Tăng cường trách nhiệm thực hành quyền công tố trong việc quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn

Thạc sỹ Dương Văn Phùng – Vụ trưởng Vụ 1B, VKSND Tối cao

1. Một số vấn đề chung về áp dụng các biện pháp ngăn chặn

Áp dụng biện pháp ngăn chặn là biện pháp nghiệp vụ ca các cơ quan tiến hành tố tụng thc hiện trong quá trình điu tra, truy t, xét x; thể hiện sự cưỡng chế mạnh mẽ ca Nhà nước đối với kẻ phạm tội, đảm bảo cho việc đu tranh phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả cao; song, cũng trực tiếp xâm hại đến các quyền cơ bản ca công dân được quy định trong Hiến pháp; trong đó, quyền bt khả xâm phạm về thân thể là mt trong những quyền tự do cá nhân quan trọng nhất của công dân. Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) coi đây là một trong những nguyên tăc cơ bn trong hoạt động tố tụng hình sự: "Không ai bị bt, nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn ca Viện kim sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang”. Điều đó đòi hi các biện pháp ngăn chặn phải được quy định đầy đ, chặt chẽ trong BLTTHS và phải đựợc thực hiện một cách nghiêm chnh, triệt đ, nhằm tránh tình trạng bắt, tạm giữ, tạm giam oan người vô tội, đ lọt kẻ phạm tội.

Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề áp dụng các biện pháp ngăn chặn; các Ch thị, Nghị quyết của Đng, Qụốc hội về công tác tư pháp đểu nhấn mạnh đến việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn ca các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là vai trò, trách nhiệm ca Viện kim sát. Ch thị số 53/CT-TW ngày 21/3/2000 ca Bộ Chính trị xác định: "Tăng cường trách nhiệm pháp lý ca Vỉện kiểm sát nhân dân đối với công tác bắt, giam, gi. Việc bắt, giam phải được xem xét, phê chuẩn đối với từng trường hợp, từng đi tượng cụ th đối vi trường hợp bt, giam cũng được hoặc không bắt, giam cũng đuợc thì không bt giam. Sai sót trong việc giam, giữ địa phương nào thì trước hết Viện kiểm sát nhân dân ở địa phượng đó phải chịu trách nhiệm”. Nghị quyết s 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 ca Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thi gian tới nêu rõ: "Tăng cường công tác kim sát việc bắt giam, giữ đảm bảo đúng pháp luật; nhng trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt tạm giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý kịp thi các trường hợp oan, sai trong việc bt, tạm giữ tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình”; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến luợc cải cách tư pháp đến năm 2020 nêu rõ nhiệm vụ cần đổi mi biện pháp tạm giam với ba nội dung quan trọng là: Xác định rõ căn cứ tạm giam; hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một s loại tội phạm; thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng biện pháp tạm giam. Bộ Chính trị giao cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì phối hp với các cơ quan nghiên cứu, xây dựng đề án "Tổ chức bộ máy, chc năng và nhiệm vụ của Viện kim sát trong tiến trình cải cách tư pháp, trong đó nêu rõ: Thực hiện cơ chế công tố, gắn công tố với hoạt động điu tra; đổi mới công tác bắt, tạm giữ, tạm giam theo hướng đề cao vấn đề bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng”.

Tại Điều 31 cùa Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định trách nhiệm bồi thường của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như sau:

-Đã phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ của Cơ quan điều tra có thẩm quyền nhưng người bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật;

-Đã phê chuẩn lệnh tạm giam, gia hạn tạm giam mà sau đó quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội.

Làm tốt công tác thực hành quyền công tố trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác là một đảm bảo quan trọng cho thắng lợi của mục tiêu phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền tự do, dân chù của công dân. Đảng, Nhà nước ta đã giao cho ngành Kiểm sát nhiệm vụ quan trọng và quyền năng pháp lý to lớn để thực hiện nhiệm vụ này. Tăng cường trách nhiệm công t trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo yêu cầu cải cách tư pháp, trước hết đòi hỏi những người có trách nhiệm trong các cơ quan tiến hành tố tụng phải nắm vững và thực hiện đúng đắn các quy định ca pháp luật, ch trương, đường lối ca Đảng về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn.

2.Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công t trong việc áp dng các biện pháp ngăn chặn

Tại khoản 4 Điều 112 cùa BLTTHS quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra như sau: "…Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra theo quy định cùa Bộ luật này. Trong trường hợp không phê chuẩn thi trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do;…”

Trong giai đoạn điều tra, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn là hoạt động quan trọng góp phần đắc lực trong việc đấu tranh phòng, chng tội phạm, bảo đảm cho việc điều tra, thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm cùa Cơ quan điều tra đạt hiệu quả, song cũng xâm phạm trực tiếp đến quyền tự do cùa công dân, do vậy, Viện kiểm sát phải nắm vững các căn cứ, thẩm quyền, thủ tục áp dụng, thay đổi và hu bỏ các biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS và các văn bản pháp luật khác. (Những đối tượng đặc biệt như Đại biểu Quốc hội; nhng đối tượng được quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao theo Công ước Viên (1961) mà Việt Nam đã tham gia được quy định chi tiết trong Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 và Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho các Cơ quan ngoại giao, Cơ quan lãnh sự và Cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam năm 1993). Đối với những biện pháp ngăn chặn cụ thể, có những căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền khác nhau; đối với từng vụ án lại có những yêu cầu khác nhau; đối với từng bị can lại có hoàn cảnh, nhân thân khác nhau, đòi hỏi Viện kiểm sát khi làm nhiệm vụ của mình phải nghiên cứu, xem xét một cách đầy đ, toàn diện trên cơ s hồ sơ, tài liệu, chng cứ để quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn các quyết định ca Cơ quan điều tra.

Các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Chương VI ca BLTTHS có 16 Điu, từ Điềụ 79 đến Điều 94, gồm: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quà tang hoặc đang bị truy nã; tạm giữ, tạm giam; cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.

Đối với trường hợp bắt bị can để tạm giam: Cơ quan điều tra sau khi có lệnh bắt bị can để tạm giam phải chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu và công văn đề ngh Viện kiểm sát phê chuẩn trước khi thi hành. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, tài liệu, nếu thấy việc bắt, tạm giam cùa Cơ quan điều tra là có căn cứ và cần thiết thì Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt, tạm giam ca Cơ quan điều tra. Lệnh bẳt, tạm giam của Cơ quan điều tra ch được thực hiện sau khi có phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp. Nếu qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu, thấy lệnh bắt, tạm giam cùa Cơ quan điều tra không có hoặc thiếu căn cứ thì Viện kiểm sát không phê chuẩn, trong trường hợp này, Viện kiểm sát phải nêu rõ lý do trong quyết định không phê chuẩn. Trong trường hp thấy thiếu căn cứ thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, bổ sung chứng cứ để Viện kiểm sát tiếp tục xem xét việc có phê chuẩn hay không.

Đối với những đối tượng đặc biệt (Đại biểu Quốc hội, đại biu Hội đồng nhân dân các cấp...), Viện kiểm sát phải yêu cầu Cơ quan điều tra, ngoài việc phải tuân thủ các quy định tại Điều 80, 81, 82 của BLTTHS, còn phải thực hiện các th tục khác được quy định trong Hiến pháp và các đạo luật có liên quan như Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và U ban nhân dân.

Đối vi bt người trong trường hợp khẩn cấp: Do tính chất nghiêm trọng và cấp thiết của sự việc, khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; khi thấy có dấu vết ca tội phạm người hoặc tại chỗ ca người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ, Điều 81 cùa BLTTHS quy định những người sau đây có quyền ra lệnh bẳt khẩn cấp mà không cẩn có sự phê chuẩn trước của Viện kiểm sát: Thủ trưởng, Phó Th trưởng Cơ quan điều tra các cấp; người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người ch huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người ch huy tàu bay, tàu bin, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cng, nhưng sau khi bắt người trong trường hợp này, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện kim sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn. Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ để bt khẩn cấp. Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu có liên quan, Viện kiểm sát phi ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát không phê chun thì người đã ra lệnh bt phải trả tự do ngay cho người bị bắt.

Trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã: Đây là trường hp bắt người do có căn cứ cho rằng họ là người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, người đang bị truy nã, thì bất kỳ ngưi nào cũng có quyền bất và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trà tự do cho người bị bắt. Đối với người bị truy nã, sau khi được thông báo, với các tài liệu liên quan, Viện kiểm sát phải khẩn trương nghiên cứu và ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn.

Đối với quyết định tạm giữ và gia hạn tạm giữ: Theo quy định tại các Điều 86, 87 của BLTTHS thì trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ phải được gửi ngay cho Viện kim sát cùng cấp. Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hu bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày, kể từ khi Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Trong trường hợp cần thiết và đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai, nhưng không quá ba ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm gi đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn.

Như vậy, trong giai đoạn điều tra, Viện kim sát có thẩm quyền quyết định cuối cùng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn có thể thay đổi từ biện pháp này sang biện pháp khác khi xét thấy cần thiết. Các biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn thì việc thay đổi phải do Viện kiểm sát quyết định. Khi xét thấy không cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn mà bị can đang bị áp dụng thì Viện kiểm sát ra quyết định huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, tr tự do cho bị can. Khi vụ án bị đình chỉ thì mọi biện pháp ngăn chặn đã áp dụng đều được huỷ bỏ (khoản 1 Điều 94 cùa BLTTHS).

3.Thực trạng công tác thực hành quyền công t đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong thời gian qua

Thời gian qua, Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao đặc biệt quan tâm ch đạo đến công tác thực hành quyền công tố trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Chỉ thị công tác hàng năm của đồng chí Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao luôn nhấn mạnh đến trách nhiệm của Vĩện kiểm sát trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, đưa ra những ch tiêu cụ thể và coi đây là một trong những tiêu chí đánh giá kết quả thi đua của các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân các địa phương.

Do có sự chỉ đạo chặt chẽ của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân các cấp, cũng như sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và sự nỗ lực ca cán bộ, Kiểm sát viên trong ngành Kiểm sát, những năm gần đây, công tác thực hành quyền công tố đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chn đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các cơ quan tiến hành tố tụng đã nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn nên trong quá trình điều tra, x lý vụ án đã có sự đánh giá, phân loại về tính chất mức độ phạm tội, nhân thân của các bị can để quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn cho phù hợp. Hầu hết các bị can bị bắt, tạm giam đều là bị can có hành vi phạm tội nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Các Kiểm sát viên được phân kiểm sát điều tra các vụ án hình sự đều chú ý nghiên cứu kỹ hồ sơ, làm rõ các căn cứ đề bắt, tạm giam; cương quyết không phê chuẩn những trường hợp không đủ căn cứ. Do vậy, tỷ lệ người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, sau đó xử lý hành chính, Toà án tuyên không phạm tội giảm đáng kể.

Theo số liệu cùa Cục Thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong 5 năm từ năm 2007 đến năm 2011, Viện kiểm sát đã không phê chuẩn tạm giam 1.317 trường hp (năm 2007: 341 trường hợp; năm 2008: 377 trường hợp; năm 2009: 200 trường hợp; năm 2010: 225 trường hợp; năm 2011: 174 trường hợp). Ngoài nghiên cứu căn c để phê chuẩn lệnh bắt, tạm giam của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát các cấp qua công tác thực hành quyền công tố thấy có những bị can phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, có ý định trốn hoặc gây khó khăn, cản trở cho hoạt động điểu tra nhưng Cơ quan điều tra không áp dụng biện pháp tạm giam, Viện kiểm sát đã yêu cầu Cơ quan điều tra bắt, tạm giam những đối tượng nàỵ. Trong 5 năm, Viện kiểm sát các cấp đã yêu cầu Cơ quan điều tra bắt tạm giam 398 trường hợp (Năm 2007: 130 trường hp; năm 2008: 120 truờng hợp; năm 2009: 61 trường hợp; năm 2010: 79 trường hợp và năm 2011: 48 trường hợp).

Việc bắt người trong trường hợp khấn cấp, quả tang hoặc theo lệnh truy nã v cơ bàn được thực hiện đúng quy định ca pháp luật. Viện kiểm sát đã kiên quỵết không phê chuẩn những trường hợp bị bắt không có căn cứ. Trong 5 năm từ năm 2007 đên năm 2011, Viện kiểm sát đã không phê chuẩn 564 trường hợp bắt khẩn cp (năm 2007: 128 trường hợp; năm 2008: 151 trường hợp; năm 2009: 96 trường hợp; năm 2010: 93 trường hợp và năm 2011: 96 trường hợp).

Do làm tốt công tác kiểm sát việc tạm giữ của Cơ quan điều tra, nhiều Viện kiểm sát địa phương đã phát hiện kịp thời những trường hợp nguời bị tạm giữ không có căn cứ theo Điều 86 của BLTTHS, người bị tạm giữ không có hành vi phạm tội hoặc hành vi không cu thành tội phạm; chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự... để kịp thời ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ hoặc không gia hạn tạm giữ. Trong 5 năm t năm 2007 đến năm 2011, Viện kim sát đã không gia hạn tạm giữ 449 trường hợp (năm 2007: 116 trường hợp; năm 2008: 93 trường hợp; năm 2009: 93 trường hợp; năm 2010: 74 trường hợp và năm 2011: 73 trường hợp).

Tình trạng bt, tạm giữ, sau đó chuyển khởi tố hình sự trong toàn quốc đạt t lệ cao. Năm 2009, tổng số người bị tạm giữ là 59.496 người; đã khởi tố hình sự 54.274 ngưi, chiếm tỷ lệ 91,2%; năm 2010, tng s người bị tạm giữ là 59.257 người, khởi tố hình sự 54.449 người, chiếm tỷ lệ 91,8%; năm 2011, tổng số người bị bắt giữ là 73.072 người, đã khởi tố hình sự 69.014 người, chiếm tỷ lệ 94,4%.

Bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn vẫn còn những tồn tại, khuyết điểm trong đó có trách nhiệm của Viện kiểm sát. Tình trạng bắt, tạm giữ, tạm giam người không đúng quy định của pháp luật vẫn còn xảy ra; việc lạm dụng bắt khẩn cấp tuy đã giảm nhưng vẫn còn có trường hp không cần thiết phải bắt, tạm giam nhưng Viện kiểm sát vẫn phê chuẩn theo đề nghị của Cơ quan điều tra. Vẫn còn tình trạng giam, giữ người quá thời hạn. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú theo quy định tại Điều 91 của BLTTHS chiếm tỷ lệ rất nhỏ, không đáng kể, thường áp dụng khi bị can hết thời hạn tạm giam, xét thấy không cần thiết tiếp tục tạm giam nữa mới áp dụng biện pháp này. Nhiều trường hợp người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cứ trú không thực hiện việc thông báo về cho chính quyền địa phương, nên địa phương không biết để quản lý, giám sát. Biện pháp bo lãnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đm bảo còn ít được áp dụng; do chưa có văn bn hướng dẫn nên nhận thức về các biện pháp ngăn chặn này giữa các cơ quan tiến hành tố tụng còn chưa thống nhất; chưa có quy định về trình tự, thủ tục, mức tiền hoặc giá trị tài sản để đảm bảo.

Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên là do một bộ phận Kiểm sát viên chưa phát huy hết quyền năng pháp lý theo luật định, chưa nắm và nhận thức đúng các quy định của pháp luật về áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn. Lãnh đạo của một số đơn vị, Viện kiểm sát địa phương chưa thật sự sâu sát, chưa thấy hết vị trí, vai trò và trách nhiệm công tố ca Viện kiểm sát trong công tác này; quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có lúc, có nơi còn thiếu chặt chẽ. Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật v các biện pháp ngăn chặn chưa thật sự đầy đ và hoàn chnh: Căn cứ cụ thể để áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn để phạm vi khá rộng cho quyền tuỳ nghi của người áp dụng; các biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc như cấm đi khỏi nơi cư trú, bo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản đm bo còn quy định chung chung, chưa hướng dẫn cụ thể; căn cứ tạm giam, thời hạn tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất mới được xây dựng trên cơ s phân loại tội phạm và tính cần thiết phải ngăn chặn, mà chưa căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân người phạm tội đối với một số tội phạm cụ thể mà yêu cầu xử lý mang tính cấp thiết, nghiêm khc như các tội phạm về tham nhũng, ma tuý, tội phạm có tổ chức...

Do căn cứ để tạm giam bị can chủ yếu dựa vào phân loại tội phạm, nên ngay từ khi khi tố bị can để điều tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã cần phải xác định chính xác bị can phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng để làm căn cứ quyết định tạm giam. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, nhiều trường hợp không chứng minh được bị can phạm vào điều, khoản như đã khởi tố và như vậy sẽ mâu thuẫn, xung đột với căn cứ tạm giam ban đầu (như phạm vào khoản 1 hoặc khoản 2, Điều 105, Điều 123 cùa Bộ luật Hình sự...).

4.Một sổ giải pháp, kiến nghị

Để nâng cao hơn nữa hiệu quả ca công tác thực hành quyn công tố trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo yêu cầu của cải cách tư pháp, chúng tôi xin nêu một sổ giải pháp sau:

Thứ nhất, cần nhận thức đúng đn về trách nhiệm cùa Viện kiểm sát đối với công tác thực hành quyền công tố trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Các Kiểm sát viên trước hết phải nắm vững các quy định cùa pháp luật về áp dụng các biện pháp ngăn chặn, các định hướng, chỉ đạo của Đng, Nhà nước về công tác này để vận dụng vào thực tiễn được chính xác, đảm bào cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như bảo vệ quyền tự do dân chủ, tính mạng, danh dự nhân phẩm của mọi công dân.

Thứ hai, tăng cuờng quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiền hành tố tụng, nhất là Cơ quan điều tra cũng như giữa các khâu công tác khác trong ngành Kiểm sát để việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đạt hiệu quả cao.

Thứ ba, thường xuyên tổng kết, rút kinh nghiệm và có hướng dẫn kịp thời những điểm chưa rõ ràng, còn có nhận thức chưa thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về các biện pháp ngăn chặn để vận dụng vào thực tiễn đuợc chính xác. Những điểm không còn phù hợp trong BLTTHS năm 2003 cần được tổng kết đầy đủ để sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới.

Thứ tư, tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố trong khâu công tác này. Tạo điều kiện về kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc để cho cán bộ, Kiểm sát viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Thứ năm, hoàn thiện các quy định cúa pháp luật về các biện pháp ngăn chặn theo hướng đảm bảo tốt hơn quyền cơ bản của công dân, đồng thời tăng cường hiệu quả điều tra phòng chống tội phạm.

-Đổi với biện pháp tạm giam: Hạn chế áp dụng biện pháp tạm giam đi với một số loại tội, các tội phạm mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền là hình phạt chính, các tội phạm do lỗi vô ý và một số loại tội phạm khác thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự qun lý kinh tế, nhóm tội phạm về môi trường, nhóm tội phạm vê chức vụ và nhóm tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp...; thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam. Có thể xem xét, bỏ quyền ra lệnh tạm giam ca Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra mà chỉ đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp quyết định, mà không phải là phê chuần như hiện nay. Vì thực tế, theo quy định ca pháp luật, lệnh tạm giam của Th trưởng, Phó Thủ truởng Cơ quan điều tra chỉ có hiệu lực sau khi có sự phê chuẩn ca Viện kiểm sát.

-Đối với biện pháp bảo lĩnh: Quy định rõ căn cứ, điều kiện áp dụng biện pháp bảo lĩnh; quy định chặt chẽ hơn trách nhiệm đối vi cá nhân, tổ chức nhận bảo lãnh cho bị can, bị cáo trong từng trường hợp để bị can, bị cáo trốn.

-Đối với biện pháp đặt tiền hoặc tài sản đbảo đảm: cần quy định cụ thể trình tự, th tục, mức tiền hoặc giá trị tài sản để bo đảm. Việc quy định đặt tiền hoặc tài sản để bảo đàm phải do chính bị can, bị cáo thực hiện là không khả thi, đề nghị bổ sung thêm người thân thích, tổ chức nơi bị can, bị cáo công tác cũng có thể đặt tiền, tài sản có giá trị để bảo đảm.

-Đối với biện pháp cm đi khỏi nơi cư trú: Cần quy định người đứng đầu chính quyền địa phương có trách nhiệm quản lý, giám sát cht chẽ bị can bị cấm đi khỏi nơi cư trú; quy định cụ thể thời hạn áp dụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Khi chuyn giai đoạn tố tụng, nếu thấy cần thiết thì cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải ra lệnh để áp dụng tiếp, nếu không cần thiết thì hu bỏ.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi