Những bất cập và một vài kiến nghị hoàn thiện đối với hướng dẫn áp dụng tội “Đánh bạc”

Ths. Thái Chí Bình

Tòa án nhân dân Thị xã Châu Đốc- Tỉnh An Giang

Đánh bạc là một trong những tệ nạn xã hội làm cho nhiều người mất nhà cửa, phát sinh mâu thuẫn gia đình dẫn đến gia đình tan nát và đánh bạc còn được xem là một trong những nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội khác và tội phạm. Chính vì vậy, bên cạnh xử lý hành chính, pháp luật hình sự còn quy định đánh bạc là tội phạm và những người vi phạm đáp ứng các yếu tố cấu thành tội phạm sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt. Tuy nhiên, do sự đa dạng của các hình thức đánh bạc[1] nên việc xác định những hành vi nào cần phải xử lý hình sự không phải là việc đơn giản. Trong khoảng thời gian ngắn, từ năm 2003 đến năm 2010, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ba lần hướng dẫn đường lối xử lý đối với loại tội phạm này[3]. Bên cạnh đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục cảnh sát còn ban hành văn bản hướng dẫn để áp dụng cho phù hợp với tình hình thực tiễn[2]. Nhìn chung, quy định hướng dẫn của các cơ quan tư pháp trung ương đã góp phần quan trọng vào việc đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Hiện nay, việc điều tra, truy tố, xét xử tội đánh bạc dựa vào quy định tại Điều 248 Bộ luật Hình sự (viết tắt là BLHS) và Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248, Điều 249 của BLHS (viết tắt là Nghị quyết số 01/2010). Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng, các quy định của Nghị quyết số 01/2010 đã thể hiện sự bất cập, cần có sự đánh giá để kiến nghị hoàn thiện góp phần xử lý trách nhiệm hình sự (viết tắt là TNHS) tội phạm đánh bạc đạt hiệu quả hơn. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chủ yếu tập trung phân tích những bất cập qua các quy định về (1) xác định tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc; (2) xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ, chủ đề, chủ cá độdùng đánh bạc; (3) quy định về việc cộng dồn tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc; (4) việc phân chia hai trường hợp đánh bạc và (5) vấn đề xác định đồng phạm đối với tội đánh bạc; đồng thời, nêu lên một số kiến nghị hoàn thiện.

1. Một vài vướng mắc từ các hướng dẫn áp dụng tội đánh bạc

1.1. Đối với việc xác định tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc

Khoản 1 Điều 248 BLHS đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định cấu thành cơ bản của tội đánh bạc như sau: "Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.”

Theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 thì tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc được xác định từ các nguồn sau:a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc; b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc. Hướng dẫn về việc xác định tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc làm cơ sở truy cứu TNHS người đánh bạc tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 giữ nguyên quy định tại tiểu mục 6.1 mục 6 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS (viết tắt là Nghị quyết số 02/2003). Quy định này được hiểu chỉ những tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc mà thu giữ được hoặc thu giữ ở từ các nguồn được viện dẫn thì mới dùng để truy cứu TNHS.

Trong khi đó, theo Từ điển Tiếng Việt, "thu giữ” là "dùng quyền lực giữ lại đồ vật, hàng hóa để chờ xử lý theo pháp luật”[4]. Cho nên, chỉ tiền hoặc hiện vật được cơ quan có thẩm quyền thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang hoặc qua khám xét thu giữ được thì mới được xác định là tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc. Chúng tôi cho rằng việc quy định tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc chỉ bao gồm những tiền hoặc hiện vật thu giữ như hướng dẫn tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 là chưa phù hợp. Bởi các lý do sau:

Thứ nhất, quy định như khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 sẽ bỏ sót những khoản tiền hoặc hiện vật được dùng để đánh bạc nhưng không bị thu giữ trong trường hợp con bạc bỏ trốn mang theo trong các vụ án đánh bạc mà nhiều người cùng đánh bạc với nhau được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 nhưng sau đó không thu giữ được hoặc do các con bạc tự giao nộp. Quy định này gây bất công trong việc xác định TNHS đối với những người đánh bạc tuân thủ việc bắt quả tang của cơ quan có thẩm quyền và những người cố ý vi phạm, bỏ trốn. Bất cập này được thể hiện qua 02 ví dụ sau:

Ví dụ 1: Do đã thỏa thuận hùn lắc tài xỉu vào ngày 25/9/2011 nên các bị can Sang, Tốt, Chi, Kha và Văn Hùng tiếp tục hùn vốn lắc tài xỉu được thua bằng tiền tại sòng tài xỉu thuộc tại ấp VT, xã VT, huyện AP, tỉnh A vào ngày 26/9/2011. Theo đó, số người tham gia hùn vốn là 5 người với 5 phần hùn, mỗi phần hùn 20.000.000 đồng. Các bị can Sang, Tốt, Chi, Kha và Văn Hùng thuê các bị can Việt Hùng và Hào làm vĩ chung chi với các con bạc. Vào khoảng 11 giờ sòng tài xỉu bắt đầu chơi. Bị can Văn Hùng, Tốt xuất trước 02 phần hùn là 40.000.000 đồng và giao Sang giữ. Tốt lắc đầu và Hào làm vĩ bên xỉu, Việt Hùng làm vĩ bên tài. Chi cảnh giới. Tốt lắc thua khoảng 20.000.000 đồng thì Sang vào thay Tốt. Sang thua thêm khoảng 2.500.000 đồng thì Kha vào thay. Sang để hết phần tiền hùn còn lại khoảng 17.500.000 đồng xuống sàn. Do bận việc riêng nên Tốt ra về và nhờ Việt Hùng theo dõi việc hùn tiền và gọi điện báo cho Tốt biết. Khi Việt Hùng đi ra ngoài thì Sang vào làm vĩ thay cho Việt Hùng. Văn Hùng thấy nhà cái thua gần hết tiền hùn nên kêu Chi, Sang, Kha đưa phần hùn. Sau khi nhận 60.000.000 đồng, Văn Hùng đưa lại cho Sang 20.000.000 đồng để tiếp tục chơi. Văn Hùng giữ 40.000.000 đồng và đi ra ngoài cùng Chi với cảnh giới. Khi đó, Kha bắt đầu lắc ăn lại nhưng khi lắc được một lúc thì bị Công an huyện AP bắt quả tang. Chỉ có Sang, Hào và người chơi (Bình, Tấn) bị bắt và số tiền thu giữ là 28.000.000 đồng; các bị cáo khác gồm Chi, Kha, Việt Hùng và Văn Hùng trốn thoát cùng các con bạc khác. Sau khi trốn thoát, Văn Hùng đã chia đều số tiền 40.000.000 đồng cho bị cáo, Kha và Chi. Cả ba đã dùng số tiền này vào mục đích riêng. Do số tiền thu giữ tại chiếu bạc chỉ là 28.000.000 đồng nên Cơ quan Điều tra đã khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân huyện AP đã truy tố cả 07 bị can về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 BLHS.

Ví dụ 2: Ngày 01/02/2012, Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Nguyễn Văn B và Lê Hồng Q đánh "sập sám” trên phần đất trống thuộc ấp VT, thị trấn A, huyện AP, tỉnh A. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày Công an huyện A bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc số tiền 22 triệu đồng, trong người H 15 triệu đồng, trong người T 10 triệu đồng, trong người B là 17 triệu đồng và trong người Q 21 triệu đồng. Các bị can xác định số tiền trong người được dùng để đánh bạc. Do số tiền dùng đánh bạc trên 50 triệu đồng nên Cơ quan Điều tra đã khởi tố, Viện kiểm sát huyện đã truy tố cả 04 bị can về tội đánh bạc theo điểm b khoản 2 Điều 248 BLHS.

So sánh 02 vụ án trên thấy rằng, tính chất nguy hiểm cho xã hội của các bị can tại ví dụ 1 là nguy hiểm hơn các bị can tại ví dụ 2 trong khi số tiền thực tế các bị can trong từng vụ án sử dụng đánh bạc đều trên 50 triệu đồng. Nhưng do các bị can trong ví dụ 2 tuân thủ việc bắt quả tang của Công an nên tất cả số tiền đánh bạc đều bị thu giữ và được dùng làm định lượng xử lý hành vi phạm tội của các bị can. Đối với ví dụ 1, các bị can đã bỏ trốn, không tuân thủ việc bắt quả tang của cơ quan Công an nên số tiền bị thu giữ là dưới 50 triệu đồng.

Thứ hai, quy định tại khoản 3 Điều 1 còn mâu thuẫn với quy định tại điểm b khoản 4 Điều 1 của Nghị quyết số 01/2010. Bởi vì, trong các vụ án đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá, chơi số đề (hình thức một người chơi với nhiều người)[5] không phải lúc nào các bên cũng đưa ngay tiền khi thỏa thuận hoặc nếu có đưa ngay thì các chủ đề, chủ cá độ không dại gì mà giữ số tiền đó trong người. Thông thường, để xử lý TNHS trong các vụ ghi số đề, cá độ bóng đá việc xác định số tiền đánh bạc là dựa trên các phơi, kèo cá độ của các chủ đề, chủ cá độ bị thu giữ. Nếu chỉ những số tiền được thu giữ được từ 03 nguồn trên thì sẽ không thể đấu tranh, phòng chống các hành vi đánh bạc này. Bên cạnh đó, nếu chỉ căn cứ vào tiền hoặc hiện vật được thu giữ 03 nguồn tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 xác định số tiền dùng để đánh bạc sẽ rất hiếm hoặc có thể là không có trường hợp "phạm tội nhiều lần” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS hoặc không thể truy cứu TNHS người đánh bạc với tình tiết định khung "có tính chất chuyên nghiệp” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 248 BLHS được hướng dẫn tại các điểm c, d khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010.

Vì vậy, cần bổ sung quy định khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 về việc xác định tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc mà không thu giữ được để khắc phục bất cập bên trên cũng như phù hợp với thực tiễn.

1.2. Đối với việc xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ, chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc

Điểm a mục 5.1 và điểm a mục 5.2 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 hướng dẫn xác định tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc của người chơi đề, cá độ và của chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc là tổng số tiền họ tham gia đánh bạc cùng với số tiền mà người chơi đề, cá độ trúng thưởng như sau:

"5.1. Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ dùng đánh bạc

a) Trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ.

5.2. Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc

a) Trường hợp có người chơi số đề, cá độ trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc là toàn bộ số tiền thực tế mà chủ đề, chủ cá độ đã nhận của những người chơi số đề, cá độ và số tiền mà chủ đề, chủ cá độ phải bỏ ra để trả cho người trúng (có thể là một hoặc nhiều người)…”.

Như vậy, việc xác định tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc trong trường hợp bên trên không chỉ dựa vào hành vi đã thực hiện mà còn dựa vào thời điểm phát hiện hành vi vi phạm. Chúng tôi cho rằng, cách tính số tiền đánh bạc trong trường hợp này là chưa thật sự ổn, chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi mà người đánh bạc đã thực hiện. Như chúng ta biết, để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, khoa học luật hình sự chia quá trình thực hiện tội phạm qua 03 giai đoạn. Tùy thuộc vào việc tội phạm bị phát hiện khi đang được thực hiện ở giai đoạn nào mà TNHS sẽ được đặt ra tương ứng. Theo đó, TNHS sẽ được xác định theo hướng nghiêm khắc hơn theo thứ tự của từng giai đoạn là chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tội phạm hoàn thành. Bên cạnh đó, BLHS còn quy định việc truy cứu TNHS một người căn cứ vào hành vi mà họ thực hiện. Sau khi hành vi phạm tội đã hoàn thành, việc dựa vào hậu quả để truy cứu TNHS chỉ áp dụng trong trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp. Trong khi đó, đối với tội đánh bạc, người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nhưng theo khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 thì việc truy cứu TNHS lại người đánh bạc lại dựa vào thời điểm phát hiện tội phạm trong khi hành vi phạm tội đã hoàn thành từ thời điểm hai bên thỏa thuận xong số tiền đánh bạc và tỷ lệ thắng thua. Hơn nữa, dù hành vi đánh bạc bị phát hiện trước hay sau khi có kết quả thắng thua thì hành vi đó cũng chấm dứt và sẽ bị xem xét để xử lý. Chúng ta không thể nói rằng đến thời điểm có kết quả thắng thua thì hành vi của người đánh bạc sẽ nguy hiểm hơn trường hợp chưa có kết quả thắng thua. Trong khi đó, để xử lý việc các bên đã chung chi số tiền thắng đề, cá độ thì cơ quan tiến hành tố tụng hoàn toàn có thể áp dụng các quy định tại Điều 41 BLHS và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu sung công số tiền thu lợi bất chính.

Bên cạnh đó, chính quy định việc xác định số tiền đánh bạc dựa vào thời điểm phát hiện tội phạm cũng gây vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Chẳng hạn, vào khoảng 15 giờ 30 ngày 12/8/2012, Công an bắt quả tang chủ đề A đang ghi đề. Khi đó, số tiền thể hiện trên các phơi đề là 1.800.000 đồng. Vì vậy, A không bị khởi tố do số tiền dùng để đánh bạc chưa đủ định lượng (2 triệu đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS. Đến khoảng 17 giờ 30, B là người mua đề của A đến nhà A để nhận tiền trúng đề sau khi dò kết quả xổ số trên đài truyền thanh. Khi đến nhà A thì B bị Công an mời về trụ sở làm rõ hành vi của A và biết được B có mua đề của A con số 54 với số tiền 200.000 đồng. Theo tỷ lệ thắng thua là 1 ăn 70 thì hành vi của B đã đáp ứng mặt khách quan của tội đánh bạc (200.000 đồng x 70 = 14.000.000 đồng). Như vậy, trong vụ án này, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2010 thì A không bị truy cứu TNHS do hành vi của A bị phát hiện trước khi có kết quả xổ số; trong khi hành vi của B lại bị truy cứu TNHS do bị phát hiện sau khi có kết quả xổ số. Chúng tôi cho rằng, việc Nghị quyết số 01/2010 quy định tiền trúng xổ số thực tế được dùng làm căn cứ xác định tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc là một tiến bộ so với việc dùng tiền ảo như hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS (viết tắt là Nghị quyết số 01/2006) trước đây. Tuy nhiên, việc vẫn duy trì cách tính tiền đánh bạc dựa vào thời điểm phát hiện tội phạm như hướng dẫn tại khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 là chưa đúng với nguyên tắc xác định hành vi phạm tội, các giai đoạn thực hiện tội phạm, nguyên tắc xác định lỗi mà pháp luật hình sự quy định và thực tiễn đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. Hơn nữa, đối với các hình thức cá độ bóng đá, đánh đề thì việc phát hiện, xử lý thường diễn ra trước khi có kết quả xổ số hoặc kết quả của trận đấu. Với quy định thời điểm phát hiện hành vi phạm tội dựa vào mốc thời gian có kết quả thắng thua hay không là không cần thiết đối với việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho hành vi phạm tội mà người đánh bạc đã thực hiện.

Vì vậy, cần nghiên cứu sửa đổi quy định này cho phù hợp với thực tiễn, góp phần đấu tranh đối với loại tội phạm này đạt hiệu quả cao hơn.

1.3. Đối với quy định về cộng dồn tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc

Đoạn đầu và các điểm a, b khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 quy định:

"Khi xác định TNHS đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét; cụ thể như sau:

a) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu TNHS (dưới 2.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu TNHS (đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của BLHS, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu TNHS về tội đánh bạc;

b) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần đánh bạc nào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu TNHS (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu TNHS về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó”.

Với hướng dẫn này, có thể hiểu, cho dù một người tham gia đánh bạc nhiều lần mà các lần đó đều dưới 2.000.000 đồng và nếu họ chưa bị kết án về tội Đánh bạc hoặc tội quy định tại Điều 249 BLHS thì người đánh bạc cũng không bị truy cứu TNHS. Tuy nhiên, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của người thực hiện hành vi đánh bạc nhiều lần dưới mức tối thiểu trong một số trường hợp còn cao hơn người chỉ thực hiện hành vi đánh bạc 01 lần bằng hoặc trên mức tối thiểu không đáng kể. Chẳng hạn, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi bán số đề 10 ngày liên tục, mỗi ngày bán được từ 1.800.000 đồng đến 1.900.000 đồng. Khi A bán số đề đến ngày thứ 10 thì bị bắt quả tang. Nhưng A lại không bị truy cứu TNHS do các lần bán đề của A đều dưới 2 triệu đồng. Ngược lại, Trần Văn B bán số đề 01 lần và bị bắt quả tang. Khi bắt quả tang B thì số tiền trên phơi là 2.100.000 đồng nên B bị truy cứu TNHS.

Ngoài ra, khi một người tham gia đánh bạc nhiều lần mà mỗi lần đều trên mức tối thiểu nhưng dưới 50 triệu đồng thì cho dù các lần cộng lại trên 50 triệu đồng thì cũng không thể truy cứu TNHS theo khoản 2 Điều 248 BLHS mà chỉ truy cứu TNHS theo khoản 1 Điều 248 và áp dụng thêm tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS. Trường hợp này, người đánh bạc bị xử lý tương tự như người thực hiện hành vi đánh bạc 01 lần với số tiền đánh bạc là 2 triệu đồng. Chúng ta thấy rằng, rõ ràng hành vi phạm tội của người phạm tội nhiều lần trên mức tối thiểu (cộng dồn trên 50 triệu đồng) sẽ nguy hiểm hơn rất nhiều so với hành vi của người chỉ đánh bạc một lần với số tiền đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu không đáng kể nhưng họ lại chỉ bị truy cứu TNHS trong cùng 01 khoản. Vì vậy, việc không cho phép cộng dồn khi tính số tiền đánh bạc để định khung khi các lần đều trên mức tối thiểu là chưa phù hợp.

Chúng tôi cho rằng, với tình hình tội phạm đánh bạc diễn ra ngày càng phức tạp như hiện nay, việc quy định không cho phép cộng dồn số tiền đánh bạc trong trường hợp các lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu nhưng kế tiếp nhau về mặt thời gian nhưng tổng số tiền các lần đánh bạc trên 2 triệu đồng để truy cứu TNHS và không cho phép cộng dồn trong trường hợp các lần đánh bạc đều trên mức tối thiểu và tổng số tiền các lần đánh bạc trên 50 triệu đồng để định khung hình phạt sẽ làm giảm khả năng đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Hơn nữa, hiện nay, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLHS năm 2009 đã bỏ trường hợp "đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc mà còn vi phạm” để xem xét truy cứu TNHS những trường hợp số tiền đánh bạc dưới 2 triệu đồng. Vì vậy, cần xem xét hướng dẫn cách cộng dồn số tiền đánh bạc trong 02 trường hợp trên để góp phần hạn chế hành vi đánh bạc đang diễn biến có chiều hướng gia tăng, phức tạp như hiện nay.

1.4. Vướng mắc về hai trường hợp đánh bạc

Khoản 1 Điều 248 BLHS quy định, để truy cứu TNHS của một người đánh bạc trái phép thì tiền hoặc hiện vật mà họ dùng để đánh bạc được đưa ra xem xét. Nếu tiền hoặc hiện vật trên mức định lượng thì người tham gia đánh bạc bị truy cứu TNHS. Do trên thực tế, các hình thức đánh bạc diễn ra muôn hình, muôn vẻ nên khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 đã tách ra 02 trường hợp là (1) nhiều người cùng đánh bạc với nhau và (2) số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa … (thực chất là một người đánh bạc với nhiều người) để xử lý. Cụ thể:

"a) Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc làtổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn tại khoản 3 Điều này;

b) Trường hợp đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa... thì một lần chơi số đề, một lần cá độ bóng đá, một lần cá độ đua ngựa... (để tính là một lần đánh bạc) được hiểu là tham gia chơi trong một lô đề, tham gia cá độ trong một trận bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa... trong đó người chơi có thể chơi làm nhiều đợt. TNHS được xác định đối với người chơi một lần đánh bạc trong các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi trong các đợt đó.”

Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng thì quy định này phát sinh một số vướng mắc, bất cập sau:

Thứ nhất, do Nghị quyết 01/2010 chỉ dừng lại ở việc phân ra hai trường hợp trên mà không giải thích thế nào là "nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau” và những điểm chung của các hình thức khác (số đề, cá độ bóng đá, đua ngựa…) nên thực tiễn vẫn khó xác định như trường hợp một người làm cái chơi với nhiều người đánh bạc khác như trong các vụ đánh bạc: "sập xám”, "bài cào 3 lá” "bài xì giách”, "bầu cua” … gây nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Chẳng hạn, đối với "bài cào 3 lá” những người chơi chỉ ăn thua với nhà cái, không quan tâm tới thắng thua của người khác nhưng các con bạc lại gặp nhau và cùng ngồi vào một chiếu bạc và thông thường các con bạc chỉ chơi với nhà cái và thường mang theo ít tiền. Tuy nhiên, trong thực tiễn, đối với trường hợp này, các cơ quan tiến hành tố tụng thường xác định tiền đánh bạc của từng người đánh bạc là toàn bộ số tiền của tất cả các con bạc để truy cứu TNHS như trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau. Bên cạnh đó, chơi "bài cào 03 lá” còn có một dạng được gọi là "cào dùa” tức các con bạc đặt số tiền như nhau vào giữa chiếu bạc. Khi điểm của 03 con bài của con bạc nào lớn nhất (tính tổng 03 lá bài có số lẻ từ 1 đến 9 hoặc 3 lá bài toàn là hình) sẽ thắng toàn bộ. Hình thức chơi tài – xỉu cũng có cách ăn thua tương tự. Chúng tôi cho rằng, cả hai trường hợp trên đều thuộc hình thức "nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau” bởi vì trong trường hợp này sẽ không xác định được số tiền cụ thể mà mỗi người đánh bạc tham gia. Trong suốt lần đánh bạc đó, số tiền mà người làm cái hoặc những người đánh bạc khác có sự dịch chuyển qua lại nên không thể cho rằng đây là trường hợp đánh bạc thuộc điểm thuộc điểm b khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010.

Bên cạnh đó, việc phân chia 02 trường hợp đánh bạc như khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 là không lôgic. Bởi vì, cách phân loại tại điểm a và điểm b khoản 4 Điều 1 Nghị quyết dựa trên 02 căn cứ khác nhau nên không bao hàm hết toàn bộ những hành vi đánh bạc diễn ra trên thực tế. Trong khi phân loại theo điểm a là dựa theo số người chơi, còn phân loại theo điểm b lại theo hình thức của trò đánh bạc.

Cho nên, để khắc phục vướng mắc về 02 trường hợp đánh bạc như hướng dẫn tại khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010, chúng tôi cho rằng, cần phân chia 02 trường hợp đánh bạc căn cứ vào 02 hình thức đánh bạc có xác định được số tiền đánh bạc của từng người tham gia hay không thay cho cách phân chia như hiện nay để đảm bảo tính lôgic; đồng thời giải thích thế nào là xác định được tiền đánh bạc của từng người chơi và trường hợp nào không xác định được kết hợp với việc nêu lên một số hình thức đặc trưng.

Thứ hai, đối với quy định tại điểm b khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010, trong trường hợp người đánh bạc chơi làm nhiều đợt trong cùng một lô đề, một trận bóng đá, một kỳ đua ngựa… nhưng không phải với 01 chủ để, chủ cá độ mà với nhiều chủ đề, chủ cá độ thì cách xác định một lần đánh bạc là như thế nào? Chẳng hạn, trong cùng một ngày A mua nhiều số đề của chủ đề B và mua nhiều số đề của chủ đề C. Các số mà A mua của B và C đều thuộc một đài xổ số của ngày hôm đó. Trong trường hợp này, việc xác định A đánh bạc một lần hay 02 lần cũng có quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng, do điểm b khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 quy định, đối với hành vi đánh đề việc xác định một lần đánh bạc là dựa vào lô đề mà con bạc đánh. Vì vậy, trong trường hợp này hành vi của A là đánh bạc 01 lần. Ý kiến khác lại cho rằng, một lần đánh bạc trong một lô đề được hiểu là con bạc đánh đề trong một lô đề với một chủ đề chứ không phải với nhiều chủ đề. Vì vậy, hành vi của A phải xác định là 02 lần đánh bạc.

Chúng tôi cho rằng, do quy định tại điểm b khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 chưa rõ ràng nên việc tồn tại nhiều quan điểm khác nhau là khó tránh khỏi. Tuy nhiên, quy định của Nghị quyết số 01/2010 hướng dẫn xác định 01 lần đánh bạc là tổng số tiền trong các đợt của 01 lô đề, 01 trận bóng đá, 01 lần đua ngựa mà không nói rõ người đánh bạc chơi với 01 chủ đề, chủ cá độ hay với nhiều chủ đề, chủ cá độ. Xem xét hành vi đánh bạc bằng hình thức đua ngựa, chúng ta thấy, trong một đợt đua ngựa, người cá độ có thể đánh bạc với một chủ cá độ và có thể đánh bạc với nhiều chủ cá độ. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, quan điểm thứ nhất là phù hợp hơn cả. Việc suy luận theo quan điểm thứ nhất cũng khắc được vướng mắc trong trường hợp, người chơi đề dùng 1.000.000 đồng mua một con số với chủ đề này và dùng 1.000.000 đồng khác mua con số của chủ đề khác khi cả hai chủ đề đều bán số đề của cùng một đài với trường hợp con bạc dùng 2.000.000 đồng mua 02 con số khác nhau của cùng một chủ đề trong cùng một đài. Tuy nhiên, để áp áp dụng thống nhất trong thực tiễn cần có hướng dẫn rõ về trường hợp này.

Thứ ba, đối với quy định tại điểm a Điều 4 Nghị quyết số 01/2010, việc phân định lần đánh bạc, đợt đánh bạc chỉ áp dụng đối với trường hợp cá độ bóng đá, đua ngựa, đánh đề… mà không được phân định trong trường hợp "nhiều người cùng đánh bạc với nhau” dẫn đến vướng mắc trong thực tiễn. Điều này được thể hiện qua vụ án sau: Khoảng 15 giờ, ngày 28/02/2011, Công an huyện T, tỉnh T đã bắt quả tang trong nhà bà D có 5 người đang đánh bài Ấn Độ 6 lá gồm: T, H, A, Đ và Th. Số tiền thu tại chiếu bạc và thu trên người các con bạc là 2.172.000 đồng tiền dùng để đánh bạc.

Ngày 29/9/2011, Tòa án nhân dân huyện T đã đưa vụ án ra xét xử, tuyên phạt 4 bị cáo T, H, Đ và Th phạm tội đánh bạc, với mức án là 6 tháng tù cho hưởng án treo và phạt bổ sung 3 triệu đồng mỗi bị cáo. Riêng đối với bị cáo A, Tòa nhận định bị cáo này chỉ đem theo 240.000 đồng tham gia chơi được khoảng 15 phút thì thua hết tiền, nên nghỉ rồi ngồi chơi xem những người khác đánh bài cho đến khi bị bắt quả tang. Do xét thấy số tiền A dùng để đánh bạc dưới 2 triệu đồng, bản thân chưa có tiến án, tiền sự nên được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không phạm tội. Trong khi đó, bị cáo Th chỉ mang theo 150.000 đồng để đánh bạc nhưng vì khi bị bắt quả tang Th vẫn còn đang chơi bài, nên bị Toà tuyên có tội.

Hiện nay, có hai quan điểm về cách tuyên của Tòa án cấp sơ thẩm. Ý kiến thứ nhất cho rằng, lần đánh bạc trong trường hợp nhiều người đánh bạc với nhau được xác định từ khi các con bạc bắt đầu tham gia cho đến khi bị bắt quả tang là một lần đánh bạc. Vì vậy, A đã phạm tội đánh bạc do tổng số tiền mà các con bạc dùng để đánh bạc trên 2 triệu đồng. Ý kiến khác lại cho rằng, mỗi ván bài là một lần đánh bạc, ván bài bị bắt quả tang không có A tham gia, nên A không phạm tội đánh bạc.

Qua hai quan điểm trên, chúng tôi cho rằng, khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 quy định: "Khi xác định TNHS đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét…” và quy định này áp dụng cho tất cả các hình thức đánh bạc không chỉ đối với đánh đề, cá độ bóng đá, đua ngựa. Trong khi đó, điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 lại không hướng dẫn thế nào là lần đánh bạc. Tuy nhiên, như cách tính tiền đánh bạc mà điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 quy định thì có thể hiểu trong các hình thức đánh bạc mà các con bạc cùng tham gia đánh bạc với nhau thì tiền đánh bạc là tổng số tiền các con bạc tham gia. Đối với vụ án trên, để xác định chính xác số tiền mà A bị xác định để truy cứu TNHS thì cần xác định đến thời điểm A ngưng đánh bạc thì có con bạc nào khác vào chơi hay không. Nếu không thì A phải chịu TNHS đối với số tiền bị thu giữ như các con bạc khác. Nếu có thì cần trừ số tiền các con bạc tham gia sau khi A ngưng chơi để truy cứu TNHS đối với A. Việc xem xét 01 lần đánh bạc được hiểu là chơi từ đầu đến cuối, trong 01 lần đánh bạc thì người đánh bạc có thể chơi làm nhiều ván (đợt). Cho nên, việc 01 trong các con bạc ngưng không phải là yếu tố loại trừ TNHS. Tuy nhiên, trong các trường hợp như A, cần áp dụng khoản 4 Điều 8 BLHS để xử lý hành chính đối với A mà không cần truy cứu TNHS.

Bên cạnh đó, theo cơ cấu tại Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 thì việc xác định tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc tại khoản 3 áp dụng cho mọi loại hành vi đánh bạc. Trong khi đó, khi xác định số tiền đánh bạc đối với từng người trong trường hợp nhiều người đánh bạc với nhau được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 có dẫn chiếu đến khoản 3 Điều 1 còn các trường hợp đánh bạc tại điểm b khoản 4 Điều 1 lại có cách tính riêng và có sự phân ra một đợt, một lần mà không có sự dẫn chiếu đến khoản 3 Điều 1. Chúng tôi cho rằng, cùng với đề xuất sửa đổi bổ sung khoản 3 Điều 1 như tại tiểu mục 1.1. bài viết này thì cần có quy định dẫn chiếu khoản 3 Điều 1 cho cả điểm b khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010.

1.5. Về đồng phạm trong tội đánh bạc

Quy định về cách tính tiền hoặc hiện vật đánh bạc tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 và thực tiễn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội đánh bạc so với quy định về đồng phạm tại Điều 20 BLHS có sự không thống nhất.

Khoản 1 Điều 20 BLHS quy định về đồng phạm như sau: "Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.

Xem xét quy định về đồng phạm đối với tội đánh bạc thấy rằng, không có việc một người tự đánh bạc với chính mình cho nên yếu tố chủ thể (từ 02 người trở lên) được quy định tại khoản 1 Điều 20 BLHS được đáp ứng. Đối với yếu tố cùng cố ý thực hiện tội phạm, các con bạc tham gia vào đánh bạc đều là cố ý với mong muốn sẽ thắng. Cho nên, yếu tố về mặt chủ quan của các con bạc trong tội đánh bạc cũng đáp ứng quy định về đồng phạm tại khoản 1 Điều 20 BLHS.

Bên cạnh đó, theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 thì tiền hoặc hiện vật được xác định là tổng số tiền hoặc hiện vật mà các con bạc tham gia. Như vậy, trong tất cả các hình thức đánh bạc (bị xử lý hình sự) thì các con bạc đều là đồng phạm của nhau đối với tổng số tiền hoặc hiện vật đánh bạc.

Tuy nhiên, thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng, trong một số vụ án mà nhiều người đánh bạc với nhau, các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ xử lý những người đánh bạc bị bắt quả tang. Đối với các con bạc đánh một vài ván rồi bỏ về hoặc bỏ trốn thì thường không điều tra đến nơi hoặc có xác định được lại không truy cứu TNHS. Trong các trường hợp này, Viện kiểm sát, Tòa án cấp sơ thẩm không trả hồ sơ điều tra bổ sung và Tòa án cấp phúc thẩm cũng không hủy án do bỏ sót người phạm tội. Đối với các vụ án đánh bạc bằng hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa, các cơ quan tiến hành tố tụng thường truy cứu TNHS đối với những con bạc mà số tiền đánh bạc của họ đủ mức định lượng. Đối với các con bạc số tiền chưa đủ yếu tố định lượng, chỉ xử lý hành chính và xác định hoặc là người làm chứng hoặc là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong vụ án hình sự.

Với thực tiễn áp dụng như bên trên, có ý kiến cho rằng, việc cơ quan tiến hành tố tụng không truy cứu TNHS các con bạc mà tiền đánh bạc của họ chưa đến mức truy cứu TNHS theo hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2010 là phù hợp. Do Nghị quyết số 01/2010 đã phân hóa TNHS của các đối tượng này nên không thể áp dụng quy định tại Điều 20 BLHS để truy cứu TNHS họ với tư cách đồng phạm trong vụ án. Ý kiến khác lại cho rằng, các con bạc mà tiền đánh bạc của họ chưa đến mức truy cứu TNHS thì họ vẫn là đồng phạm trong vụ án đánh bạc. Nhưng do khoản 4 Điều 8 BLHS quy định, "những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”. Cho nên việc cơ quan tiến hành tố tụng không truy cứu TNHS những con bạc này là do chính sách hình sự đối với họ chứ hành vi của họ vẫn phạm tội.

Ngoài ra, thực tiễn còn có một số nơi khi xét xử các vụ án đánh bạc, các Tòa án không áp dụng quy định về đồng phạm đối với các con bạc (trong trường hợp nhiều người cùng đánh bạc với nhau) cùng tham gia đánh bạc mà chỉ áp dụng đồng phạm đối với những người hùn vốn làm chủ (như nhà cái lắc tài xỉu, người làm cái trong các vụ đánh bài cào, sập xám) và không áp dụng đồng phạm trong trường hợp người chơi đề, cá độ tham gia đánh đề, cá độ bóng đá bị truy cứu TNHS cùng với chủ đề, chủ cá độ. Ý kiến bảo vệ quan điểm này cho rằng, đối với tội đánh bạc, số tiền đánh bạc đã bị phân hóa để truy cứu TNHS của những người tham gia nên những người đánh bạc với nhau không phải là đồng phạm của nhau.

Chúng tôi cho rằng, như phân tích bên trên, hành vi của các con bạc tham gia vào các vụ án đánh bạc (bị xử lý hình sự) là đồng phạm của nhau chỉ cần một trong các con bạc tham gia vào vụ án đó bị truy cứu TNHS (trong trường hợp số tiền đánh bạc đủ yếu tố định lượng). Bởi vì, khoản 1 Điều 248 BLHS chỉ quy định "Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng”mà không có sự phân hóa TNHS của những người tham gia đánh bạc.Quy định của Nghị quyết số 01/2010 nhằm cụ thể hóa TNHS của những người tham gia vào vụ án đánh bạc. Hành vi của những con bạc không đủ yếu tố định lượng (theo cách xác định của Nghị quyết số 01/2010) cũng cần xác định là hành vi phạm tội vì tiền hoặc hiện vật dùng để truy tố con bạc khác bao gồm cả số tiền, hiện vật mà con bạc không bị truy cứu TNHS trong đó. Quy định về phân hóa TNHS trong Nghị quyết số 01/2010 là căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng khoản 4 Điều 8 BLHS không truy cứu TNHS các con bạc này. Vì lẽ đó, các con bạc bị truy cứu TNHS đều là đồng phạm của nhau. Việc Cơ quan tiến hành tố tụng không áp dụng quy định về đồng phạm là thiếu sót. Đối với những con bạc mà tiền đánh bạc của họ chưa đến mức bị truy cứu TNHS thì hành vi của họ vẫn phạm tội và là đồng phạm với các con bạc khác (bị truy cứu TNHS) nhưng vì chính sách hình sự nên họ không bị xử lý hình sự.

Để áp dụng thống nhất quy định về động phạm đối với tội đánh bạc, cần bổ sung hướng dẫn cách xác định vào Điều 1 Nghị quyết số 01/2010.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện

Để khắc phục các bất cập trên, chúng tôi kiến nghị hoàn thiện một số vấn đề sau:

2.1. Kiến nghị hoàn thiện một số quy định cụ thể tại Điều 1 Nghị quyết số 01/2010

Trước mắt, kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 như sau:

Thứ nhất, bổ sung vào khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 căn cứ xác định tiền hoặc hiện vật đánh bạc như sau:

"d) tiền hoặc hiện vật khác mặc dù không bị thu giữ nhưng có căn cứ đã được hoặc sẽ được dùng vào việc đánh bạc”.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung quy định mục 5.1 và mục 5.2 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 theo hướng bỏ quy định việc tính tiền đánh bạc dựa vào thời điểm phát hiện hành vi phạm tội mà chỉ dựa vào thời điểm hành vi phạm tội đã hoàn thành. Theo đó, mục 5.1 và mục 5.2 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 được sửa đổi, bổ sung như sau:

 "5.1. Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ dùng đánh bạc

Số tiền mà người chơi số đề, cá độ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ.

5.2. Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc

Số tiền chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc là toàn bộ số tiền thực tế mà chủ đề, chủ cá độ đã nhận của những người chơi số đề, cá độ.”

Bên cạnh đó, kiến nghị bổ sung vào khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 nội dung như sau:

"5.3. Trường hợp khi hành vi đánh bạc bị phát hiện mà có kết quả thắng thua thì số tiền thắng thua không tính vào tổng số tiền hoặc hiện vật để truy cứu TNHS mà cần áp dụng Điều 41 BLHS và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý.

Thứ ba, cần quy định hình thức cộng dồn đối với số tiền các lần đánh bạc trên mức khởi điểm và đối với việc đánh bạc nhiều lần nhưng các lần đều dưới mức khởi điểm. Cụ thể, cần sửa đổi, bổ sung các điểm a, b khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 như sau:

Khi xác định TNHS đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét; cụ thể như sau:

a) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu TNHS (dưới 2.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu TNHS (đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của BLHS, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu TNHS về tội đánh bạc. Trừ trường hợp các lần đánh bạc được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian mà tổng số tiền các lần đánh bạc trên 2.000.000 đồng.

b) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần đánh bạcnào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu TNHS (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu TNHS về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó. Trong trường hợp này, số tiền các lần đánh bạc trên mức tối thiểu được cộng lại để xem xét việc định khung hình phạt.

Thứ tư, đối với 02 trường hợp đánh bạc, kiến nghị cần dựa vào cùng một tiêu chí để phân loại và có sự giải thích rõ trường hợp nào là hình thức đánh bạc xác định được tiền đánh bạc của từng người đánh bạc, trường hợp nào là hình thức đánh bạc không xác định được tiền đánh bạc của từng người đánh bạc. Cụ thể, kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định tại các điểm a, b khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 như sau:

"a) Đối với hình thức đánh bạc khôngxác định được tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng người đánh bạc (như các hình thức 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, tài xỉu...) thì tiền hoặc hiện vật của từng người đánh bạc làtổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn tại khoản 3 Điều này. Việc xem xét 01 lần đánh bạc trong trường hợp này là từ khi việc đánh bạc bắt đầu cho đến khi kết thúc việc đánh bạc. Trong 01 lần đánh bạc thì người đánh bạc có thể chơi làm nhiều ván (đợt).

Hình thức đánh bạc khôngxác định được tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng người đánh bạc được hiểu là giữa những người đánh bạc trực tiếp ăn thua với nhau hoặc trường hợp trong số những người tham gia đánh bạc có người đứng ra làm cái đánh bạc với những người đánh bạc khác nhưng số tiền mà người làm cái hoặc những người đánh bạc khác có sự dịch chuyển qua lại.

b) Đối với hình thức đánh bạc xác định được tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng người đánh bạc (như các hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa...) thì một lần chơi số đề, một lần cá độ bóng đá, một lần cá độ đua ngựa... (để tính là một lần đánh bạc) được hiểu là tham gia chơi trong một lô đề, tham gia cá độ trong một trận bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa... trong đó người chơi có thể chơi làm nhiều đợt. TNHS được xác định đối với người chơi một lần đánh bạc trong các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi trong các đợt đó. Tổng số tiền, giá trị hiện v��t của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn như tại khoản 3 Điều này.

Trong trường hợp, người đánh bạc tham gia đánh bạc nhiều đợt trong cùng một lô đề, một trận bóng đá, một kỳ đua ngựa nhưng không phải với 01 chủ đề, chủ cá độ… mà với nhiều chủ đề, chủ cá độ thì cách xác định một lần đánh bạc không dựa vào số người chủ đề, chủ đua ngựa … mà dựa vào số lô đề, số trận bóng đá, số kỳ đua ngựa.

Thứ năm, bổ sung vào Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 quy định về đồng phạm trong tội đánh bạc như sau:

"6. Đồng phạm trong vụ án đánh bạc

Bên cạnh việc áp dụng quy định tại Điều 20 BLHS thì việc áp dụng quy định về đồng phạm trong vụ án đánh bạc cần lưu ý:

6.1. Trong trường hợp không xác định được tiền hoặc hiện vật của từng người đánh bạc thì những người tham gia vào vụ đánh bạc là đồng phạm đối với tổng số tiền hoặc hiện vật được xác định dùng vào việc đánh bạc. Tuy nhiên, tùy theo tính chất, mức độ của những người đánh bạc có số tiền mang theo dưới mức định lượng (2.000.000 đồng) thì có thể xem xét áp dụng khoản 4 Điều 8 BLHS không truy cứu TNHS đối với họ.

6.2. Trường hợp xác định được tiền hoặc hiện vật của từng người đánh bạc thì những người tham gia vào vụ đánh bạc cũng là đồng phạm của nhau. Tuy nhiên, đối với những người đánh bạc mà số tiền họ tham gia vào vụ đánh bạc dưới mức khởi điểm (2.000.000 đồng) thì áp dụng khoản 4 Điều 8 BLHS không truy cứu TNHS đối với họ”.

2.2. Về cơ cấu của quy định hướng dẫn Điều 248 BLHS

Cơ cấu hiện nay tại Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 còn một số bất hợp lý và đây là nguyên nhân ảnh hưởng đến việc áp dụng trong thực tiễn. Để khắc phục, chúng tôi kiến nghị, cơ cấu của Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 cần chia ra làm ba phần dựa theo cách phân chia 02 hình thức đánh bạc là "không xác định được tiền hoặc hiện vật của từng người đánh bạc” và "xác định được tiền hoặc hiện vật của từng người đánh bạc”. Cụ thể như sau:

Phần chung: Chứa các quy định mang tính bao quát mà các hình thức đánh bạc đều có như: (1) khái niệm đánh bạc trái phép; (2) cách xác định tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc; (3) việc phân chia các hình thức đánh bạc (dựa theo việc có xác định được số tiền, hiện vật mà từng người đánh bạc tham gia hay không)...

Phần quy định đối với "hình thức đánh bạc không xác định được tiền hoặc hiện vật của từng người đánh bạc” bao gồm: (1) khái niệm "hình thức đánh bạc không xác định được tiền hoặc hiện vật của từng người đánh bạc” và liệt kê một vài hình thức phổ biến tượng trưng; (2) cách xác định số tiền đánh bạc của từng người đánh bạc; (3) khái niệm "ván”, "lần” đánh bạc trong trường hợp này; (4) vấn đề đồng phạm trong hình thức này…

Phần quy định đối với "hình thức đánh bạc xác định được tiền hoặc hiện vật của từng người đánh bạc” bao gồm: (1) khái niệm "hình thức đánh bạc xác định được tiền hoặc hiện vật của từng người đánh bạc” và liệt kê một vài hình thức phổ biến tượng trưng; (2) cách xác định số tiền đánh bạc của từng con bạc; (3) khái niệm "đợt”, "lần” đánh bạc trong trường hợp này; (4) vấn đề đồng phạm trong hình thức này…

Các nội dung của từng mục trên sẽ được trích từ quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 01/2010 và bổ sung, giải thích rõ những nội dung chưa phù hợp. Với cách hướng dẫn áp dụng Điều 248 BLHS với bố cục như trên sẽ dễ dàng áp dụng trong thực tiễn, hạn chế bất cập như hiện nay.

Đánh bạc trái phép tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, nên việc xác định được số tiền đánh bạc của những người tham gia để xác định có truy cứu TNHS hay không là rất phức tạp. Điều này được thể hiện qua việc có nhiều văn bản điều chỉnh việc điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này trong thời gian qua và liên tục thay đổi. Vì vậy, việc phát hiện những thiếu sót, bất cập trong các hướng dẫn liên quan đến tội "Đánh bạc” cần được nghiên cứu thường xuyên, đúc rút qua thực tiễn để việc xử lý bằng pháp luật hình sự đối với loại tội phạm này đạt hiệu quả trên thực tế. Với những phát hiện trong bài viết sẽ góp phần đánh giá các hướng dẫn hiện hành, làm cơ sở xem xét trong các lần sửa đổi, bổ sung tiếp theo.

 


[1] Thông thường là các hình thức:xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế, và các hình thức khác; Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử, bóng tay, bàn bi-a, hoặc các phương tiện khác; đua ngựa, chọi gà, bóng đá; Mua bảng đề, ô số đề; Bán thơ đề, bán số lô, số đề...

[2] Xem: Mục 6 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS; Mục 9 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS và Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248, Điều 249 của BLHS.

[3] Đó là: Công văn số 263/P4 ngày 14/6/2002 của Cục Cảnh sát điều tra thuộc Tổng cục Cảnh sát gửi Vụ 2B - Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Công văn số 253/VKSTC-V8 ngày 04/02/2008 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

[4] Xem: Viện Ngôn ngữ học, 2005, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, tr.957.

[5] Như xác định trong hướng dẫn trước đây tại điểm b tiểu mục 6.2 mục 6 Phần 1 Nghị quyết số 02/2003.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi