Về áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt

Tiến sĩ Phạm Minh Tuyên - Phó Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

 

1. Những vướng mắc và bất cập khi áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự

Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự mà phạm tội thì đều bị điều tra, truy tố, xét xử và phải chịu hình phạt. Điều 45 Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định: "Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mc độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết gim nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình s”. Theo cấu trúc của các điều luật, khi một người bị truy tố, xét xử về một tội phạm nào đó được quy định trong BLHS, thì họ phải chịu mức hình phạt của một trong các hình phạt chính được quy định trong điều luật đó, thậm chí còn phải chịu một hay nhiều hình phạt bổ sung trong chính khung hình phạt của tội phạm đó. Tuy nhiên, có không ít những trường hợp, họ được quyết định hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt mà họ đã bị truy tố. Trong bài viết này, chúng tôi đưa ra một số vướng mắc trong việc quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật.

Theo quy định tại Điều 47 BLHS thì: "Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”. Để áp dụng một cách thống nhất và tránh việc áp dụng một cách tràn lan Điều 47 BLHS, Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) đã hướng dẫn: "... Cần phải hạn chế và phải hết sức chặt chẽ khi áp dụng các quy định tại Điều 47 BLHS năm 1999, trong trường hợp nếu không có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999, thì bị cáo phải bị xử phạt ở mức cao của khung hình phạt..." và cũng theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01 nêu trên thì những quy định tại Điều 47 (BLHS) chỉ áp dụng đối với hình phạt chính mà không áp dụng đối với hình phạt bổ sung.

Tại Công văn số 148/2002/KHXX ngày 30/9/2002 của TANDTC, hướng dẫn áp dụng Điều 46 và Điều 47 BLHS có ghi: "Theo tinh thần quy định tại Điều 47 BLHS, thì Toà án chỉ có thể quyết định một hình phạt nhẹ hơn dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định từ khoản 1 Điều 46 BLHS. Như vậy, việc Tòa án nào hoặc Hội đồng xét xử nào quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định khi bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoàn 1 Điều 46 BLHS (cho dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS) là trái với quy định tại Điều 47 BLHS...

Thực tiễn xét xử trong thời điểm hiện nay, chúng tôi thấy có không ít trường hợp áp dụng không đúng với quy định tại Điều 47 BLHS. Khi đề nghị mức hình phạt trong phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt thấp hơn cả mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề và Thẩm phán cũng xét xử như đề nghị này.

Ví dụ: Bị cáo bị truy tố theo khoản 3 Điều 279 BLHS về tội nhận hối lộ có khung hình phạt từ mười lăm năm đến hai mươi năm. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Kiểm sát vièn đã đề nghị Hội đồng xét xừ (HĐXX) áp dụng Điều 47 BLHS để cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức khởi điểm của khung hình phạt, song lại đề nghị mức hình phạt từ năm năm đến sáu năm. Trong khi tại khoản 2 của điều luật, khung hình phạt là từ bảy năm đến mười lăm năm và Thầm phán cũng xét xử như vậy là trái với quy định. Trong trường hợp này, tối thiểu HĐXX phải tuyên phạt bị cáo bảy năm tù mới đúng với quy định tại Điều 47 BLHS.

Theo chúng tôi, việc điều luật quy định "khi ít nhất có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46” là quy định "quá cứng”, khó cho việc áp dụng pháp luật, vì phạm vi áp dụng hẹp hơn nhiều so với quy định tại khoản 3 Điều 38 BLHS năm 1985 và hướng dẫn tại mục B phần II Nghị quyết số 01-89/HĐTP ngày 19/4/1989 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Quy định như vậy mang tính chặt chẽ, tránh bị vận dụng tuỳ tiện, đồng thời hình phạt được quyết định phải trong phạm vi "khung liền knhẹ hơn ”, tức là, nếu từ khoản 3 là hình phạt bị truy tố thì chỉ được giảm xuống mức hình phạt quy định tại khoản 2 chứ không được áp dụng mức hình phạt quy định tại khoản 1. Nhưng qua thực tiễn xét xử, chúng tôi thấy việc quy định như vậy cũng chưa bảo đảm nguyên tắc cụ thể hoá hành vi và cá thể hoá hình phạt, cũng như nguyên tắc công bằng trong Bộ luật Hình sự Việt Nam. Chẳng hạn, trong nhiều vụ án có đồng phạm, đông bị cáo, đặc biệt là các bị cáo phạm tội về ma tuý mà áp dụng đúng quy định tại Điều 47 BLHS thì rất khó cho việc cụ thể hoá hành vi, cá thể hoá hình phạt dẫn đến rất nhiều trường hợp "vượt rào” khi áp dụng Điều 47 BLHS. Vì nếu không "vượt rào ” thì sẽ không bảo đảm nguyên tắc công bằng trong quyết hình phạt. Nhiều vụ án ma tuý lớn có hàng chục bị cáo tham gia và cùng bị truy tố theo điểm b khoản 4 Điều 194 BLHS về tội "Tàng trữ, vận chuyn, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy”, nhưng vai trò của họ trong vụ án lại khác nhau, có người giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu, có người thực hiện tội phạm tích cực, có người thực hiện tội phạm ít tích cực. Do đó, khi quyết định hình phạt, chúng ta đều phải cụ thể hoá hành vi, cá thể hoá hình phạt. Có thể, người chủ mưu đang bị xét xử với mức khởi điểm của khung hình phạt và đương nhiên những người có vai trò thứ yếu sẽ phải chịu mức án thấp hơn dưới mức khởi điểm của khung hình phạt. Như vậy, có nhiều bị cáo phải được xét mức án dưới mức khởi điểm của khung hình phạt, mặc dù chưa chắc họ đã có hai tình giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS.

Ví dụ: Ngày 25/5/2005, Hoàng Đình Đ, Nguyễn Thị H, Nguyễn Sỹ C, Nguyễn Văn V và Trần Thị K ở tại thị trấn GB, huyện GB, tỉnh BN đã có hành vi mua bán trái phép 190,4g heroin và bị bắt. Tất cả các bị cáo đều bị truy tố theo điểm b khoản 4 Điều 194 BLHS, khung hình phạt từ hai mươi năm đến chung thân hoặc tử hình. Trong vụ án này, Đ và V có vai trò chính, còn H (là vợ Đ), K (là vợ V), C (là chú H) có vai trò thứ yếu, chỉ làm theo chỉ dẫn của Đ và V. Căn cứ vào định lượng heroin mà các bị cáo mua bán, đối chiếu hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC thì hai bị cáo Đ và V có vai trò chính trong vụ án, có bị xét xử nghiêm cũng chỉ đến hai mươi năm tù, và đương nhiên các bị cáo còn lại sẽ phải chịu mức án thấp hơn Đ và V, là dưới mức khởi điểm của khung hình phạt. Trong khi các bị cáo chỉ có một tình tiết là khai báo thành khẩn, nếu áp dụng đúng quy định tại Điều 47 BLHS và các văn bản hướng dẫn nêu trên thì không thể xử phạt các bị cáo với mức án thấp hơn mức khởi điểm của khung hình phạt vì trái với quy định tại Điều 47 BLHS. Đây chính là những bất cập và vướng mắc từ chính quy định quá cứng nhắc của Điều 47 BLHS.

Qua nghiên cứu quy định của BLHS về phần các tội phạm, chúng tôi thấy có một số quy định còn chưa phù hợp, dẫn đến khi áp dụng Điều 47 BLHS sẽ gặp những vướng mắc. Theo cấu trúc của BLHS năm 1999 thì đa phần các điều luật quy định về các tội phạm cụ thể đều có các khung hình phạt theo thứ tự từ 1 đến 2, 3 hoặc 4 theo trình tự mức hình phạt từ nhẹ đến nặng. Một số ít điều luật quy định khung hình phạt nặng nhất là khung 1, sau đó mới đến các khung có mức án nhẹ hơn như quy định tại các điều về xâm phạm an ninh quốc gia (từ Điều 78 đến Điều 92), tội giết người (Điều 93). Theo cấu trúc này, chúng ta có thể hiểu khung liền kề nhẹ hơn của khoản 4 sẽ là khoản 3, của khoản 3 sẽ là khoản 2 và tiếp theo... Song quy định của BLHS năm 1999 tại Điều 112 tội "hiếp dâm trẻ em" và Điều 227 tội "vi phạm quyđịnh về an toàn lao động, vệ sinh lao động, v an toàn lao động ở những nơi đông người", lại có sự quy định khác về cấu trúc các khung hình phạt dẫn đến việc áp dụng Điều 47 sẽ gặp những vướng mắc, cụ thể:

Điều 112. Tội "Hiếp dâm trẻ em".

"1.  Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đển dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a/ Có tính chất loạn luân;

b/ Làm nạn nhân có thai;

 c/ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỳ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

d/ Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

đ/ Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a/ Có tổ chức;

b/ Nhiều người hiếp một người;

c/ Phạm tội nhiều lần;

d/ Đối với nhiều người;

đ/ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

e/ Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm lội;

y/ Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm những công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Như vậy, theo Điều 112 thì khung hình phạt liền kề của khoản 4 là khoản 3, khung hình phạt liền kề của khoản 3 là khoản 2, khung hình phạt liền kề của khoản 2 là khoản 1. Nhưng khung hình phạt quy định tại khoản 4 của điều luật này thì mức hình phạt khởi điểm lại thấp hơn mức hình phạt khởi điểm quy định tại khoản 3 (mười hai năm so với hai mươi năm) và bằng với mức hình phạt khởi điểm quy định tại khoản 2 của điều này (cũng là mười hai năm tù). Vì vậy, trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xứng đáng được áp dụng các quy định của Điều 47 BLHS thì việc xác định mức án trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn là rất khó khăn. Vì: Nếu áp dụng khung hình phạt liền kề tại khoản 3 thì mức khởi điểm lại cao hơn khoản 4; nếu áp dụng theo mức hình phạt khởi điểm tại khoản 2 thì lại có mức hình phạt khởi điểm bằng nhau và như vậy việc áp dụng các quy định tại Điều 47 BLHS không có ý nghĩa; nếu coi khoản 1 là khung hình phạt liền kề nhẹ hơn để áp dụng thì không đúng quv định tại Điều 47 BLHS.

2. Một số kiến nghị nhằm khắc phục những vướng mắc khi áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự

Theo chúng tôi, để tháo gỡ những bất cập nêu trên khi áp dụng Điều 47 BLHS, chúng tôi đề xuất một số giải pháp sau:

- Tại khoản 1 Điều 46 BLHS quy định các tình tiết giảm nhẹ từ điểm a đến điểm s, nhưng không phải mỗi điểm chỉ quy định một tình tiết giảm nhẹ. Mặc dù chưa có hướng dẫn chính thức, nhưng qua các hội nghị tổng kết và tập huấn cùng với cấu trúc ngữ pháp của tiếng Việt, chúng tôi thấy có những điểm quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS chứa đựng nhiều hình thức giảm nhẹ khác nhau như điểm a, b, i, p, q, s. Các điểm này đều có các tình tiết khác nhau và được tách rời bời dấu phẩy. Như điểm p có hai tình tiết là thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; điêm s có thể hiểu và áp dụng là: Người phạm tội có thành tích xuất sắc trong sản xuất; người phạm tội có thành tích xuất sắc trong chiến đấu; người phạm tội lập thành tích xuất sắc trong học tập, trong công tác. Do vậy, khi xác định các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS để áp dụng Điều 47 BLHS, Hội đồng xét xử phải nêu rõ bị cáo có tình tiết giảm nhẹ nào, chứ không nên nêu chung chung quy định trong điều luật. Nếu bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì cần phải nêu và phân tích tất cả các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng.

Khi nêu bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 46 BLHS cần nêu rõ như: "người phạm tội là nguời đã có thành tích xuất sắc trong công tác đã được tặng thưởng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ”; "người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong chiến đấu đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba” hoặc quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 "người phạm tội thành khn khai báo, ăn năn hối cải”, thì cần hiểu đây là hai tình tiết giảm nhẹ, bởi lẽ, có những truờng hợp người phạm tội thành khẩn khai báo nhưng lại không thể hiện sự ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội mà mình gây ra. Như trường hợp: Nguyễn Văn B phạm tội "giết người ”, truớc Cơ q điều tra, B đã khai nhận rõ về hành vi phạm tội của mình, nhưng B không hề ăn năn hành vi mình gây ra mà còn có thái độ thách thức, không chịu bồi thường cho gia đình người bị hại, mặc dù B có thừa khả năng. Theo chúng tôi, vấn đề này cũng cần phải hướng dẫn cụ thể, rõ ràng về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS. Có như vậy, việc áp dụng các quy định tại Điều 47 BLHS mới chính xác và thống nhất.

-          Bộ luật Hình sự cũng cần sửa đổi cho phù hợp theo hướng: Khi có ít nhất hai tình tiết gim nhẹ và không có tình tiết tăng nặng thì Tòa án có tháp dụng Điu 47 BLHS, chứ không nhất thiết phải quy định cứng nhắc như khoản 1 Điều 46 BLHS. Đồng thời, nên liệt kê thêm một số tình tiết giảm nhẹ khác mà từ trước tới nay chúng ta vẫn đưa vào khoản 2 Điều 46 BLHS, như: Người phạm tội đầu thú; nguời phạm tội là con em gia đình thương binh, liệt sỹ; khi có đơn của gia đình bị hại xin cho nguời phạm tội...

-          Khắc phục những vướng mắc của  Điều 112 BLHS và để việc áp dụng các quy định tại Điều 47 BLHS có ý nghĩa trong việc mở lượng khoan hồng đối với những người nhiều tình tiết giảm nhẹ, theo chúng tôi phải sửa lại quy định tại Điều 112 BLHS theo hướng bỏ quy định tại khoản 4 của điều luật mà bổ sung thêm thành một tình tiết định khung tại khoản 3 là "giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi".

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi