Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra của cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự

ThS. Lương Hải Yến
Phòng Quản lý khoa học và Thông tin tư liệu- Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát

Tạm đình chỉ trong tố tụng hình sự là một trong những chế định quan trọng được các Cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng tùy theo từng giai đoạn giải quyết vụ án hình sự. Trong giai đoạn điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra được Cơ quan điều tra áp dụng khi có đủ các điều kiện cụ thể quy định tại Điều 160 Bộ luật tố tụng hình sự. Ngay sau khi ban hành quyết định tạm đình chỉ điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định tạm đình chỉ cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị can và người bị hại. Trong trường hợp có căn cứ cho rằng quyết định tạm đình chỉ của Cơ quan điều tra chưa đủ hoặc không có cơ sở pháp lý, Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ của Cơ quan điều tra, yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra tiếp tục điều tra vụ án.

Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (Nxb Khoa học xã hội năm 1988) thì tạm là ‘‘Trong một thời gian nào đó’’; đình chỉ là: ‘‘Ngừng lại trong một thời gian hay vĩnh viễn’’. Như vậy chúng tôi có thể nêu khái niệm tạm đình chỉ điều tra như sau: "Tạm đình điều tra là việc Cơ quan điều tra tạm dừng việc tiến hành điều tra đối với cả vụ án hoặc tạm dừng điều tra vụ án đối với từng bị can trong một thời gian nào đó khi có những căn cứ được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự’’

So với Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Điều 160 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã bổ sung thêm điều kiện được áp dụng nhằm phù hợp với thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự đó là: ‘‘Trong trường hợp đã trưng cầu giám định nhưng chưa có kết quả giám định mà hết thời hạn điều tra thì tạm đình chỉ điều tra’’.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 160 Bộ luật tố tụng hình sự thì Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi có một trong các căn cứ sau:

- Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y thì có thể Tạm đình chỉ điều tra trước khi hết hạn điều tra;

- Trong trường hợp chưa xác định được bị can hoặc không biết bị can đang ở đâu thì Tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra;

- Trong trường hợp đã trưng cầu giám định, thời hạn điều tra đã hết mà chưa có kết quả giám định, trong trường hợp này việc giám định vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả.

Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định về các trường hợp Cơ quan điều tra được áp dụng chế định tạm đình chỉ điều tra, nhưng trên thực tế hiện nay vẫn còn xảy ra nhiều trường hợp Cơ quan điều tra áp dụng chế định này chưa thật sự chính xác, áp dụng không đúng căn cứ làm ảnh hưởng đến thời hạn điều tra giải quyết các vụ án hình sự.

Để phần nào hạn chế tỷ lệ án phục hồi điều tra do Cơ quan điều tra áp dụng chế định tạm đình chỉ điều tra không có cơ sở pháp lý, Kiểm sát viên cần có các kỹ năng nghiệp vụ để thực hiện tốt hoạt động này. Khi tiếp nhận quyết định tạm đình chỉ và hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên phải kiểm tra thời hạn điều tra vụ án (căn cứ vào ngày, tháng, năm Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án); chủ thể ban hành quyết định tạm đình chỉ (là thủ trưởng hoặc Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án); căn cứ Tạm đình chỉ của Cơ quan điều tra trong từng vụ án, cụ thể:

- Trường hợp Cơ quan điều tra tạm đình chỉ điều tra khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của hội đồng giám định pháp y.

+ Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi bị can bị bệnh tâm thần:

Khi phát hiện bị can có dấu hiệu bị bệnh tâm thần, Cơ quan điều tra phải ra quyết định trưng cầu giám định pháp y đối với bị can. Nếu Hội đồng giám định pháp y kết luận trước hoặc sau khi phạm tội bị can mắc bệnh tâm thần mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi, thì trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải ra quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị can.

Như vậy có thể nói, bản kết luận giám định pháp y của Hội đồng giám định pháp y là căn cứ pháp lý để Cơ quan điều tra ban hành quyết định tạm đình chỉ điều tra. Do đó, Kiểm sát viên phải tiến hành kiểm tra nội dung của quyết định trưng cầu giám định và kết luận giám định xem bị can mắc bệnh tâm thần ở thể nào, thời gian mắc bệnh là trước, trong hay sau khi thực hiện hành vi phạm tội? Bệnh bị can mắc phải có làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi không hay chỉ bị hạn chế khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi? Đối chiếu với lời khai của nhân chứng, người bị hại, người liên quan, người thân thích, người cùng làm việc với bị can (nếu có) về tiền sử bệnh, thái độ ứng xử hàng ngày hoặc thái độ của bị can khi thực hiện hành vi phạm tội.

Nếu Hội đồng giám định pháp y kết luận bị can mắc bệnh tâm thần: Trước và sau khi phạm tội, bị can không còn khả năng nhận thức hoặc điều khiển được hành vi của mình. Kiểm sát viên đề xuất lãnh đạo Viện ra quyết định áp dụng bắt buộc chữa bệnh đối với bị can, Cơ quan điều tra có trách nhiệm đưa bị can đến một cơ sở y tế chuyên khoa để điều trị (Khoản 2, Điều 311 BLTTHS). Trong một số trường hợp hành vi phạm tội của bị can không mang tính chất nghiêm trọng, bệnh mà bị can mắc phải không thuộc loại phá phách hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác, gia đình bị can có điều kiện chăm sóc, giám sát thì sẽ giao bị can cho gia đình, người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của Ủy ban nhân dân xã, Phường, thị trấn nơi bị can cư trú theo quy đinh tại Điều 43 Bộ luật hình sự.

Qua điều tra, nếu xác định bị can bị bệnh tâm thần phân liệt chưa khỏi bệnh hoặc chưa dứt hẳn bệnh, hoặc vào từng thời kỳ có thể tái phát. Trong khi gây án bị can chỉ bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Cơ quan điều tra vẫn tiến hành điều tra làm rõ hành vi phạm tội của bị can. Đây sẽ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt (điểm n, khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự).

Nếu có căn cứ cho rằng Hội đồng giám định pháp y kết luận không khách quan, chính xác về tình trạng bệnh của bị can, Điều tra viên áp dụng tạm đình chỉ điều tra đối với bị can là không đúng, thời hiệu giải quyết đối với vụ án vẫn còn thì Kiểm sát viên đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát ban hành quyết định hủy quyết đình tạm đình chỉ của Cơ quan điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra, tiếp tục điều tra.

+ Tạm đình chỉ điều tra khi bị can mắc bệnh hiểm nghèo:

Theo điều luật quy định, khi bị can mắc bệnh hiểm nghèo thì Cơ quan điều tra có thể tạm đình chỉ điều tra đối với bị can. Hiện nay, Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác chưa có quy định cụ thể về các bệnh bị can mắc phải được xác định là bệnh hiểm nghèo. Việc quy định‘‘bệnh hiểm nghèo’’tại Thông tư liên tịch số 02/2006 ngày 18/5/2006 của Bộ Công an - Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ quốc phòng - Bộ y tế và Nghị quyết số 01/2007 ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được áp dụng ở giai đoạn xét xử, thi hành án. Đó là áp dụng tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng và thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt. Do đó, trên thực tế với những bị can mắc bệnh nặng không còn khả năng sinh hoạt tối thiểu như không đi lại, ăn uống được và sức khỏe quá yếu hoặc những bị can mắc bệnh hiểm nghèo như quy định tại Thông tư 02/2006 và Nghị quyết 01/2007 đó là: ‘‘Ung thư giai đoạn cuối, bị HIV chuyển giai đoạn AIDS đang nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu...’’ đã có kết luận của bệnh viện và Hội đồng giám định pháp y thì Cơ quan điều tra có thể áp dụng ra quyết định Tạm đình chỉ điều tra. Trong quá trình kiểm sát điều tra vụ án, Kiểm sát viên có thể trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra, xác minh về thực trạng bệnh của bị can nhằm đảm bảo tính khách quan khi giải quyết vụ án.

- Trường hợp Cơ quan điều tra tạm đình chỉ điều tra khi chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can ở đâu (Bị can trốn, không xác định được nơi ở của bị can) và thời hạn điều tra đã hết.

+ Cơ quan điều tra tạm đình chỉ điều tra khi có căn cứ chứng minh có hành vi phạm tội xảy ra nhưng không xác định được bị can và thời hạn điều tra đã hết.

Với những trường hợp Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự nhưng chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được không đủ để chứng minh ai là người đã thực hiện hành vi phạm tội và thời hạn điều tra đã hết. Khi tiếp nhận quyết định tạm đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên phải nghiên cứu thẩm định lại các nguồn chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi; lời khai của bị hại, nhân chứng, vật chứng thu giữ...để đánh giá chứng cứ của vụ án.

Ví dụ, trong một vụ trộm cắp tài sản, trước khi ra quyết định tạm đình chỉ (Thời hạn điều tra sắp hết), Cơ quan điều tra tiếp tục lấy lời khai của nhân chứng A (là người hàng xóm của bị hại). Trong biên bản ghi lời khai, nhân chứng A có tiết lộ thêm một tình tiết mới, nhưng Điều tra viên không để ý nên đã không bám vào chi tiết này để đề nghị gia hạn thời hạn điều tra vụ án, tiếp tục điều tra truy tìm đối tượng phạm tội. Trong trường hợp này, Kiểm sát viên đề xuất lãnh đạo Viện ban hành quyết định hủy bỏ quyết định Tạm đình chỉ của Cơ quan điều tra, yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều tra tiếp tục điều tra truy tìm tội phạm. Nếu thấy cần thiết, Kiểm sát viên có thể trực tiếp tiến hành lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng để củng cố thêm chứng cứ của vụ án nhằm nhanh chóng làm sáng tỏ sự thật của vụ án.

+ Cơ quan điều tra tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu( bị can trốn) mà thời hạn điều tra đã hết.

Trên thực tế có nhiều vụ án Cơ quan điều tra đã thu thập được đầy đủ chứng cứ chứng minh được hành vi phạm tội của đối tượng phạm tội đã ra quyết định khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam đối với bị can nhưng không xác định được bị can ở đâu (Bị can bỏ trốn). Có những vụ án Cơ quan điều tra đã khởi tố bị can, tiến hành hỏi cung bị can, sau đó cho bị can tại ngoại hoặc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và bị can bỏ trốn.

Đối với cả hai trường hợp trên khi kiểm sát việc ban hành các quyết định tạm đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra một yếu tố bắt buộc Kiểm sát viên phải làm đó là xem xét Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã bị can trước khi ra quyết định tạm đình chỉ đối với bị can chưa? Thẩm quyền của người ra quyết định truy nã, nội dung quyết định truy nã có đầy đủ và đúng với quy định tại Điều 161 Bộ luật tố tụng hình sự hay không?. Khi kiểm sát quyết định truy nã, Kiểm sát viên cần chú ý xem quyết định truy nã đã ghi đầy đủ các hành vi phạm tội của bị can chưa?. Thực tế đã có những trường hợp bị can phạm cả hai tội, nhưng trong quyết định truy nã chỉ ghi bị can phạm một tội, nên khi bắt được bị can và phục hồi điều tra, các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ gặp vướng mắc khi buộc bị can phải chịu trách nhiệm về cả hai tội đã gây ra. Ngoài ra, Kiểm sát viên phải kiểm tra việc thông báo truy nã đã được Cơ quan điều tra thực hiện chưa và thực hiện như thế nào? Kiểm tra các biên bản xác minh của Điều tra viên về việc bị can đã bỏ trốn như biên bản xác minh sự vắng mặt của bị can ở nơi bị can cư trú (thường trú hoặc tạm trú); nơi bị can làm việc để xác định bị can có báo cáo, khai báo tạm vắng để đi làm ăn ở nơi khác không, đồng thời tiến hành kiểm tra các biên bản lấy lời khai của người nhà và những người hàng xóm, những người làm việc cùng bị can để tìm và xác định nguyên nhân, thời điểm vắng mặt của bị can. Đây chính là yếu tố quan trọng để xác định bị can đã bỏ trốn. Nếu thấy chưa chắc chắn về dấu hiệu bỏ trốn của bị can, Kiểm sát viên có thể trực tiếp tiến hành xác minh để có đánh giá khách quan khi kiểm sát quyết định tạm đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra .

- Trường hợp Cơ quan điều tra tạm đình chỉ trong trường hợp đã trưng cầu giám định nhưng chưa có kết luận giám định của Hội đồng giám định.

Đối với trường hợp đã trưng cầu giám định nhưng chưa có kết luận giám định của Hội đồng giám định mà thời hạn điều tra đã hết, Kiểm sát viên phải kiểm tra nội dung trưng cầu giám định của Cơ quan Điều tra xem quyết định trưng cầu đã nêu rõ vấn đề cần giám định chưa, tài liệu đồ vật gửi đến yêu cầu giám định? Chủ thể ký quyết định trưng cầu giám định; lý do Hội đồng giám định chưa có kết luận giám định... Tùy theo từng vụ án cụ thể, Cơ quan điều tra có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can khi lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can và Cơ quan giám định vẫn tiếp tục tiến hành giám định cho đến khi có kết quả.

Trên thực tế, có những vụ án có nhiều bị can mà hành vi phạm tội của các bị can thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, các bị can đều phải áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, nhưng vì chưa có kết quả giám định nên phải tạm dừng tiến hành điều tra vụ án, trong trường hợp này Cơ quan điều tra đề nghị Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam đối với các bị can trước khi ra quyết định tạm đình chỉ đối với vụ án và đối với các bị can.

Như vậy, để có thể áp dụng tạm đình chỉ trong trường hợp chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can ở đâu hoặc đã trưng cầu giám định nhưng chưa có kết quả giám định thì một trong những điều kiện bắt buộc đó là phải hết thời hạn điều tra. Mặc dù Bộ luật tố tụng không quy định rõ thời hạn điều tra có bao gồm cả thời hạn gia hạn điều tra không? Nhưng theo chúng tôi thời hạn điều tra của những vụ án này nên tính bao gồm cả thời gian ra hạn điều tra (Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự). Bởi lẽ, những vụ án không xác định được bị can; bị can trốn; hết thời hạn điều tra vẫn không có kết quả giám định là những vụ án có những tình tiết phức tạp cả về thu thập, đánh giá chứng cứ và đường lối giải quyết vụ án ./.

                                                                      -----------***-----------

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi