Căn cứ tạm giam, hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng tạm giam.

Tiến sĩ Đỗ Văn Đương: Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” nêu rõ cần đổi mới biện pháp tạm giam, với ba nội dung quan trọng: 1) Xác định rõ căn cứ tạm giam; 2) Hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm; 3) Thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng biện pháp tạm giam”. Đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong việc cải cách tạm giam nhằm bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự gắn với việc bào vệ quyền con nguời, quyền tự do, dân chủ của công dân,

1.Về xác định rõ căn cứ tạm giam

Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 quy định căn cứ để tạm giam bị can, bị cáo tại Điều 88 và Điều 303 như sau:

-Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đậc biệt nghiêm trọng (điểm a khoản 1 Điều 88 BLTTHS). Như vậy, việc quyết định tạm giam bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng trong thực tiễn sẽ do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền tuỳ nghi áp dụng vì ngoài căn cứ loại tội phạm thì luật không quy định thêm căn cứ khác.

-Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc gây cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội (điểm b khoản 1 Điều 88 BLTTHS). Như vậy, ngoài căn cứ loại phạm thì để tạm giam đối với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng còn phải có một trong ba căn cứ trên.

-Tạm giam có thể được áp dụng đốí với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định hình phạt tù trên 02 năm và có một trong ba điều kiện như đối với tội nghiêm trọng (điểm b khoản 1 Điều 88 BLTTHS). Như vậy, những bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù từ 2 năm trở xuống thì cho dù họ trốn, tiếp tục phạm tội cũng không được tạm giam.

-Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ trường hợp nhất định (khoản 2 Điều 88 BLTTHS).

-Đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, việc tạm giam cũng chủ yếu căn cứ vào sự phân loại tội phạm nhưng hạn chế theo tuổi chịu trách nhiệm hình sự. 1) Bị can, bị cáo đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị tạm giam nếu phạm tội rất nghiêm trọng đo cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; 2) Bị can, bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giam nếu phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng (Điều 303). Như vậy, đối với người chưa thành niên đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và tội rất nghiêm trọng do vô ý thì không bị tạm giam do họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về loại tội phạm này. Người chưa thành niên từ đủ 16 tuồi đến dưới 18 tuổi thì tuy phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm nhưng không bị tạm giam về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng do vô ý.

Có thể nhận thấy, BLTTHS năm 2003 quy định về căn cứ tạm giam có phần chưa chặt chẽ, mở rộng đốỉ với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, duờng như bị can, bị cáo cứ phạm vào hai loại tội này là bị tạm giam nên số bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng bị tạm giam còn nhiều, các biện pháp ngăn chặn khác (cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền) thường ít được áp dụng hoặc chỉ áp dụng sau khi thay thế, huỷ bỏ lệnh tạm giam. Ngược lại, BLTTHS năm 2003 hạn chế tạm giam đối với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng và không tạm giam đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, không tạm giam đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, thì trong phần lớn các trường họp, dường như chỉ có giá trị nhân đạo tinh thần mà không thiết thực. Những người phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định 2 năm tù trở xuống sống lang thang, không nơi cư trú, hoặc phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi (phạm nhiều tội, kể cả tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) mà không tạm giam đang trở thành mối lo ngại cho trật tự xã hội do những đối tượng này trốn, tiếp tục gây án, gây nhiều khó khăn, trở ngại cho việc giải quyết vụ án.

Vì vậy, cần xem xét, xác định rõ hơn các căn cứ tạm giam theo yêu cầu cải cách tư pháp là hết sức cần thiết để vừa hạn chế tạm giam, vừa không gây trở ngại, khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử. Khi bàn về vấn đề này, có hai loại ý kiến như sau:

Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, cần phải coi loại tội phạm và mức hình phạt mà BLHS quy định đối với hành vi phạm tội được thực hiện, khả năng bị can, bị cáo có thể trốn hoặc thông cung, tiêu huỷ chứng cứ hoặc có thể tiếp tục phạm tội là căn cứ chủ yếu để xem xét, quyết định việc tạm giam; đồng thời, có kết hợp với các yếu tố khác như: Chính sách hình sự, yêu cầu giải quyết vụ án và ngăn ngừa bị can, bị cáo có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng, không nên dựa vào sự phân loại tội phạm của BLHS để quy định căn cứ áp dụng tạm giam. Về nguyên tắc, người phạm tội đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đều có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam khi có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo có thể tiếp tục phạm tội, trốn hoặc gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử. Theo đó, cần xác định căn cứ để tạm giam theo hướng: Tạm giam được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm vào tội mà BLHS quy định hình phạt tù và có căn cứ nếu không tạm giam, họ sẽ gây khó khăn, cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội hoặc bị can, bị cáo đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác mà vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan.

Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, căn cứ tạm giam trong Luật Tố tụng hình sự các nước tuy khác nhau, nhưng có điểm chung là đa số đều xác định căn cứ tạm giam xuất phát từ nhu cầu ngăn chặn tội phạm, chính sách hình sự và yêu cầu cần thiết của việc xử lý tội phạm, giải quyểt vụ án: Thứ nhất, có nước xem xét tạm giam đối với bị can, bị cáo theo tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm (trọng tội hoặc tội rất nghiêm trọng); có nước không chia loại tội nhưng liệt kê danh mục những tội danh cụ thể cần tạm giam; thứ hai, lấy mức hình phạt tù do luật định làm căn cứ tạm giam, có nước là 01 năm tù, có nước 02 năm tù; thứ ba, có nước quy định bị can, bị cáo không có chỗ ở ổn định, tránh sự thông cung giũa các bị can; có nước lấy tiêu chí ngăn ngừa tiếp tục phạm tội làm căn cứ quan trọng để quyết định tạm giam; thứ tư, có nước coi việc tạm giam bị can, bị cáo để bảo vệ đương sự (nhân chứng, người bị hại) hoặc để bảo đảm chấp hành các nghĩa vụ tố tụng theo yêu cầu của Toà án; thứ năm, một số nước còn căn cứ vào chính sách hình sự làm căn cứ tạm giam (không tạm giam đối với người chưa thành niên, phụ nữ có thai, người già yếu mà nơi cư trú rõ ràng, trừ trường hợp luật định).

Để tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp về xác định rõ căn cứ tạm giam, tiếp thu hạt nhân hợp lý trong các loại ý kiến, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, đặc biệt là xuất phát từ thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, kiến nghị xác định rõ hơn về căn cứ tạm giam theo hướng vừa căn cứ vào loại tội phạm, vào lỗi, chính sách hình sự và yêu cầu của việc ngăn chặn tội phạm, xử lý vụ án; cụ thể như sau:

Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội do cố ý mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm và có căn cứ cho rằng nếu không tạm giam họ có thể trốn hoặc gây cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc cỏ thế tiếp tục phạm tội.

Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giam nếu phạm tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, tội ít nghiêm trọng do cố ý mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm và có căn cứ cho rằng nếu không tạm giam họ có thể trốn hoặc gây cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.

Đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi thì có thể bị tạm giam nếu phạm các tội do cố ý mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm và có căn cứ cho rằng nếu không tạm giam họ có thể trốn hoặc gây cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.

2.Về thu hẹp người có thẩm quyền quyết định việc tạm giam

Theo Điều 80 của BLTTHS năm 2003 có đến 09 đối tượng người có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam, gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND VKSQS các cấp; Chánh án, Phó Chánh TAND vả TAQS các cấp; thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó chánh toà Toà phúc thẩm TANDTC; HĐXX của Toà án các cấp; Thủ trưởng, Phó Thủ truởng CQĐT các cấp (Lệnh tạm giam của những người có thẩm quyền trên phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành). Do nhiều người có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam và quyết định áp dụng tạm giam, dẫn đến việc tạm giam trong thực tiễn thiếu chặt chẽ, vi phạm quyền tự do của công dân và thiếu công bằng khi xử lý trách nhiệm trong trường hợp xảy ra oan, sai.

Khi bàn về thực hiện chủ trương "Thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng biện pháp tạm giam” theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, đa số các ý kiến tán thành phải hạn chế người có thẩm quyền ra lệnh tạm giam và hạn chế người có thẩm quyền quyết định việc tạm giam; tuy nhiên, hạn chế như thế nào có loại ý kiến.

Loại ý kiên thứ nhất cho rằng, vì tạm giam là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, tạm thời tước tự do của công dân nên khi áp dụng thì cần phải được kiểm soát chặt chẽ bởi một cơ quan thực hiện chức năng xét xử, không nên giao cho cơ quan thực hiện chức buộc tội vì họ dễ lạm dụng lệnh tạm giam để thuận lợi cho công tác điều tra, truy tố. Theo đó, nên để Toà án mà cụ thể là Thẩm phán có quyền quyết định tạm giam trong cả giai đoạn điều tra, truy tố theo đề nghị của cơ quan Công tố (Viện kiểm sát, Viện công tố) như ở một số nước.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng, để kịp thời ngăn chặn tội phạm và tránh định kiến thì vẫn để Viện kiểm sát quyết định áp dụng tạm giam trong giai đoạn điều tra, truy tố và Toà án trong giai đoạn xét xử; tuy nhiên, để thu hẹp người có thẩm quyền quyết định tạm giam thì không nên để cả người có chức vụ và người có chức danh trong Toà án đều có quyền quyết định tạm giam như hiện nay.

Phù hợp với tư tuởng nhân vàn tiến bộ trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, Hiến pháp và pháp luật nước ta quy định chỉ có Viện kiểm sát, Toà án mới có thẩm quyền quyết định việc bắt giam người(*). Tại nhiều nước (Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga...) thì Toà án là cơ quan duy nhất được trao quyền quyết định việc tạm giam người bị tình nghi phạm tộì trên cơ sở hồ sơ, tài liệu của Cảnh sát và đề nghị bằng văn bản của cơ quan Công tố. Việc xem xét, quyết định tạm giam thường do một Thẩm phán đảm nhiệm (Thẩm phán này không tham gia xét xử vụ án đó). Một số nuớc giao cho Viện công tố ra lệnh tạm giam nhưng phải được sự đồng ý của Toà án hoặc sau khi quyết định phải thông báo cho Toà án biết. Chưa thấy nuớc nào giao cho Cơ quan điều tra thầm quyền quyết định việc tạm giam.

Trên cơ sở kế thừa những ưu điểm BLTTHS về nguời có thẩm quyền quyết định tạm giam, để bảo đảm kịp thời phúc đáp yêu cầu điều tra, truy tố và tránh định kiến khi xét xử vì Toà án nhân danh công lý phán quyết một người có tội hay không có tội và quyết định hình phạt, thì không nhất thiết chỉ có Toà án là cơ quan duy nhất quyết định việc tạm giam trong các giai đoạn tố tụng. Theo đó, cần giữ thẩm quyền quyết định việc tạm giam của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, truy tố và Toà án quyết định việc tạm giam trong giai đoạn xét xử. Tuy nhiên, cần xem lại vấn đề có nên để Cơ quan điều tra ra lệnh tạm giam và sau đó Viện kiểm sát xét phê chuẩn như hiện nay hay không? Đồng thời, trong Toà án nên thu hẹp người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng tạm giam.

Thực chất hiện nay ở nước ta, Cơ quan điều tra ra lệnh tạm giam và đề nghị Viện kiểm sát xét phê chuẩn tức là Cơ quan điều tra không có thẩm quyền quyết định tạm giam. Tuy nhiên, vì Cơ quan điều tra ra lệnh trước và sau đó Viện kiềm sát xét phê chuẩn đã làm cho xã hội hiểu rằng, Viện kiểm sát làm một việc đã rồi và thực tế có những trường hợp không cần thiết phải bắt tạm giam, tạm giam nhưng Viện kiểm sát vẫn phê chuẩn lệnh bắt tạm giam, lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra. Đồng thời thủ tục này vừa rườm rà, vừa gây tốn kém chi phí tố tụng (vừa cỏ văn bản đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn kèm theo lệnh bắt để tạm giam hóặc lệnh tạm giam), vừa không phù hợp với xu hướng chung của nhiều nước.

Do vậy, để đơn giản thủ tục, tiết kiệm chi phí tố tụng, phù hợp với thông lệ quốc tế là việc tạm giam trong giai đoạn điều tra do cơ quan Công tố hoặc do Toà án quyết định thì nên bỏ thẩm quyền ra lệnh tạm giam của Cơ quan điềú tra và bỏ thủ tục xét phê chuẩn của Viện kiểm sát. Trên cơ sở đề nghị của Cơ quan điều tra, nếu thấy đủ căn cứ và cần thiết phải tạm giam thì Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định tạm giam.

Đồng thời, để thu hẹp người có thẩm quyền quyết định tạm giam, tăng quyền hạn tố tụng cho Thẩm phán, thì nên bỏ thẩm quyền tạm giam của những người giữ chức vụ trong Toà án (như Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà Toà phúc thẩm TANDTC) trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; giao thẩm quyền quyết định tạm giam cho Thẩm phán được phân công Chủ tọa phiên tòa.

Như vậy, so với BLTTHS năm 2003 chỉ còn 04 đối tượng người có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam, ra lệnh tạm giam gồm:

-Trong giai đoạn điều tra, truy tố, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát tự mình hoặc trên cơ sở đề nghị của Cơ quan điều tra cùng cấp trực tiếp ra quyết định tạm giam (bỏ thủ tục và thẩm quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam của Cơ quan điểu tra và thủ tục, thẩm quyền xét phê chuẩn của Viện kiểm sát).

-Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên toà (sơ thẩm, phúc thẩm) có quyền ra lệnh tạm giam.

-Việc bắt tạm giam bị cáo tại phiên toà thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.

3.Về hạn chế việc tạm giam đối với một số loại tội phạm

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không hạn chế việc tạm giam đối với những tội danh cụ thể mà hạn chế tạm giam theo loại tội phạm, mức hình phạt tù quy định trong BLHS; hạn chế tạm giam đối với người chưa thành niên (từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) phạm tội ít nghiêm trọng, không tạm giam phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi và người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng, trừ một số trường hợp (khoản 2 Điều 88 BLTTHS). Thực tiễn cho thấy, có những loại tội không cần thiết phải tạm giam do bị can, bị cáo nhất thời phạm tội, không trốn, không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án hoặc có để ở ngoài xã hội thì họ cũng không có điều kiện tiếp tục gây án; vì vậy, việc hạn chế tạm giam đối với một số loại tội là cần thiết; tuy nhiên, hạn chế loại tội nào cũng có hai loại ý kiến khác nhau.

Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, để thực hiện chủ trương hạn chế tạm giam thì không tạm giam đối với bị can, bị cáo phạm vào tội mà BLHS quy định hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc quy định hình phạt lựa chọn (hình phạt tù, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, cành cáo), các tội phạm ít nghiêm trọng nghiêm trọng do vô ý.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng, trong kiện thực tế ở nước ta hiện nay, thì có thể hạn chế tạm giam đối với một số loại tội phạm nghiêm trọng và nghiêm trọng do vô ý, một số tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; quản lý hành chính, tội phạm về môi trường; một số tội phạm về chức vụ và một số tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ các cơ quan tư pháp.

Từ việc xác định căn cứ tạm giam như nêu trên, tiếp thu tính hợp lý trong các ý kiến, có thể hạn chế áp dụng biện pháp giam đối với một số loại tội phạm mà nếu để bị can, bị cáo ở ngoài xã hội thì họ không bỏ trốn, không cản trở hoạt động điều hoặc tiếp tục phạm tội. Đó là các tội phạm mà BLHS quy định hình phạt tiền là hình phạt chính, các tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng do vô ý và một số tội phạm khác thuộc nhóm tội phạm về môi trường một số tội phạm thuộc nhóm tội phạm chức vụ và nhóm tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ các cơ quan tư pháp.

Cùng với việc hạn chế tạm giam, cần quy định chặt chẽ căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác (quy định chế tài nguời nhận bảo lĩnh khi vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan; chi tiết trình tự, thủ tục và mức tiền phải đặt) nhằm bảo đảm phát huy hiệu lực, hiệu quả các biện pháp ngăn chặn này, góp phần thay thế tạm giam, hạn chế tạm giam.

__________________________

(*) Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966, có quy định rằng: "Mọi người có quyền được bảo đảm tự do và an ninh cá nhân. Việc bắt, giam giữ, xét xử một người phải do cơ quan pháp luật có thẩm quyền tiến hành theo đúng các thủ tục luật định; không ai bi bắt và giam giữ vô cớ”, "Không ai có thể bị bắt nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát” Điều 72 Hiến pháp 1992.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi