Hình sự hóa hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công theo Công ước Phòng chống tham nhũng của Liên Hợp quốc năm 2003

Bùi Thế Tỉnh -ThS luật học, P.Trưởng Phòng điều tra, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an

Tham nhũng đang là hiểm họa đe dọa sự ổn định, phát triển của mỗi quốc gia cũng như của cả cộng đồng quốc tế. Bởi vậy, tháng 12/2003 tại Mexico, 126 quốc gia, 90 tổ chứcquốctế đã ký kết Công ước của Liên hợp quốcvềphòng chống tham nhũng (Công ước phòngchống tham nhũng hoặc Công ước)1.

Thực thi Công ước về phòng chống tham nhũng được Việt Nam ký năm 2003, phê chuẩn năm 2009, Luật phòng chống tham nhũng, Bộluậthình sự năm 1999 (với Chương riêng cáctộiphạm về chức vụ) và nhiều giải pháp trong tổchức, hoạt động của bộ máy nhà nước đã đượcbanhành. Tuy nhiên, để bảo đảm yêu cầu nội luật hóa các nội dung của Công ước, cần rà soát,đánh giá toàn diện quyđịnh của pháp luật ViệtNamhiện hành, trên cơ sở đó đưa ra giải phápkhoahọc hoàn thiện những quy định pháp luậtgópphần phòng, chống tham nhũng hiệu quảhơn.Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi phân tích những điểm tương đồng và khác biệt giữacấuthành của tội phạm tham nhũng trong lĩnhvựccông theo Công ước và quy định liên quancủapháp luật Việt Nam.

1. Khái quát về hình sự hóa hành vi thamnhũng trong lĩnh vực công theo Công ướcphòng chống tham nhũng

Từ ngày 9đến11/12/2003 tại thành phố Merida, Mexico, Hội nghị chính trị cấp cao vềkýCông ước phòng chống tham nhũng được tổchứcvà đến ngày 14/12/2005, sau 90 ngày kể từngàycó văn kiện phê chuẩn thứ 30, Công ướcchính thức có hiệu lực. Ngày 30/6/2009, Chủtịchnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phê chuẩn (Quyết định số 950/2009/QĐ-CTN),Côngước phòng chống tham nhũng có hiệu lựctạiViệt Nam từ ngày 18/9/2009.

Công ước phòng chống tham nhũng gồm Lời nói đầu và 8 Chương với 71 Điều2. Công ước đề cập toàn diện về tham nhũng và giải pháp đểđấutranh, phòng, chống tham nhũng trên phạmvitoàn cầu, gồm các điểm chính sau:

Lời nói đầu của Công ước ghi nhận tính chất nguy hiểm, mức độ nghiêm trọng, hậu quả tiêucựccủa tham nhũng đối với các giá trị dân chủ,nguyên tắc pháp quyền và sự phát triển bền vữngcủamỗi quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế.Cácquốc gia cần quyết tâm phòng ngừa, pháthiệnvà xử lý tham nhũng bằng hệ thống biệnpháptoàn diện, đa dạng và hữu hiệu. Đồng thời,cácquốc gia thành viên của Công ước cần tăngcường hợp tác quốc tế về phòng, chống thamnhũng thông qua hợp tác điều tra, truy tố, traođổithông tin, thu hồi tài sản, trợ giúp kỹ thuật...Mụcđích của Công ước là hình thành khuônkhổpháp lý toàn cầu cho hợp tác giữa các quốcgiatrong hoạt động phòng, chống tham nhũng thông qua hệ thống biện pháp hữu hiệu3.

Phạm vi áp dụng của Công ước bao trùm tất cả các lĩnh vực của công tác phòng, chống thamnhũng, gồm: phòng ngừa, điều tra, truy tố thamnhũng và việc phong tỏa, tạm giữ, tịch thu, hoàntrảtài sản có được do phạm các tội quy địnhtrong Công ước. Điều này phản ánh mong muốncủacộng đồng quốc tế trong việc xây dựng, thựcthiCông ước như một công cụ phòng, chốngthamnhũng toàn diện, có hệ thống, đáp ứng yêucầuđấu tranh chống tham nhũng của mỗi quốcgiacũng như từng khu vực và trên toàn thế giới.

Tham nhũng là vấn đề nhạy cảm, có sự gắn kết chặt chẽ với hoạt động quản lý nhà nước.Việc hợp tácquốc tế về phòng, chống tham nhũng tiềm ẩn nguy cơ chủ quyền quốc gia cóthểbị ảnh hưởng, hoặc công việc nội bộ quốcgiabị can thiệp. Do vậy, để đảm bảo hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham nhũng thậtsựvì mục đích phòng ngừa, phát hiện, xử lývàkhắc phục hậu quả tham nhũng, tránh sự lợi dụng nhằm các mục đích gây ảnh hưởng,canthiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm chủquyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, Điều 4 Công ước quy định: "Các quốc gia thành viên Côngướcthực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của Công ước theo cách thức phù hợp với các nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền quốc gia vàtoànvẹn lãnh thổ của các quốc gia, không canthiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác.”Để đấu tranh, phòngchống tham nhũnghiệu quả, Công ước đặt ra yêu cầu bắt buộc đối với quốcgiathành viên trong việc tội phạm hóa hành vi tham nhũng trong cả lĩnh vực công và lĩnh vực tư. Riêng tham nhũng trong lĩnh vực công được quy định cụthểtừ Điều 15 đến Điều 20, Chương III của Công ước. Theo đó, các quốc giathành viên có nghĩa vụhìnhsự hóa các hành vi sau:

Thứ nhất, nhóm hành vi quy định tại Điều 15 Công ước:

(a) Hứa hẹn, chào mời hay cho, trực tiếp, gián tiếp công chức bất kỳ một lợi ích không chínhđángcho bản thân công chức ấy hay một ngườihoặcmột tổ chức khác, để công chức này làmhoặckhông làm một việc trong quá trình thihànhcông vụ;

(b) Hành vi của công chức, trực tiếp hay gián tiếp, đòihoặc nhận một lợi ích không chính đáng cho bản thân công chức hay người hoặctổchức khác, để công chức làm hoặc không làmmộtviệc trong quá trình thi hành công vụ.

Thứ hai, nhóm hành vi quy định tại Điều 16 Công ước:

(a) Hành vi hứa hẹn, chào mời hay cho, trực tiếp hay gián tiếp, công chức nước ngoài hoặccôngchức của tổ chức quốc tế công một lợi íchkhông chính đáng cho bản thân công chức hoặcngười hay tổ chức khác, để công chức đó làmhoặckhông làm một việc trong quá trình thihànhcông vụ, nhằm có đượchoặc duy trìcông việc kinh doanh hay lợi thế không chính đángkhácliên quan hoạt động kinh doanh quốc tế;

(b) Hành vi của công chức nước ngoài hoặc công chức của tổ chức quốc tế công đòi hoặcchấpnhận một cách trực tiếp hay gián tiếp, lợiíchkhông chính đáng cho bản thân công chứchoặc người hay tổ chứckhác, để công chức đólàmhoặc không làm một việc trong quá trình thihànhcông vụ.

Thứ ba, nhóm hành vi quy định tại Điều 17 Công ước: Hành vi của công chức tham ô, biển thủ hoặc chiếm đoạt dưới các hình thức khácchobản thân hoặc cho ngườihay tổ chức khác, công quỹ hoặc tư quỹ hoặc chứng khoán, hay bất cứ thứ gì có giá trị mà công chức này đượcgiaoquản lý.

Thứ tư, nhóm hành vi quy định tại Điều 18 Công ước:

(a) Hành vi hứa hẹn, chào mời hay cho, trực tiếp hay gián tiếp, công chức hoặc người khácmộtlợi ích không chính đáng để công chức hayngười đó dùng ảnh hưởng thực sự hay giả địnhcủamình nhằm đạt được từ một cơ quan hànhchính hay một cơ quan công quyền của quốc giathành viên lợi ích không chính đáng cho ngườihứahẹn, hay người nói trên, hoặc người khác;

(b) Hành vi của công chức hay người khác, trực tiếp hay gián tiếp đòi hoặc nhận bất kỳ lợi íchkhông chính đáng nào cho bản thân hoặc cho ngườikhác, lợi dụng ảnh hưởng thực sự hay giả định củamình nhằm đạt được từmột cơquan hành chính hay một cơ quan công quyền của quốc gia thành viên một lợi ích không chính đáng.

Thứ năm, nhóm hành vi quy định tại Điều19 Công ước: Hành vi vi phạm pháp luật, hànhđộnghoặc không hành động của một công chứclạmdụng chức năng hay vị trí của mình, khi thihànhcông vụ nhằm mục đích đạt được một lợiíchkhông chính đáng cho bản thân, cho ngườihaytổ chức khác.

Thứ sáu, nhóm hành vi quy định tại Điều 20 Công ước: Hành vi làm giàu bất hợp pháp, nghĩa là việc tài sản của một công chức tăng đáng kểsovới thu nhập hợp pháp của công chức màcôngchức này không giải thích hợp lý về việctăngtài sản4.

Từ lý luận tội phạm và cấu thành tội phạm, có thể khái quát tội tham nhũng trong lĩnh vựccôngtheo Công ước có cấu thành như sau:

Một là, về mặt chủ quan những hành vi nêu trên được thực hiện bởi lỗi cố ý. Lỗi cố ý được quy định trong các điều từ 15 đến 20 của Côngước.Mục đích thực hiện hành vi của các chủ thểnhằmđạt lợi ích vật chất hoặc tinh thần (trựctiếphoặc gián tiếp). Động cơ thực hiện hành viphạmtội là vụ lợi.

Hai là, về chủ thể, hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công chỉ do chủ thể là công chức hoặccôngchức nước ngoài, công chức của tổ chứcquốctế hoặc chủ thểbình thường thực hiện.Kháiniệm công chức, công chức nước ngoài,côngchức tổ chức quốc tế được giải thích trongCôngước như sau:

(a) "Công chức” là:(i) bấtkỳ ngườinào giữchứcvụ về lập pháp, hành pháp hoặc tư pháp củaquốcgia thành viên do được bầu hay bổ nhiệm,làmviệc không thời hạn hoặc có thời hạn, đượctrảlương hay không được trả lương, bất kể cấpbậc;(ii) bất kỳ người nào thực hiện chức năngnhànước, kể cả cho cơ quan hay doanh nghiệpnhànước, hoặc cung cấp dịch vụ công, theo quy định trong pháp luật quốc gia thành viên vàđượcáp dụng trong lĩnh vực pháp luật liên quanquốcgia thành viên đó; (iii) bất kỳ người nàođượcđịnh nghĩa là "công chức” trong pháp luậtquốcgia. Tuy nhiên,đối với một số biện pháp cụthểquy định trongChương II Côngước, "công chức” có thể là bất kỳ người nào thực hiện chức năng nhà nước hay cung cấp dịch vụ công nhưđịnh nghĩa trong pháp luậtquốc gia thành viên và được áp dụng trong lĩnh vực pháp luật liênquanquốc gia thành viên;

(b) "Công chức nước ngoài” là bất kỳ người nào giữ chức vụ về lập pháp, hành pháp, hànhchính hay tư pháp của quốc gia nước ngoài, do bầuhaybổ nhiệm; và bất kỳ người nào thực hiện chứcnăngnhà nước cho một quốc gia nước ngoài, kể cảchocơ quan hay doanh nghiệp nhà nước;

(c) "Công chức của tổ chức quốc tế công” là công chức dân sự quốc tế hoặc bất kỳ người nào khác được một tổ chức quốc tế uỷ quyền hoạtđộngnhân danh tổ chức đó5.

Ba là, về mặt khách quan, hành vi tham nhũngđượcbiểu hiện dưới các dạng cụ thể như: hành vi đưa, hứa hoặc đề nghị đưa lợi ích vật chất chocôngchức hoặc người khác hoặc tổ chức khác;hànhvi của công chức trực tiếp hay gián tiếp đòihoặcnhận một lợi ích không chính đáng; hànhvitham ô, biển thủ, chiếm đoạt tài sản; hành vilàmgiàu bất hợp pháp.

Tài sản được giải thích "…là mọi loại tài sản,vậtchất hay phi vật chất, động sản hay bất độngsản,hữu hình hay trừu tượng, và các văn bảnpháplý hay giấy tờ chứng minh quyền sở hữuhoặclợi ích đối với tài sản đó”6.

Bốn là, về khách thể, có thể nhận thấy, hànhvicủa công chức hoặc những chủ thể khác trongtrường hợp tham nhũng lĩnh vực công trước hếtxâmhại đến hoạt động đúng đắn của cơ quannhànước, tổ chức quốc tế, công chức nhà nước,côngchức nước ngoài và công chức của các tổchứcquốc tế; hành vi tham nhũng còn xâm hạiđếnquyền, lợi ích hợp pháp của người dân, ảnh hưởng gián tiếp quan hệ đối ngoại của các quốc gia, các tổ chức quốc tế.

Tóm lại, tiếp cận quy định của Công ước cho phép nhìn nhận rõ dấu hiệu pháp lý và cấu thànhtộiphạm của từng hành vi tham nhũng để cácquốcgia thành viên nội luật hóa đáp ứng cácyêucầu của Công ước.

2. So sánh hành vi tham nhũng trong phápluậthình sự Việt Nam với hành vi thamnhũng lĩnh vực công theo Công ước

Đấu tranh phòng chống tham nhũng là chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Các Văn kiện Đại hội VII, VIII, IX, X đều khẳng định tham nhũng là một trong bốnnguycơ đe dọa trực tiếp đến sự ổn định và pháttriển của đất nước. Nhà nước ta đã ban hànhnhiều văn bản tạo cơ sở pháp lý cho việc đấutranh, phòng chống thamnhũng. Trong cácquiđịnh Nhà nước thì Luật phòng chống thamnhũng năm 2005 và Bộluật hình sự năm1999 (Chương các tội phạm về chức vụ) là các cơ sở pháp lý quan trọng nhất.

* Hành vi tham nhũng trong Luật phòng, chống tham nhũng

Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 của Việt Nam định nghĩa: "Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụngchứcvụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”7. Người cóchứcvụ quyền hạn bao gồm:

a) Cán bộ, công chức, viên chức;

b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, côngnhânquốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộcQuânđội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệpvụ,sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;

c) Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệpNhànước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đạidiệnphần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;

d)Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó8.

Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 liệt kê 12 hành vi tham nhũng:

1. Tham ô tài sản.

2. Nhận hối lộ.

3. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tàisản.

4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thihànhnhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

5. Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ,côngvụ vì vụ lợi.

6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnhhưởng người khác để trục lợi.

7. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi.

8. Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiệnbởingười có chức vụ, quyền hạn để giải quyếtcôngviệc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địaphương vì vụ lợi.

9. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng tráiphéptài sản của Nhà nước vì vụ lợi.

10. Nhũng nhiễu vì vụ lợi.

11. Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

12. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao chechongười có hành vi vi phạm pháp luật vì vụlợi;cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việckiểmtra, thanh tra,kiểm toán, điềutra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi9.

* Tội phạm tham nhũng trong Bộ luật Hình sự Việt Nam

Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định các tội phạm tham nhũngtạimục A, Chương các tội phạm về chức vụgồmcác hành vi: tham ô tài sản; nhận hối lộ;lạmdụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tàisản;lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thihànhcông vụ; lạm quyền trong khi thihành công vụ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; giả mạotrong công tác.

Dấu hiệu pháp lý của tội phạm tham nhũng trong Bộ luật hình sự được xác định như sau:

- Về khách thể: xâm hại hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, xâm hạiquyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

- Về mặt khách quan: hành vi phạm tội được thực hiện dưới hình thức hành động phạm tội.

- Về mặt chủ quan: lỗi cố ý; động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác.

- Về chủ thể: được thực hiện bởi chủ thể đặc biệt, là người có chức vụ, quyền hạn. Điều 277,Bộ luật hình sự năm 1999 qui định "Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởnglương hoặc không hưởng lương, được giao thựchiệnmột công vụ nhất định và có quyền hạnnhấtđịnh trong khi thực hiện công vụ”10.

Nghiên cứu yêu cầu của Công ước về việc tội phạm hóa hành vi tham nhũng trong lĩnh vựccôngđối chiếu với pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Bộ luật hình sự năm 1999 chúng tôi nhận thấymộtsố điểm tương đồng và khác biệt sau:

Những điểm tương đồng

Một là, pháp luật Việt Nam về cơ bản đã đápứngđược yêu cầu của Công ước trong việc đẩymạnhcông tác phòng chống tham nhũng, làmtrong sạch bộ máy cơ quan công quyền, nângcaouy tín của Đảng và Nhà nước trước nhândâncũng như cộng đồngquốc tế. Bên cạnh đó, quy định pháp luật Việt Nam còn góp phần quan trọng cho nỗ lực của Liên hợp quốc để giải quyết nạn tham nhũng trên phạm vi toàn cầu, vìmột thế giới bình đẳng, tiến bộ và không có tham nhũng.

Hai là, những quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu của Công ước về tội phạm hóa hành vi tham nhũng trong lĩnh vựccông. Phân tích trên cho thấy, từ phương diện các yếu tố cấu thành tội phạm thì hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công (cần được tội phạmhóa) và các tội phạm về chức vụ trong Bộluật hình sự Việt Nam là tương đồng. Qui định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành thựchiện tốt các nghĩa vụ của quốc gia thành viên đã kí kết, phê chuẩn Công ước.

Những điểm khác biệt

Thứ nhất, về quan niệm lập pháp, quy định Bộluậthình sự Việt Nam về tham nhũng trong lĩnh vực công hẹp hơn so với quan niệm của Côngước.Yêu cầu tội phạm hóa hành vi tham nhũngtrong lĩnh vực công được đề cập trong Công ướcbaogồm các tội phạm tham nhũng trong Bộluậthình sự hiện hành, tội đưa hối lộ và cả hành vi làm giàu bất hợp pháp. Đối với hành vi làm giàu bất hợp pháp thì rất khó có căn cứ để xử lý theo pháp luật hình sự Việt Nam. Mặt khác, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng11 nên nếu tài sản của một côngchức tăng lên đáng kể so với thu nhập hợp pháp của công chức dù "không giải thíchđượcmột cách hợp lý về lý do tăng đáng kể”12thì cũng không có nghĩa là người đó phạm tội nếu cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minhđược hành vi phạm tội. Ngược lại, nếu chứng minh được, làm giàu bất hợp pháp là do buôn lậu, do tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, do làm môi giới hối lộ… thì người phạm tội bị xử lý theo những tội phạm khác mà không chỉ bó hẹp trong phạm vi các tội phạm tham nhũng.

Thứ hai, về khái niệm "lợi ích” được đề cập trong Công ước và trong Bộ luật hình sự Việt Nam. "Lợi ích” trong pháp luật hình sự Việt Nam mà công chức nhận hoặc người khác đưachỉlà lợi ích vật chất thể hiện bằng cụm từ "tiền,tàisản hoặc lợi ích vật chất khác” và nếu lợi íchở dưới dạng khác thì phải được quy ra bằng tiền.Trong khi Công ước không giới hạn lợi ích vậtchất, do vậy, khái niệm "lợi ích” trong Công ước có thể được hiểutheo nghĩa rộnghơn, có thể là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần.

Thứ ba, về định lượng giá trị của lợi ích đểtruycứu trách nhiệm hình sự. Bộ luật hình sự Việt Nam qui định lợi ích mà công chức nhận hoặc người khác đưa chỉ là lợi ích vật chất cógiátrị tối thiểu từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng kèm theo điều kiện khác. Côngước phòng, chống tham nhũng không giới hạn là lợi ích vật chất, không qui định mứcđịnhlượng cụ thể. Có thể lý giải rằng, nếu chỉtrênphương diện lợi ích vật chất thì Công ướccũngkhông thể đưa ra mức định lượng làm căncứchung cho việc tội phạm hóa hành vi thamnhũng trong lĩnh vực công trên phạm vi toàn cầu, bởi vì, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốcgiakhác nhau. Việc không định lượng cụ thể giá trị của "lợi ích” cũng cho phép các quốc gia được tùynghitrong việc xác định giá trị nhưng bắt buộc phảitộiphạm hóa hành vi tham nhũng.

3. Một số đề xuất hoàn thiện pháp luậthìnhsự Việt Nam để góp phần thực thi Công ước phòng chống tham nhũng

Có thể khẳng định rằng, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, hoàn thiện pháp luậthìnhsự nói riêng để thực hiện tốt các cam kết quốctếvà đấu tranh phòng, chống có hiệu quả với cácloạitội phạm, trong đó có tội phạm tham nhũngtrong lĩnh vực công là một trong những chủ trương,địnhhướng lớn của Đảng và Nhà nước ta.

Nghị quyết 08-NQ/TWngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm côngtáctư pháp trong thời gian tới đã chỉ rõ yêu cầu"phổ biến rộng rãi và tổ chức thực hiện tốt cácCôngước quốc tế, Hiệp định tương trợ tư phápvàcác Hiệp định hợp tác phòng, chống tội phạmmàNhà nước ta đã kí kết hoặc tham gia…”.

Nghị quyết 49-NQ/TWngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đếnnăm2020 tiếp tục khẳng định "tổ chức thực hiện tốtcác điềuước quốctế mà Nhànước ta đã tham gia,…”; và "thực hiện có hiệu quả cuộcđấutranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt làtội tham nhũng,tội phạm có tổ chức hoạt độngtheokiểu xã hội đen”.

Quán triệt các quan điểm của Đảng về việc thực hiện các cam kết quốc tế, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 của Việt Nam đã nêu rõ "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam tuân thủ điều ước quốc tế mà Cộnghòaxã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đồng thời có quyền đòi hỏi thành viên khác cũng phảituânthủ điều ước quốc tế đó”13.

Những quan điểm chỉ đạo và quy định nêu trên vừa là định hướng vừa là cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng cho việc nội luật hóa cácĐiềuước quốc tế nói chung, định hướng việcxâydựng luận cứ khoa học để hoàn thiện phápluậtđảm bảo thực thi Công ước của Liên hợpquốcvề phòng, chống tham nhũng nói riêng. Đểthựcthi Công ước hiệu quả, đẩy mạnh công tácđấutranh, phòng chống tham nhũng ở Việt Namvàthực hiện tốt các nghĩa vụ của quốc gia thành viên kí kết, phê chuẩn Công ước, tác giả xin đưa ra một số giải pháp, kiến nghị sau:

Một là, cần mở rộng khái niệm "lợi ích” trong Bộ luật hình sự Việt Nam. Theo chúng tôi, không nên bó hẹp phạm vi lợi ích trong các tộiphạmtham nhũng chỉ là lợi ích vật chất. Bởi vì,trong thực tế, nhiều trường hợp để quy ra đượcbằngtiền làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hìnhsựlà không thể. Chẳng hạn, một người thỏathuận với công chức lànếu đạtđược hợp đồng sẽ nhận người thân của công chức vào làm việc. Chấp thuận lời đề nghị, công chức đã sử dụngquyền lực để tạo điều kiện cho người thỏa thuậnvớimình giành được hợp đồng; hoặc tạo điềukiện cho người khác đượcđề bạtvào nhữngvị trí quan trọng trong cơ quan, tổ chức;… Nhữnghànhvi dạng trên không thể truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự Việt Nam.

Do vậy, cần thay cụm từ "tiền, tài sản hoặc lợiíchvật chất khác” bằng cụm từ "lợi ích khôngchính đáng” trong các tội phạm tham nhũng củaBộluật hình sự hiện hành và các tội đưa hối lộ;tộilàm môi giới hối lộ; tội lợi dụng ảnh hưởngđốivới người có chức vụ quyền hạn để trục lợi.

Hai là, để góp phần hài hòa hóa các quy định liên quan trong luật hình sự Việt Nam với yêu cầu của Công ước, cần quy định rõ các tội phạm thamnhũng trong Bộ luật hình sự, lợi ích không chínhđángcó thể là dành cho người có chức vụ haydànhcho người thân của người có chức vụ hoặcchotổ chức mà người có chức vụ là thành viên.

Ba là, cần nghiên cứu bổ sung quy định chủ thể của tội phạm, theo Luật hình sự Việt Nam là cá nhân hoặc tổ chức. Đây cũng là yêu cầu củaCôngước phòng, chống tham nhũng. Mặt khác,nếumở rộng quy định lợi ích không chính đángcóthể dành cho tổ chức mà người có chức vụlàthành viên thì sẽ cho phép xử lý cả tổ chứcnếugiữa tổ chức và người có chức vụ có sự bànbạc,đồng thời người có chức vụ thực hiện tộiphạmkhi nhân danh tổ chức. Với quy định này, sẽ buộc các tổ chức phải có trách nhiệm ngănchặncông chức của mình lợi dụng danh nghĩacủatổ chức để thực hiện tội phạm.

Bốn là, để thực hiện một cách có hiệu quả những cam kết quốc tế trong lĩnh vực hình sự thìcầnquan tâm nhân tố con người, cần bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực đấu tranh, phòng chống tham nhũng giỏi về pháp luật, ngoại ngữ, có kinh nghiệm và kiến thức để thực hiện các hoạt động trao đổi thông tin, phối hợp xử lý những vấn đề có liên quan đến nhiều quốc gia.

1 http://treaties.un.org.

2 http://www.unodc.org/pdf/crime/convention_cor- ruption/cosp/07-80230_Ebooke.pdf.

3 Điều 1, Công ước Phòng chống tham nhũng.

4 Xem Điều 15, 16, 17, 18, 19, 20 Công ước Phòng chống tham nhũng tại http://www.unodc.org/pdf/crime/ convention_corruption/cosp/07-80230_Ebooke.pdf.

5 Xem Điều 2, Công ước Phòng chống tham nhũng.

6 Xem khoản (d), Điều 2, Công ước Phòng chống tham nhũng.

7 Khoản 2, Điều 1, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005.

8 Khoản 3, Điều 1, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005.

9 Điều 3, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005.

10 Điều 277, Bộ luật hình sự năm 1999.

11 Điều 10, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.

12 Điều 20, Công ước Phòng chống tham nhũng.

13 Khoản 6, Điều 3, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi