trẻ em với không còn là trẻ em rất mong manh. Ví dụ, giữa trẻ em chưa đủ 13 tuổi (nhưng gần đủ 13 tuổi) với trẻ em đủ 13 tuổi; giữa trẻ em chưa đủ 16 tuổi (nhưng gần đủ 16 tuổi) với người đủ 16 tuổi về mặt pháp lí thì đã rõ nhưng với người phạm tội và bất kì ai thì không dễ dàng phân biệt được trong thực tế nếu không phải là người thân trong gia đình. Thậm chí thực tế còn có không ít ông bố, bà mẹ thiếu trách nhiệm đến mức không biết con mình sinh ngày, tháng, năm nào, không làm giấy khai sinh, không biết con mình học lớp mấy... khi có sự việc xảy ra mới lo đến các giấy tờ này. Vì vậy, buộc người phạm tội "phải biết” trong nhiều trường hợp cũng là không thực tế.

Quan điểm thứ hai lại cho rằng: Khi áp dụng tình tiết "phạm tội đối với trẻ em” chỉ cần chứng minh bị hại là trẻ em, không cần chứng minh về chủ quan người phạm tội có biết rõ nạn nhân là trẻ em hay không. Điều này có nghĩa là, người bị tội phạm xâm hại là trẻ em có nằm trong hay nằm ngoài ý thức chủ quan của người phạm tội đều không ảnh hưởng gì đến việc định tội danh, định khung hình phạt hay áp dụng tình tiết tăng nặng khi quyết định hình phạt là "Phạm tội đối với trẻ em”.

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm này. Trong mọi trường hợp phạm tội đối với trẻ em, chỉ cần xác định được nạn nhân là trẻ em thì người phạm tội phải chịu TNHS với tình tiết là "Phạm tội đối với trẻ em”. Bởi phạm tội đối với trẻ em có tính chất đặc biệt hơn so với các trường hợp phạm tội thông thường khác ở đối tượng bị xâm hại. Các em là những người bị hạn chế hoặc hoàn toàn không có khả năng, điều kiện tự vệ hoặc bảo vệ mình. Hành vi xâm hại để lại hậu quả rất nặng nề, nó không chỉ gây tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khỏe mà còn tác động tiêu cực đến tâm lý và sự phát triển bình thường của các em, nhất là các em tuổi còn quá nhỏ. Vì vậy, các em là đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ.

Theo Tiến sỹ Phạm Mạnh Hùng: Trong trường hợp có sự nhận thức sai lầm của một người về khách thể của tội phạm thì việc định tội phải tùy từng trường hợp cụ thể. Nếu người thực hiện hành vi không có ý định xâm hại đến quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ nhưng thực tế đã xâm hại đến khách thể của tội phạm thì về nguyên tắc, người thực hiện hành vi vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tương ứng với lỗi vô ý. Nếu người thực hiện hành vi cho rằng mình xâm hại đến khách thể của tội phạm nhưng thực tế không gây thiệt hại được vì không có đối tượng hoặc đối tượng không có những đặc tính mà người thực hiện hành vi tưởng là có thì việc định tội phải căn cứ vào đặc điểm các dấu hiệu của từng cấu thành tội phạm cụ thể (có thể người thực hiện hành vi phạm tội hoặc không phạm tội).4. Ví dụ dưới đây là những trường hợp cụ thể:

Ví dụ 1: Nguyễn Xuân A và Hoàng Thị B ở gần nhà nhau, B tuy nhỏ tuổi nhưng cơ thể phát triển hơn so với lứa tuổi. Quá trình gần gũi nhau A và B có tình cảm với nhau và yêu nhau. Khi phát hiện B có thai, gia đình B làm đơn tố cáo A đã có hành vi dụ dỗ và hiếp dâm B, lúc đó B chưa đầy 13 tuổi (thiếu 15 ngày là đầy 13 tuổi). A bị truy tố và xét xử về tội "Hiếp dâm trẻ em” theo khoản 4 Điều 112 BLHS. Tại phiên toà A và B một mực kêu oan vì cho rằng do hai đứa tự nguyện yêu nhau, chứ thực ra A không biết B chưa đủ 13 tuổi và cũng không biết như vậy là phạm tội nhưng A vẫn bị xét xử về tội "hiếp dâm trẻ em” theo khoản 4 Điều 112 BLHS.  Như vậy, A đã có hành vi phạm tội đối với trẻ em, và đây là một yếu tố định tội. Mặc dù việc B chưa đầy 13 tuổi nằm ngoài ý thức chủ quan của A, nhưng hậu quả xảy ra là B dưới 13 tuổi nên A phải chịu trách nhiệm hình sự theo hậu quả đó.

Như vậy, có thể khẳng định người bị tội phạm xâm hại là trẻ em có nằm trong hay nằm ngoài ý thức chủ quan của người phạm tội đều không ảnh hưởng gì đến việc định tội danh, mà có chăng chỉ ảnh hưởng đến việc xem xét khi quyết định hình phạt. Trách nhiệm hình sự đối với người cố ý phạm tội đối với trẻ em là nghiêm khắc hơn so với người khi thực hiện hành vi phạm tội không biết người bị xâm hại là trẻ em.

Thứ hai, vấn đề xác định chính xác tuổi của bị hại: Việc xác định tuổi của bị hại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em vì đây là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự lợi cho bị hại. Trên thực tế, đối với người đã thành niên việc xác định tuổi chủ yếu dựa vào lý lịch và danh chỉ bản. Nhưng đối với trẻ em, việc xác định tuổi lại chủ yếu dựa trên giấy chứng sinh, giấy khai sinh, sổ hộ tịch, chứng minh thư, học bạ...Điều này đã gây khó khăn trong việc xác định tuổi của trẻ em, bởi không phải trường hợp nào cũng có đầy đủ một trong các loại giấy tờ cần thiết trên.

Hiện nay, việc xác định tuổi của bị hại được hướng dẫn tại Thông tư số 01/2011/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12 tháng 7 năm 2011 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên. Theo đó, việc xác định tuổi của người bị hại là người chưa thành niên do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh của người bị hại là người chưa thành niên thì tuổi của họ được xác định theo tuần tự thời gian như:

+ Trường hợp xác định tháng sinh cụ thể, nhưng không xác định được ngày sinh trong tháng đó thì lấy ngày mùng một của tháng đó làm ngày sinh;

+ Trường hợp xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong quý đó thì lấy ngày mùng một của tháng đầu của quý đó làm ngày sinh;

+ Trường hợp xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong nửa đầu năm hoặc nửa cuối năm đó thì lấy ngày mùng một tháng Giêng hoặc ngày mùng một tháng Bảy tương ứng của năm đó làm ngày sinh;

+ Trường hợp xác định được năm sinh cụ thể nhưng không xác định được ngày tháng sinh thì lấy ngày mùng một tháng Giêng của năm đó làm ngày sinh.

+ Trường hợp không xác định được năm sinh của người bị hại là người chưa thành niên thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi của họ.

Sau khi xác định chính xác ngày tháng năm sinh của bị hại, cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét tuổi của bị hại ở thời điểm bị xâm hại vì điều này sẽ giúp xem xét quyết định tội danh, hình phạt đối với bị can, bị cáo. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc tính tuổi của bị hại là người chưa thành niên phải được tính chính xác theo ngày thông qua việc so sánh giữa ngày tháng năm sinh của người đó với ngày tháng người đó bị xâm hại.

Ví dụ: Nguyễn Thị A sinh ngày 31/12/1998, thì tính đến ngày 31/12/2011 thì A mới đủ 13 tuổi. Nếu đến ngày 30/12/2011, Trần Văn B có hành vi giao cấu với A thì B vẫn bị truy cứu về tội hiếp dâm trẻ em.

Thực tiễn cho thấy, để xác định chính xác tuổi của bị hại là một vấn đề rất khó khăn đối cơ quan tiến hành tố tụng. Có trường hợp một bị hại có đến 2 hoặc 3 giấy khai sinh gốc nhưng lại khác ngày, tháng, sinh, hoặc có 1 giấy khai sinh nhưng chỉ ghi năm sinh. Cũng có trường hợp lời khai của bố, mẹ bị hại và giấy tờ, lý lịch trong hồ sơ về ngày, tháng, năm sinh là giống nhau nhưng cơ quan tiến hành tố tụng lại thu được những chứng cứ chứng minh khác với tài liệu kể trên. Hoặc trường hợp không xác định được năm sinh của bị hại thì phải tiến hành giám định tuổi của họ. Nhưng kết quả giám định lại mâu thuẫn với tài liệu điều tra khác nên ít nhiều gặp khó khăn trong việc đánh giá, sử dụng tài liệu chứng cứ. Vì vậy, khi có mâu thuẫn về tuổi của bị hại cần phải điều tra, xác minh để xác định tuổi của bị hại một cách có căn cứ và chính xác ngày, tháng, năm sinh.

Tóm lại, trong các vụ án xâm hại trẻ em, việc xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người phạm tội. Mọi trường hợp phạm tội đối với trẻ em, chỉ cần xác định được nạn nhân là trẻ em thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết là "Phạm tội đối với trẻ em”. Bởi trẻ em là đối tượng đặc biệt cần được pháp luật bảo vệ. Việc chứng minh bị hại có là trẻ em hay không phụ thuộc hoàn hoàn vào việc các cơ quan tiến hành tố tụng xác định được chính xác ngày tháng năm sinh của họ.

____________________________________

1 Bảo vệ trẻ em trong hệ thống tư pháp và định hướng giai đoạn 2012 - 2016. Tham luận của Bộ tư pháp trình bày tại Hội thảo tham vấn hợp tác giữa Unicef với các cơ quan tư pháp và hành pháp Việt Nam trong khuôn khổ Chương trình  bảo vệ trẻ em 2012 - 2016

2 Bảo vệ trẻ em trong hệ thống tư pháp và định hướng giai đoạn 2012 - 2016. Tham luận của Bộ tư pháp trình bày tại Hội thảo tham vấn hợp tác giữa Unicef với các cơ quan tư pháp và hành pháp Việt Nam trong khuôn khổ Chương trình  bảo vệ trẻ em 2012 - 2016

3 Chuyên đề Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố  và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có người bị hại và người làm chứng là người chưa thành niên của Vụ 1A - VKSNDTC.

4 Việc định tội danh trong hoạt động THQCT và KSĐT, KSXX các vụ án hình sự - Giáo trình NVKS tập 3

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi