Những vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm công tố trong việc đề ra yêu cầu điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp

Vũ Việt Hùng – Phó Vụ trưởng Vụ 1A, VKSND Tối cao

Viện kiểm sát nhân dân tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra là một trong những nội dung trọng tâm của cải cách tư pháp. ĐÓ đáp ứng yêu cầu nói trên cần phải phát huy đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó giải pháp có ý nghĩa quan trọng, quyết định là nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên trong việc đề ra yêu cầu điều tra khi thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự. Trong bài viết này, chúng tôi xin nêu một sổ vấn đề lý luận, thực tiễn về hoạt động đề ra yêu cầu điều tra và một số giải pháp nh»m nâng cao trách nhiệm công tố trong việc đề ra yêu cầu điều tra theo yêu cẩu cải cách tư pháp.

I. Căn cứ pháp lý của viêc đề ra yêu cầu điều tra

Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự và trách nhiệm chứng minh tội phạm đã được quy định tại Điều 10, Điều 63 và Điều 302 của Bộ luật Tổ tụng hình sự (BLTTHS), theo đó “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp họp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đù, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tinh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” và “trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chúng minh là mình vô tội”. Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải chứng minh: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Đối vói các vụ án do người chưa thành niên phạm tội gây ra, khi tiến hành điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán cần phải xác định rõ: Tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên; điều kiện sinh sống và giáo dục; có hay không có người thành niên xúi giục; nguyên nhân và điều kiện phạm tội.

Với chức năng đã được Hiến pháp và pháp luật quy định, .Viện kiểm sát nói chung và Kiểm sát viên nói riêng có vai trò và trách nhiệm rất lớn trong việc chứng minh tội phạm, bảo đàm không bỏ lọt tội phạm và không làm oan nguời vô tội thông qua việc yêu cầu điều tra được quy định tại Điều 37, Điều 112 cùa BLTTHS và Điều 13 cùa LuậtTổ chức Viện kiểm sát nhân dân.

Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT- VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005 cùa Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy đinh của BLTTHS năm 2003 đã chì rõ hơn một số vấn đề liên quan đến yêu cầu điều tra, theo đó thì Kiểm sát viên phải kịp thời trao đổi vói-Điều tra viên được phân công điều tra vụ án về những vấn đề cần điều tra ngay từ khi kiểm sát việc khởi tố vụ án, khám nghiệm hiện trường và trong quá trình điều tra, bảo đảm phối hợp để Cơ quan điều tra nhanh chóng thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ của vụ án. Kiểm sát viên có thể trực tiếp đề ra yêu cầu điều tra bằng miệng trong quá trình kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, đối chất, thực nghiệm điều tra. Đối với các trường hợp khác đề ra yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên phải có văn bản nêu rõ những vấn đề cần điều tra để củng cố chứng cứ hoặc để làm rõ những tình tiết liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 63 của BLTTHS. Đối với những vụ án trọng điểm, phức tạp thì Kiểm sát viên phải xin ý kiến chi đạo của Viện trưởng, Phó Viện trường Viện kiểm sát trước khi ký văn bản yêu cầu điều tra. Điều tra viên được phân công điều tra vụ án phải nghiên cứu để tiến hành điều tra những vấn đề mà Kiểm sát viên yêu cầu; nếu thấy cần thì trao đổi với Kiểm sát viên để làm rõ nội dung những yêu cầu đó. Trường hợp không nhất trí thì Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trường Viện kiểm sát để thống nhất chỉ đạo việc điều tra. Trường hợp Cơ quan điều tra không thực hiện những yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát thì nêu rõ lý do trong bản kết luận điều tra, khắc phục việc Vỉện kiềm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài. Những nội dung liên quan nêu trên cũng đã được khẳng định lại tại Điều 8, Điều 19 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QD-VKSTC ngày 02/01/2008 cùa Viện trường Viện kiểm sát nhân dân tối cao - sau đây viết tắt là Quy chế số 07).

Tại Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT- VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định cùa BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung đã quy định Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra phải phối hợp chặt chẽ ngay từ khi tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và trong suốt quá trình điều tra vụ án. Điều tra viên phải chủ động gửi đầy đủ, kịp thời các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được cho Kiểm sát viên thụ lý vụ án và thực hiện đầy đủ các yêu cầu điều ta của Viện kiểm sát. Kiểm sát viên phải thường xuyên theo dõi, nắm chắc tiến độ điều tra vụ án, nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên đã thu thập, kịp thời đề ra yêu cầu điều tra, chủ động phối hợp với Điều tra viên để điều tra làm rõ những vấn đề cần chứng minh ngay trong giai đoạn điều tra vụ án; đồng thời, kiểm sát chặt chẽ các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, bảo đảm việc điều tra vụ án khách quan, toàn diện, đúng pháp luật... nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Đồng thòi, xác định trách nhiệm trong việc trà hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát, của Kiểm sát viên khi không đề ra yêu cầu điều tra hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với những vấn đề có thể phát hiện được dẫn đến sau đó vụ án phải trà hồ sơ để điều tra bổ sung.

II. Nhận thức chung về yêu cầu điều tra

1.Khái niệm về yêu cầu điều tra

Yêu cầu điều tra là hoạt động tố tụng quan trọng trong thực hành quyền công tố của Việt kiểm sát, được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điềụ 112 của BLTTHS. Ngoài ra, nó còn được đề cập đến tại Điều 8, Điều 19 của Quy chế số 07 ngày 02/01/2008 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong đó, yêu cầu điều tra được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản.

Vậy yêu cầu điều tra là gì? Đó là hoạt động tố tụng do Kiểm sát viên tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, nhằm bào đảm xác định sự thật khách quan của vụ án, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, bảo đảm việc điều tra vụ án tuân thủ các quy định của pháp luật. Yêu cầu điều tra có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản.

Bản yêu cầu điều tra là gì? Bản yêu cầu điều tra là một văn bản tố tụng do Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra ban hành, nêu rõ những vấn đề cần phải điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ, hoàn thiện các thù tục tố tụng nhằm bảo đảm cho việc điều tra, truy tố được toàn diện, khách quan và triệt để theo đúng quy định của pháp luật.

2.Vị trí, vai trò của yêu cầu điều tra

Cần phải khẳng định rằng việc “đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra” là một quyền năng quan trọng và cơ bản, đồng thời nó cũng thể hiện trình độ năng lực của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Thông qua yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên thể hiện rõ (quan điểm của mình trong việc thu thập, củng cố chứng cứ, hoàn thiện thủ tục tố tụng của vụ án hình sự. Việc đề ra yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên có ý nghĩa rất quan trọng đối với kết quả điều tra của Cơ quan điều tra. Hoạt động điều tra có đúng hướng, đầy đủ hay không, có kịp thời, hiệu quả hay không một phần rất lớn phụ thuộc vào việc đề ra các yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, nếu Kiểm sát viên có trình độ, năng lực, bám sát tiến độ điều tra, nắm chắc hồ sơ vụ án thì đề ra được yêu cầu điều tra có chất lượng, giúp ích rất nhiều cho Điều tra viên nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện và triệt để, góp phần hạn chế oan, sai hoặc phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm kéo dài việc giải quyết vụ án, qua đó, uy tín cùa Kiểm sát viên đối với Điều tra viên và Cơ quan điều tra được nâng cao. Ngược lại, nếu Kiểm sát viên có trình độ, năng lực hạn chế, không nắm chắc tiến độ, nội dung vụ án thì chỉ đề ra những yêu cầu chung chung, thậm chí không cần thiết làm cho Điều tra viên không thể thực hiện được, ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ và kết quả điều tra đối với vụ án.

Từ phân tích trên cho thấy, yêu cầu điều tra có vị trí, vai trò và tầm (quan trọng đặc biệt, là biểu hiện tập trung nhất của việc gắn trách nhiệm của Kiểm sát viên với Điều tra viên trong việc điều tra vụ án.

3. Giá trị pháp lý của yêu cầu điều tra

Như trên đã nói, yêu cầu điều tra có tính định hướng cho hoạt động điều tra nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án một cách nhanh chóng chính xác, kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, những nội dung được quy định tại Điều 37 và Điều 112 cùa BLTTHS chỉ đề cập đến việc Kiểm sát viên đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra chứ không quy định về giá trị pháp lý của yêu cầu điều tra. Do đó, hiện nay đang tồn tại những quan điểm khác nhau về giá trị pháp lý của yêu cầu điều tra như: Yêu cầu điều tra là “bẳt buộc” thực hiện đối với Cơ quan điều tra; “không bắt buộc” thực hiện hoặc chỉ mang tính “bắt buộc tương đối” đối với Cơ quan điều tra.

Cần thống nhất rằng, việc quy định Kiểm sát viên có quyền đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành hoạt động điều tra xuất phát từ nhiệm vụ thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát và từ bản chất của mối quan hệ phối họp - chế ước giữa Viện kiểm sát vói Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự. Với tư cách là cơ quan duy nhất được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điểu tra, Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước xã hội về quyết định truy tố của mình. Do đó, để xác định sự thật khách quan của vụ án, giúp cho việc truy tố của Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật thì Kiểm sát viên có trách nhiệm đề ra ỵêu cầu điều tra. Trong giai đoạn điều tra, Kiểm sát viên không phải là người chứng kiến các hoạt động điều tra mà phải sử dụng tất cả các quyền năng pháp lý, trong đó có quyền đề ra yêu cầu điều tra để yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra nhằm phát hiện, thu thập, cùng cố chứng cứ bảo đảm cho việc truy tố người phạm tội được chính xác, đúng pháp luật. Trong tố tụng hình sự, đề ra yêu cầu điều tra là một trong những biện pháp pháp lý mà Kiểm sát viên có quyền áp dụng từ khi có sự kiện phạm tội xảy ra cho đến khi kết thúc điều tra nên cần phải được bảo đảm thực hiện.

Chính vì lẽ đó, mặc dù tại Điều 114 của BLTTHS chỉ quy định: “Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát. Đối với những yêu cầu và quyết định, quy định tại các điểm 4, 5 và 6 Điều 112 của Bộ luật này, nếu không nhất trí, Cơ quan điều tra vẫn phải chấp hành nhưng có quyền kiến nghị với Viện kiêm sát cấp trên trực tiếp” mà không đề cập cụ thể đến quy định tại khoản 2 Điều 112 của BLTTHS nhưng để thi hành thống nhất quy định của BLTTHS liên quan đến việc thực hiện yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát, tại Mục 9 Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-ykSTC-BCA- BQP ngày 07/9/2005 khi nói về “Trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát (Điều 114)” đã quy định “Cơ quan điêu tra có trách nhiệm thực hiện đầy đủ và nhanh chóng các yêu cầu và quyết định tại các điểm 1, 2 và 3 Điều 112 của BLTTHS”.

Để bảo đảm thực hiện quy định trên, khoản 2 Điều 19 Quy chế số 07 ngày 02/01/2008 cùa Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định: Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra của Điều tra viên, bảo đảm các yêu cầu điều tra được thực hiện đầy đủ; Kiểm sát viên có trách nhiệm giải thích nội dung yêu cầu điều tra (nếu Điều tra viên đề nghị). Trường họp Điều tra viên không nhất trí thì Kiểm sát viên phải báo cáo với Lãnh đạo Viện để xem xét, kiến nghị với Thủ trường Cơ quan điều tra giải quyết Nếu do điều kiện khách quan mà Cơ quan điều tra không thực hiện được đẩy đủ các yêu cầu điều tra thì phải nêu rõ lý do trong Bản kết luận điều tra vụ án.

Nói tóm lại, theo các quy định nêu trên thì khi Kiểmsát viên đã đề ra yêu cầu điều tra thì Điều tra viên có trách nhiệm phải thực hiện. Chỉ trong trường hợp yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên không có căn cứ, không hợp pháp hoặc không thể thực hiện đuợc vì lý do khách quan thì mới không bắt buộc Điều tra viên phải thực hiện nhưng phải thông báo lý do cho Viện kiểm sát biết và phải nêu rõ trong bản kết luận điều tra. Muốn bảo đảm cho yêu cẩu điều tra được Điều tra viên thực hiện nghiêm chỉnh thì Kiểm sát viên phải nâng cao chất luợng yêu cầu điều tra, góp phần thiết thực vào việc giải quyết vụ án.

4.Hình thức và nội dung của yêu cầu điều tra

Hình thức của yêu cầu điều tra đã được nêu rõ tại Mục 15.1 của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ’ ngày 07/9/2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Điều 19 Quy chế số 07 ngày 02/01/2008 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, theo đó thì yêu cầu điều tra có thể được thể hiện dưới hai dạng:

Một là, yêu cầu điều tra bằng lời nói: Do Kiểm sát viên đề ra trong quá trình trực tiếp kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, đối chất, thực nghiệm điều tra;

Hai là, yêu cầu điều tra bằng văn bản: Do Kiểm sát viên đề ra liên quan đến những vấn đề cần điều tra để củng cố chứng cứ hoặc để làm rõ những tình tiết liên quan đến nhũng vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự đựợc (quy định tại Điều 63 của BLTTHS. Yêu cầu điều tra bằng văn bản được ban hành theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện tnrởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (mẫu số 20).

Mỗi vụ án khác nhau đòi hỏi những nội dung khác nhau khi yêu cầu điều tra. Tuy nhiên, cần thống nhất nhận thức là mặc dù có nêu yêu cầu điều tra về vấn đề gì trong nội dung của bản yêu cầu điều tra thì cũng đều nhằm bảo đảm những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự được quy định tại các Điều 10, 63 và 302 của BLTTHS có liên quan đến tội phạm và người phạm tội phải được điều tra làm rõ.

Đề ra yêu cầu điều tra một cách toàn diện, chính xác, đầy đủ là việc làm không đơn giản, đòi hỏi Kiểm sát viên phải có kinh nghiệm, trình độ, phải biết phân tích, tổng hợp, đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, phải đánh giá đúng hành vi, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và hậu quả của nó, phải xác định được vai trò, trách nhiệm và nhân thân của từng bị can, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên cơ sở nghiên cứu kỹ các tài liệu điều tra đã có trong hồ sơ, đối chiếu với quy định về những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự đề tìm ra các vấn đề chưa được làm sáng tỏ, từ đó yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra. Mặt khác, yêu cầu điều tra đòi hỏi phải mang tính khả thi, có nội dung rõ ràng, tránh tình trạng nêu yêu cầu không rõ ràng, không mang tính khả thi khiến Điều tra viên không thể tiến hành điều tra được. Nếu như vụ án còn có vấn đề chưa được làm rõ thì phải ra bản yêu cầu điều tra để đảm bảo việc điều tra được toàn diện, triệt để; bởi thực tế đã chứng minh, trong quá trình điều tra, đôi khi bỏ qua một tình tiết nhỏ nhưng dẫn tới hậu quả vô cùng lớn. Khi tiến hành điều tra những vấn đề đương nhiên Điều tra viên phải làm (như lập danh chỉ bản, xác định căn cước, lý lịch bị can...) thì không cần yêu cầu điều tra bằng văn bản. Nếu trong hồ sơ vụ án thiếu những tài liệu đó thì Kiểm sát viên trao đổi yêu cầu Điều tra viên bổ sung.

Tóm lại, nội dung của bản yêu cầu điều tra phải nêu lên được những vấn đề chưa được Cơ quan điều tra chứng minh, làm rõ trong vụ án, tuỳ thuộc vào nội dung từng vụ án và từng loại tội phạm cụ thể. Yêu cầu điều tra phải có tính khả thi và phải bảo đảm hoạt động điềutra tuân thủ trình tự tố tụng mà luật pháp đã quỵ định. Trên thực tế, các Điêù tra viên rất giỏi về chiến thuật điều tra, nhưng thường thiên về thu thập chứng cứ buộc tội, coi nhẹ việc thu thập các chứng cứ gỡ tội và việc tuân thủ các thủ tục tố tụng. Vì vậỵ, căn cứ kết quả, tài liệu điều tra cụ thể mà Kiểm sát viên đề ra yêu cầu điều tra làm rồ sự thật khách quan của vụ án và bổ sung, khắc phục những tồn tại về mặt tố tụng, hạn chế đến mức thấp nhất việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung sau khi kết thúc điều tra đề nghị truy tố.

5.Thời điểm yêu cầu điều tra

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 và khoản 2 Điều 112 của BLTTHS thì đề ra yêu cầu điều tra vừa là nhiệm vụ, vừa là quyền hạn của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra và khi đã đề ra yêu cầu điều tra thì phải yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra. Như vậy, có thể hiểu đây là một trong những quyền năng thuộc phạm vi quyền công tố trong giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát (không thuộc phạm vi công tác kiểm sát điều tra quy định tại Điều 113 của BLTTHS). Do việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi khởi tố vụ án, kết thúc khi vụ án được đình chỉ hoặc truy tố bằng bản cáo trạng nên hoạt động đề ra yêu cầu điều tra cũng bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi vụ án được đình chỉ hoặc truy tố bằng bản cáo trạng.

Hiện nay, ngay sau khi có quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can, Kiểm sát viên căn cứ vào các tài liệu ban đầu do Cơ quan điều tra cung cấp để xem xét, đề xuất việc phê chuẩn khởi tố bị can và đề ra yêu cầu điều tra.Tuy nhiên, trên thực tế có những yêu cầu điều tra lại phát sinh trước khi có quyết định khởi tố vụ án như trong trường hợp Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi yêu cầu Điều tra viên, Kỹ thuật viên hình sự thu thập dấu vết, vật chứng, chụp ảnh, mô tả các dấu vết có trên hiện trường, tử thi, lập biên bản thu giữ theo đúng quy định của tố tụng, yêu cầu Bác sỹ pháp y khám nghiệm tử thi thực hiện một số thao tác nhằm giúp cho việc điều tra xác định nguyên nhân chết, thời gian chết, nhóm máu, ADN... Thông thường những yêu cầu này đều bằng lời nói và chỉ trong trường hợp vẫn còn phát sinh những thiếu sót liên quan thì sau khi vụ án được khởi tố, Kiểm sát viên mới tiếp tục có yêu cầu điều tra bằng văn bản.

Việc đề ra yêu cầu điều tra không chỉ thực hiện một lần sau khi vụ án được khởi tố mà trong suốt quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, Kiểm sát viên phải nắm chắc kết quả điều tra, kịp thời nắm bắt các vấn đề phát sinh, những mâu thuẫn trong quá trình điều tra (như mâu thuẫn trong lời khai của những người tham gia tố tụng, mâu thuẫn lời khai với đặc điểm các dấu vết, vật chứng thu giữ khi khám nghiệm hiện truờng, khám nghiệm tử thi, mâu thuẫn trong chính các lời khai của bị can, khi nhận tội, khi chối tội...) để xác định những vấn đề cần điều tra mà đề ra yêu cầu điều tra. Như vậy, một vụ án có thể chỉ cần một bản yêu cầu điều tra nhưng có vụ án có nhiều bản yêu cầu điều tra.

Vấn đề đặt ra là có cần thiết vụ án nào cũng phải có bản yêu cầu điều tra hay không và có bao nhiêu bản yêu cầu điều tra thì đủ? Thực tế cho thấy không nhất thiết vụ án nào cũng phải đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản. Đối với những vụ án đã rõ ràng, các vấn đề cần chứng minh trong vụ án đã được chứng minh ngay từ các tài liệu điều tra ban đầu, thủ tục tố tụng đảm bảo, không còn tình tiết nào khác phải điều tra (như các vụ án áp dụng thủ tục rút gọn) thì không cần yêu cầu điều tra bằng văn bản mà có thể chỉ cần yêu cầu bằng lời nói là đủ. Ngược lại, đối với vụ án phức tạp, án đặc biệt nghiêm trọng hoặc án truy xét, Kiểm sát viên có thể phải đề ra nhiều yêu cầu điều tra, ngay từ khi kiểm sát việc khởi tố và trong suốt quá trình điều tra. Thời điểm ban hành bản yêu cầu điều tra phụ thuộc vào chất lượng điều tra và mối quan hệ phối hợp giữa Điều tra viên và Kiểm sát viên, cần lưu ý là đối với những vụ án trọng điểm, phức tạp, những vụ án được dư luận đặc biệt quan tâm và những trường hợp thấy có thể phải thay đồi, bồ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì Kiểm sát viên phải báo cáo xin ý kiến của Viện trưởng, Phó Viện trường hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng ủy quyền trước khi ký văn bản yêu cầu điều tra theo quy định tại Điều 19 Quy chế số 07 ngày 02/01/2008 cùa Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

6. Một số vấn đề cần lưu ý khi đề ra yêu cầu điều tra

Để có một bản yêu cầu điều tra chất lượng, có nội dung đầy đủ, toàn diện, sát với tiến độ điều tra và bào đảm mang tính khả thi, các bước cần thực hiện để ra một bản yêu cầu điều tra như sau:

Bước 1: Nghiên cứu kỹ các tài liệu có trong hồ sơ; nắm vững các quy định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn liên quan để áp dụng giải quyết vụ án cụ thể.

Bước 2: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ cần phân tích, đánh giá chứng cứ, đưa ra các giả thuyết về diễn biến của vụ án, đặt ra các câu hỏi và câu trả lời về những vấn đề cần chứng minh trong vụ án theo quy định tại Điều 63 và Điều 302 củạ BLTTHS, trên cơ sở đó nêu những vấn đề cần phải điều tra để yêu cầu điều tra.

Bước 3: Nghiên cứu các thủ tục tố tụng, xác định những thủ tục nào chưa được thực hiện hay đã thực hiện nhưng chưa đúng quy định của BLTTHS để yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện và khắc phục, bổ sung, hoàn thiện.

Bước 4: Soạn thảo yêu cầu điều tra đảm bảo đúng hình thức, nội dung quy định.

Bước 5: Trình Lãnh đạo Viện, Lãnh đạo phòng thông qua bản yêu cầu điều tra trước khi phát hành. Sau khi Kiểm sát viên ký và đóng dấu, bản yêu cầu điều tra được gửi cho Thủ trường Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Lãnh đạo Viện và Lãnh đạo phòng, lưu hồ sơ kiểm sát. Kiểm sát viên cần làm việc với Điều tra viên về từng nội dung yêu cầu điều tra để có sự thống nhất về hoạt động điều tra. Những nội dung nào Điều tra viên chưa rõ hoặc hiểu chưa đầy đủ thì cần giải thích. Trong trường hợp cần thiết có thể trao đổi với Điều tra viên về cách thức tiến hành điều tra để đạt được nội dung theo yêu cầu điều tra.

Bước 6: Kiểm sát viên thường xuyên theo dõi tiến độ điều tra, những vấn đề phát sinh cần điều ưa tiếp thì trao đổi trực tiếp bằng lời vói Điêu tra viên hoặc Lãnh đạo Cơ quan điêu tra để củng cố hoặc ra bàn yêu cầu điều tra bổ sung tiếp theo.

Bước 7: Trước khi vụ án kết thúc điều tra, Kiểm sát viên phải nghiên cứu hồ sơ để xác định toàn bộ những yêu cầu điều tra đã được Điều tra viên, Cơ quan điều tra thực hiện đúng và đầy đủ chưa, có còn vấn đề nào chưa thực hiện hoặc cần phải điều tra bổ sung thì tiếp tục yêu cầu để hoàn chinh hồ sơ trước khi kết luận điều tra.

Cần lưu ý là Bộ luật Hình sự hiện hành có 14 Chương vói 267 điều quy định về các loại tội phạm xâm phạm tới nhiều khách thể khác nhau cần được bảo vệ. Do đó, khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, ngoài những yêu cầu điều tra chung cần thực hiện để chứng minh tội phạm quy định tại Điều 63, Điều 302 cùa BLTTHS thì yêu cầu điều tra đối vói mỗi loại tội phạm khác nhau lại mang tính chất riêng có, căn cứ vào các yếu tố cấu thành của tội phạm, các tình tiết định tội, định khung hình phạt cũng như tính chất đặc thù của loại tội phạm đó.

III. Tăng cường trách nhiệm công tố trong việc đề ra yêu cầu điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp

Trong những năm qua, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra đã có những chuyển biến tích cực và đã mang lại những kết quả nhất định. Việc đề ra các yêu cầu điều tra đã được các Kiểm sát viên quan tâm và coi trọng nên chất lượng và hiệu quả của bản yêu cầu điều tra từng bước được nâng lên. Các yêu cầu điều tra đã sát đúng với quy định của pháp luật, phản ánh đúng thực trạng những mâu thuẫn, vướng mắc về chứng cứ, tội danh đối với từng vụ án cụ thể và có căn cứ pháp luật. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, số hồ sơ vụ án phải hoàn trả giữa các cơ quan tiến hành tô tụng ngày càng giảm, số bị can, bị cáo phải đình chi điều tra vì không phạm tội hoặc Tòa án truyên không phạm tội có xu hướng giảm rõ rệt.

Tuỵ nhiên, thực tiễn cho thấy, việc đề ra yêu cầu điều tra vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Bản yêu cầu điều tra còn chung chung, dài dòng, lặp đi lặp lại, chưa chú trọng vào việc phân tích và đánh giá chứng cứ để tìm ra những vân đề cần phải điêu tra làm rõ, những vấn đề liên quan đến tố tụng cần khắc phục hoặc do chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ nên bản yêu cầu điều tra nêu những vấn đề mà Điều tra viên đã làm, thậm chí đưa ra yêu cầu mà Điều tra viên khó thực hiện hoặc không thực hiện được (ví dụ như yêu cầu phải xác minh, lấy lời khai của các đối tượng liên quan đang bỏ trốn nước ngoài; ỵêu cầu xác minh lý lịch tư pháp, trích lục tiền án tiền sự đối tượng là người nước ngoài; Yêu cầu thu giữ hung khí, vật chứng đã bị mất mà không xác định được chính xác địa điểm tội phạm, phi tang...); yêu cầu điều tra chuẩn bị còn sơ sài, sử dụng thuật ngữ thiếu chính xác, chưa bám sát các quy định của BLTTHS và chưa theo mẫu do Viện kiểm sát nhân dân tối C3C ban hành... dẫn đến khi kết thúc điều tra lại phải hoàn trả hồ sơ vụ án để yêu cầu điều tra bổ sung, kéo dài thời gian tố tụng.

Để tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với điều tra theo tinh thần cải cách tư pháp mà các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quôc lần thứ XI đã đặt ra, toàn ngành Kiểm sát cần nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, trong đó, chú trọng nâng cao hiệu lực và hiệu quá của yêu cầu điều tra với những giải pháp cụ thể sau đây:

Một là, cần quán triệt, nâng cao nhận thức cho cán bộ, Kiểm sát viên về chủ trương của Đảng, Nhà nước về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với điều tra trong tiến trình cải cách tư pháp, các quy định của pháp luật, của Liên ngành tư pháp Trung ương và của ngành Kiểm sát về yêu cầu điều tra cũng như ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của yêu cầu điều tra trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức việc đề ra yêu cầu điều tra - dù bằng lời nói hay bằng văn bản - luôn là nhiệm vụ bắt buộc đối với bất kỳ vụ án nào.

Hai là, tăng cường hơn nữa trách nhiệm của Kiểm sát viên trong việc đề ra yêu cầu điều tra. Để có một bản yêu cầu điều tra có chất lượng, Kiểm sát viên phải nghiên cứu, nắm rõ những đặc điểm riêng có của tội phạm, phải thường xuyên kiểm sát tiến độ điều tra, nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, chủ động tổng hợp, đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ và phải nhạy bén trong tư duy pháp lý trên cơ sở nhận thức đúng đắn, vận dụng đầy đủ, chính xác những quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và những văn bản pháp luật khác có liên quan để soi vào vụ án cụ thể mình đang làm. Trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên phải trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra như hỏi cung bị can, lấy lời khai nguời làm chứng, thực nghiệm điều tra...

Ba là, tổ chức bố trí, sắp xếp, phân công cán bộ, Kiểm sát viên có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có kinh nghiệm về từng loại án, có bản lĩnh ttong công tác thực hành quỵền công tố và kiểm sát điều tra để phát huy thế mạnh trong việc đề ra yêu cầu điều tra, bào đảm yêu cầu điều tra có chất lượng, góp phần giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác, đúng quy định của pháp luật.

Bốn là, tăng cường trách nhiệm của Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp trong việc hướng dẫn chi đạo, kiểm tra nghiệp vụ để kịp thời phát hiện, khắc phục những thiếu sót, tồn tại phát sinh trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong việc đề ra các yêu cầu điều tra.

Năm là, tăng cường tập huấn rút kinh nghiệm, bồi dưỡng nghiệp vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, trong đó, cần chú trọng tới việc đề ra yêu cầu điều tra, đặc biệt là kỹ năng ban hành, trinh tự và các bước tiến hành một bàn yêu cầu điều tra;, kịp thời cập nhật kiến thức, phương pháp điều tra đối với các loại tội phạm mới hoặc thù đoạn phạm tội mới... để tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, Kiểm sát viên trong việc nghiên cứu đề ra yêu cầu điều tra.

Sáu là, tăng cường nghiên cứu, tổng kết, đúc rút kinh nghiêm về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, tuyên truyền, phổ biến những điển hình tốt, trong đó, chú trọng tới hoạt động đề ra yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên.

Bảy là, nghiên cứu, xây dựng Quy chế phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc giải quyết các vụ án hình sự, trong đó, cần nhấn mạnh tới nghĩa vụ, trách nhiệm của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên trong việc cung cấp tài liệu, hồ sơ vụ án đầy đủ, kịp thời cho Viện kiểm sát, trong việc thực hiện các yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát... Đồng thời, cần đặt trách nhiệm cho cán bộ, Kiểm sát viên phải đề ra được yêu cầu điều tra sau khi đã được Cơ quan điều tra, Điều tra viên cung cấp tài liệu, hồ sơ vụ án./.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi