Phân định thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn trong hoạt động tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

TS. Mai Bộ - Tòa án quân sự Trung ương

Và Nguyễn Quốc Sự - Cơ quan điều tra hình sự, Bộ Quốc phòng

Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình [1] là một nhiệm vụ quan trọng của công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Vậy, bản chất của việc phân định thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp là gì? Cần làm gì để phân định thầm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo huớng tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thầm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình.

Trong phạm vi bài viết này, tập trung nghiên cứu về bản chất của việc phân định thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự; căn cứ phân định thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp hình sự; và đưa ra một số kiến nghị phân định thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp hình sự trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình.

1. Về bản chất của việc phân định thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự. Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Quá trinh giải quyết vụ án hình sự sơ thẩm bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi xét xử xong vụ án hình sự và giao bản án, các quyết định của Toà án cho cơ quan và người có trách nhiệm thi hành. Quá trình giải quyết vụ án hình sự sơ thẩm được chia thành các giai đoạn Điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự. Chủ thể tham gia các hoạt động tiến hành tố tụng là cơ quan và người tiến hành tố tụng. Trong số những người tiến hành tố tụng có những người đồng thời là người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng như Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Toà án và những người được bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ điều tra vụ án, thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp hoặc xét xử vụ án như Điều tra viên, Kiểm sát Viên, Thẩm phán. Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền tố tụng, người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng còn có nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền hành chính nhà nước, hành chính tư pháp.

Như vậy, bản chất của việc phân định thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự là phân định các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật của những người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng thành các nhóm sau đây: Nhóm nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước đối với ngành; nhóm nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền hành chính tư pháp; nhóm nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thầm quyền tố tụng hình sự. Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình.

2. Để phân định thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp hình sự theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, chúng tôi căn cứ vào ý nghĩa và mức độ cho phép người đúng đầu cơ quan tiến hành tố tụng tham gia vào quá trình giải quyết vụ án bằng việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Theo căn cứ này, thì:

- Nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước của những người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng là những nhiệm vụ, quyền hạn có nghĩa quản lý nhà nước đối với các ngành như ngành Toà án, ngành Kiểm sát hoặc thể hiện nội dung quản lý hành chính với cơ quan mình.

- Nhiệm vụ, quyền hạn ban hành quyết định, hoạt động của người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng liên quan tới việc giải quyết vụ án và không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng là các nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thầm quyền hành chính tư pháp.

- Nhiệm vụ, quyền hạn ban hành quyết định, hoạt động của người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng để giải quyết nội dung vụ án và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng là các nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền tố tụng.

3. Phân định thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp hình sự của những người đứng đầu Cơ quan điều tra. Thủ trưởng Cơ quan điều tra là người đứng đầu Cơ quan điều tra, chịu trách nhiệm về hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra. Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thể thực hiện việc điều tra vụ án hình sự hoặc phân công Phó Thủ trường Cơ quan điều tra thực hiện việc điều tra vụ án. Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì Thủ trường Cơ quan điều tra có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra; quyết định phân công Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong việc điều tra vụ án hình sự; kiểm tra các hoạt động điều tra của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên; quyết định thay đổi Điều tra viên; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyển của Cơ quan điều tra.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì khi thực hiện việc điều tra vụ án hình sự, Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định không khởi tố vụ án; quyết định nhập hoặc tách vụ án; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn; quyết định truy nã bị can, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, xử lý vật chứng; quyết định trưng cầu giám định, quyết định khai quật tử thi; kết luận điều tra vụ án; quyết định tạm đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định phục hồi điều tra; trực tiếp tiến hành các biện pháp điều tra; cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thấm quyền của Cơ quan điều tra

Trong số các nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên, các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự là các nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền hành chính tư pháp. Bởi lẽ, các nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên chỉ mang tính chất hành chính liên quan đến hoạt động tư pháp (hoạt động điều tra đối với một vụ án cụ thể) mà không mang tính chất hành chính nhà nước đối với cơ quan nhà nước. Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thể uỷ nhiệm cho một Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên.

Các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 2 Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự là những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền tố tụng hình sự. Bởi lẽ, các nhiệm vụ, quyền hạn đó liên quan đến việc giải quyết nội dung vụ án và ảnh hường trực tiếp đến quyền lợi của người tham gia tố tụng. Thủ trưởng Cơ quan điều tra chi có các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 2 Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự khi thực hiện việc điều tra vụ án hình sự cụ thể. Khi được phân công điều tra vụ án, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẳm quyền tố tụng nêu trên. Như vậy, khi được Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định phân công điều tra vụ án (theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự), thi Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có quyền ký các văn bản quy định tại khoản 2 Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự với danh nghĩa (chức vụ) của mình mà không phải là ký thay Thủ trường Cơ quan điều tra. Ở đây có hai vấn đề cần nghiên cứu:

Vấn đề thứ nhất, có gì khác nhau giữa việc phân công phụ trách công việc với việc ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn Thủ trưởng và các Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra?

Theo chúng tôi, thì việc phân công phụ trách công việc giữa Thủ trưởng Cơ quan điều tra và cấp Phó Thủ trường Cơ quan điều tra là sự phân công nhiệm vụ thuộc thẩm quyền hành chính nhà nước để quản lý, điều hành hoạt động theo chức năng của Cơ quan điều tra. Thông thường, Thủ trưởng Cơ quan điều tra chỉ thực hiện chức năng của người đứng đầu Cơ quan điều tra (với tư cách là một cơ quan nhà nước) phụ trách chung và có thể phụ trách trực tiếp một số công việc (ví dụ: Công tác cán bộ, nhân sự, tài chính...). Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra phụ trách các khâu công việc như phụ trách chuyên môn, phụ trách nội bộ... Việc phân công công việc giữa Thủ trưởng Cơ quan điều tra và cấp Phó mang tính chất dài hạn hoặc hàng năm và có thể được thực hiện bằng miệng hoặc bằng văn bản và phải được thông báo cho cán bộ, công chức trong cơ quan.

Việc uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ truởng và các Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra chỉ được thực hiện khi Thủ trưởng Cơ quan điều tra vắng mặt. Nội dung công việc được uỷ nhiệm là những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền hành chính tư pháp quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng hình sự. Pháp luật tố tụng hình sự không quy định hình thức uỷ nhiệm (phải bằng văn bản hay bằng miệng) nhưng thực tiễn hoạt động của các Cơ quan điều tra cho thấy hầu hết Thủ trường Cơ quan điều tra uỷ nhiệm cho Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thầm quyền hành chính tư pháp bằng lời. Việc uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyên hành chính tư pháp không được thể hiện trong hồ sơ vụ án hình sự.

Vấn đề thứ hai, việc thực hiện việc điều tra vụ án của Thủ trưởng, Phó Thủ truởng Cơ quan điều tra với việc điều tra của Điều tra viên có gì khác nhau?

Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thực hiện việc điều tra vụ án từ khi có quyết định của Thủ trưởng Cơ quan điều tra về việc phân công việc điều tra vụ án cụ thể. Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành mới chỉ quy định về việc phân công Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ án và quyết định phân công Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra điều tra vụ án được đưa vào hồ sơ vụ án hình sự. Vậy, để tự mình thực hiện việc điều tra, Thủ trưởng Cơ quan điều tra có phải ra quyết định phân công chính mình điều tra vụ án hay không, vấn đề này chưa đuợc pháp luật tố tụng hình sự quy định. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thực hiện việc điều tra vụ án bằng cách: Ký các quyết định, văn bản quy đinh tại khoản 2 Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự; trực tiếp tiến hành các biện pháp và hoạt động điều tra thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan mình.

Điều tra viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự. Điều tra viên chỉ được thực hiện nhiệm vụ điều tra vụ án khi có quyết định phân công của Thủ trưởng hoặc Phó Thù trưởng Cơ quan điều tra (được Thủ trưởng Cơ quan điều tra uỷ nhiệm). Điều tra viên thực hiện việc điều tra vụ án hình sự bằng cách thực hiện các biện pháp và hoạt động điều tra. Các biện pháp và hoạt động điều tra thuộc thẩm quyền của Điều tra viên được pháp luật tố tụng hình sự quy định là nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì Điều tra viên được phân công điều tra vụ án hình sự có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Lập hồ sơ vụ án hình sự; triệu tập và hỏi cung bị can; triệu lập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyển lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; quyết định áp giải bị can, quyết định dẫn giải người làm chứng; thi hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản; tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra; tiến hành các hoạt động điều tra khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Đó là những công việc, hoạt động cụ thể trong quá trình điều tra vụ án hinh sự. Việc thực hiện công việc, hoạt động cụ thể nêu trên trong quá trình điều tra vụ án hình sự của Điều tra viên được thể hiện trong hổ sơ vụ án.

Như vậy, nội dung việc điều tra vụ án hình sự của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra rộng hơn nội dung việc thực hiện điều tra vụ án hình sự của Điều tra viên. Ngoài những biện pháp, hoạt động điều tra, Thủ trường, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra còn có quyền ban hành các quyết định, văn bản quy định tại khoản 2 Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có quyền chỉ đạo Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án hình sự. Tất cả nội dung việc điều tra vụ án hình sự do Thủ trường, Phó Thủ trường Cơ quan điều tra và Điều tra viên thực hiện đều được thể hiện trong hồ sơ vụ án hinh sự

Để nâng cao trách nhiệm cá nhân, Điều tra viên có thể phát huy được tính chủ động, sáng tạo, kịp thời xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án, cần tăng cường thẩm quyền tố tụng bằng cách sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 34 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng giao cho Điều tra viên thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trong tố tụng của Thủ trường Cơ quan điều tra đuợc quy định tại khoản 2 Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự như: Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn (không phải là tạm giam); quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, xử lý vật chứng; quyết định trưng cầu giám định; cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa.

Theo quy định tại Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, thì:

- Trong Công an nhân dân có hai tiểu hệ thống Cơ quan điều tra là: Cơ quan điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân và Cơ quan điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân. Cơ quan điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân được tổ chức ở ba cấp: Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Cơ quan An ninh điều tra của lực lượng An ninh nhân dân được tổ chức ở hai cấp: Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an; Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

- Trong Quân đội nhân dân cũng có hai tiểu hệ thống Cơ quan điều tra là: Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân và Cơ quan An ninh điều tra trong Quân đội nhân dân. Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân được tổ chức ở ba cấp: Cục điều tra hình sự Bộ Quốc phòng; Phòng điều tra hình sự quân khu và tương đương; Cơ quan điều tra hình sự khu vực. Cơ quan an ninh điều tra trong Quân đội nhân dân được tổ chức ở hai cấp: Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng; Cơ quan An ninh điều tra Quân khu và tương đương.

- Trong ngành Kiểm sát, Cơ quan điều tra được thành lập ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự Trung ương: Ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Cục điều tra hình sự. Ở Viện kiểm sát quân sự Trung ương có Phòng điều tra hình sự.

Như vậy, trừ Cục điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao còn lại các Cơ quan điều tra đều là các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang (của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng). Các cơ quan điều tra được thành lập ở Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Viện kiểm sát quân sự Trung ương đều không có chức năng quản lý nhà nước về ngành. Do vậy, chúng tôi đồng tình với thiết kế của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự hiện hành là không quy định quyền quản lý hành chính của Thủ trưởng cơ quan điều tra trong Pháp lệnh.

4. Phân định thẩm quyền quản lý chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp hình sự của Viện trưởng Viện kiểm sát. Viện trưởng Viện kiểm sát là người đứng đầu cơ quan kiểm sát, nhiệm vụ và quyền hạn Viện trưởng Viện kiểm sát được quy định tại khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chúng tôi cho rằng, trong số các nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát được quy định tại khoản 1 Điều 36 Bộ luật tố tụng hình sự thì chỉ các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây thuộc thẩm quyền hành chính tư pháp: Tổ chức và chỉ đạo các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự; quyết định phân công Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự; kiểm tra các hoạt động thực hành quyền tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên; quyết định thay đổi Kiểm sát viên; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát. Bởi lẽ, các nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên liên quan đến hoạt động tư pháp (hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với một vụ án cụ thể) mà không phải là một biện pháp hoặc hoạt động tố tụng hình sự đối với một vụ án hình sự cụ thể. Các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây của Viện trưởng Viện kiểm sát quy định tại các điểm d, đ, e khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự là những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền tố tụng. Bởi lẽ, các nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên thực chất là những quyết định thể hiện hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình điều tra, xét xử vụ án hình sự. Như vậy, về kỹ thuật lập pháp có thể cho rằng, việc quy định các nhiệm vụ, quyền hạn (thuộc thẩm quyền tố tụng) tại khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự là không hợp lý mà phải quy định tại khoản 2 của Điều luật này mới chính xác.

Cũng như Thủ trưởng Cơ quan điều tra và vì là nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền hành chính tư pháp, cho nên, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể uỷ nhiệm cho một Phó Viện trường Viện kiểm sát thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, khi ký các văn bản nêu trên, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phải ký với danh nghĩa thay mặt Viện trưởng Viện kiểm sát.

Các nhiệm vụ, quyền hạn mà Viện trưởng Viện kiểm sát thực hiện khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự là những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền tố tụng. Theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự và như đã trình bày, thì khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại các điểm d, đ, e khoản 1 và khoản 2 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, chúng tôi cho rằng, các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây của Viện trưởng Viện kiểm sát thuộc thẩm quyền tố tụng: Quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; quyết định gia hạn điều tra, quyết định gia hạn tạm giam; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra; quyết định hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; quyết định chuyển vụ án;

quyết định việc truy tố, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định trưng cầu giám định; quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, quyết định phục hồi điều tra, quyết định xử lý vật chứng; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định của Toà án; cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyển của Viện kiểm sát; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án theo quy định của pháp luật; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên; quyết định rút, đình chỉ hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới.

Khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền tố tụng nêu trên. Do vậy, khi được Viện trưởng quyết định phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án cụ thể (theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự), thì Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có quyền ký các văn bản quy định tại khoản 2 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự với danh nghĩa (chức vụ) của mình mà không phải là ký thay Viện trưởng Viện kiểm sát.

Với những nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định nêu trên, người đứng đầu (Viện trưởng, Phó Viện trường khi được ủy nhiệm hoặc phân công) Viện kiểm sát có vai trò quyết định và chi phối mọi hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự. Vai trò của Kiểm sát viên trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự phụ thuộc vào các quyết định và sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát. Trong đó, có nhiệm vụ của Kiểm sát viên hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí quan điểm của Viện trưởng Viện kiểm sát như nhiệm vụ đọc cáo trạng. Nhưng nguyên tắc, tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm sát là “Thủ trưởng chế”; do vậy, chúng tôi đề nghị giữ nguyên nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát quy định tại Điều 36 và 37 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nhưng về kỹ thuật lập pháp, đề nghị: Bổ sung cụm từ “Viện trưởng” vào sau cụm từ “Quyết định phân công...” tại điểm b khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự; chuyển nội dung quy định tại các điểm d, đ, e khoản 1 sang khoản 2 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự.

5. Phân định thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự của Chánh án Toà án. Chánh án Toà án vừa là người tiến hành tố tụng vừa là người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng. Nhiệm vụ và quyền hạn của Chánh án Tòa án được quy định tại Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong số các nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Toà án được quy định tại Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự thì chỉ các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây thuộc thẩm quyền hành chính tư pháp: Tổ chức công tác xét xử của Toà án; quyết định phân công Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm giải quyết, xét xử vụ án hình sự; quyết định phân công Thư ký Toà án tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự; quyết định thay đồi Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án trước khi mở phiên toà; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Toà án. Bởi lẽ, các quyết định nêu trên của Chánh án chỉ liên quan đến việc giải quyết vụ án mà không giải quyết nội dung vụ án và không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng.

Còn các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây của Chánh án Toà án thuộc thầm quyền tố tụng: Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam; quyết định xử lý vật chứng; quyết định chuyển vụ án; cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luât của Toà án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quyết định thi hành án hình sự; quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù; quyết định đình chỉ chấp hành hình phạt tù; quyết định xoá án tích; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Toà án. Bởi lẽ, các quyết định, hoạt động nêu trên của của Chánh án là những quyết định giải quyết nội dung vụ án và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh còn có nhiệm vụ chủ tọa phiên họp của Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp mình xét xử vụ án hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Như vậy, có thể nói về kỹ thuật lập pháp, thì: Việc quy định các nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền tố tụng của Chánh án Toà án tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự là không hợp lý; việc không quy định nhiệm vụ chủ tọa phiên họp của Uỷ ban Thẩm phán Tòa án cấp mình xét xử vụ án hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thuộc thẩm quyền tố tụng của Chánh án Toà án tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Tố tụng hình sự là thiếu sót.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì Chánh án Toà án có thể ủy nhiệm cho một Phó Chánh án thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, đây có hai vấn đề cần nghiên cứu:

Thứ nhất, có gì khác nhau giữa việc phân công phụ trách công việc với việc uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn giữa Chánh án và các Phó Chánh án? Khi nào, thì Phó Chánh án được thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự?

Như đã trình bày tại điểm 3 của bài viết này, thì việc phân công phụ trách công việc giữa Chánh án và các Phó Chánh án là sự phân công nhiệm vụ thuộc thẩm quyền hành chính nhà nước để duy trì sự tồn tại và hoạt động theo chức năng của Toà án. Thông thường, Chánh án chỉ thực hiện chức năng của người đứng đầu Toà án (với tư cách là một cơ quan nhà nước) phụ trách chung và có thể phụ trách trực tiếp một số công việc (ví dụ: Công tác cán bộ, nhân sự; tài chính...). Phó Chánh án phụ trách các khâu công việc như phụ trách chuyên môn, phụ trách nội bộ, phụ trách về hình sự, phụ trách về dân sự.... Việc phân công công việc giữa Chánh án và cấp Phó của mình mang tính chất dài hạn hoặc hàng năm và có thể được thực hiện bằng miệng hoặc bằng văn bản và phải được thông báo cho cán bộ, công chức trong cơ quan. Còn việc uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn giữa Chánh án với Phó Chánh án chỉ được thực hiện khi Chánh án vắng mặt; chỉ có một Phó Chánh án được ủy nhiệm. Nội dung công việc được uỷ nhiệm là những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự. Pháp luật tố tụng hình sự không quy định hình thức uỷ nhiệm (phải bằng văn bản hay bằng miệng) nhưng thực tiễn hoạt động của Toà án cho thấy hầu hết Chánh án uỷ nhiệm cho Phó Chánh án thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn bằng lời; trong hồ sơ vụ án không thể hiện việc uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó. Về việc ký văn bản, chúng tôi cho rằng, khi được uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thì Phó Chánh án phải ký các quyết định với chính danh của mình (là Phó Chánh án) và chịu trách nhiệm trước Chánh án mà không phải ký thay mặt Chánh án.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự, thi khi được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự, Phó Chánh án Toà án có các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 2 Điều luật này. Cho nên, chỉ khi nào được Chánh án quyết định phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự (theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự), thì Phó Chánh án mới có quyền ký các quyết định, văn bản quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự với danh nghĩa (chức vụ) của mình mà không phải ký thay Chánh án. Còn trường hợp không có quyết định phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự (theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự), thì Phó Chánh án chỉ được thay mặt Chánh án ký các quyết định, văn bản quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Thứ hai, có gì khác nhau giữa việc thực hiện nhiệm vụ giải quyết vụ án của Chánh án và việc thực hiện nhiệm vụ giải quyết, xét xử vụ án của Phó Chánh án, Thẩm phán?

Quá trình giải quyết vụ án hình sự sơ thẩm ở Toà án được thực hiện từ khi thụ lý vụ án cho đến khi thực hiện xong việc giao bản án theo quy định tại Điều 229 Bộ luật Tố tụng hình sự (nếu vụ án được kết thúc bởi việc Toà án ra một bản án). Trong quá trình đó, Toà án phải thực hiện nhiều công việc; trong đó, có công việc do Thăm phán Toà án được phân công xét xử vụ án thực hiện và có công việc do Chánh án Toà án thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những công việc quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng (đặc biệt là bị can, bị cáo) thì do Chánh án Toà án thực hiện. Một vấn đề đặt ra là, Chánh án có thể tham gia giải quyết, xét xử vụ án hình sự không? Nếu có, thì ai phân công Chánh án giải quyết, xét xử vụ án hình sự? Theo chúng tôi, thì Chánh án vừa có qụyền phân công người khác giải quyết, xét xử vụ án hình sự vừa có quyền trực tiếp tham gia giải quyết, xét xử vụ án hình sự với yêu cầu là phải bảo đảm nguyên tắc khách quan, vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Chính vì vậy, tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Tố tụng hình sự mới có quy định: "...Nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án thì do Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp quyết định".

Để trực tiếp giải quyết, xét xử vụ án hình sự Chánh án phải tự phân công mình mà không phân công người khác giải quyết, xét xử vụ án hình sự. Trong thực tiễn áp dụng pháp luât không vướng mắc; nhiều đồng chí Chánh án Toà án cấp huyện vẫn tự phân công mình giải quyết, xét xử vụ án hình sự. Tuy nhiên, về cơ sở pháp lý thì Bộ luật Tố tụng hình sự chưa quy định trường hợp này; do vậy, để có cơ sở pháp lý, thì cần nghiên cứu bổ sung nội dung Chánh án có quyền tự phân công mình giải quyết, xét xử vụ án hình sự vào điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Phó Chánh án Toà án là người giúp Chánh án làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án. Như đã trình bày, thì có thể có trường hợp Phó Chánh án được phân công giải quyết vụ án mà không được phân công xét xử vụ án (với tư cách là Thẩm phán chủ tọa phiên toà hoặc Thẩm phán không làm chủ tọa phiên toà). Có trường hợp, Phó Chánh án được phân công giải quyết, xét xử vụ án (với tư cách là Thẩm phán chủ tọa phiên toà hoặc Thẩm phán tham gia xét xử vụ án nhưng không làm chủ tọa phiên toà).

Trường hợp thứ nhất, là trường hợp Phó Chánh án giải quyết vụ án bằng việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của người đứng đầu Tòa án khi không có quyết định phân công giải quyết, xét xử vụ án (theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự). Đây là trường hợp Phó Chánh án thay mặt Chánh án thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn (thuộc thẩm quyền của Chánh án) cho nên, trong trường họp này, Phó Chánh án không được ký các quyết định quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự với chức danh của mình mà phải ký thay mặt Chánh án.

Trường hợp thứ hai, là trường hợp được phân công giải quyết, xét xử vụ án (với tư cách là Thẩm phán chủ tọa phiên toà hoặc Thẩm phán tham gia Hội đồng xét xử). Với tư cách là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Phó Chánh án thực hiện cả nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của người đứng đầu Tòa án (quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự) và cả nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của Thẩm phán (quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự). Cho nên, Phó Chánh án ký các quyết định quy định khoản 2 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự với danh nghĩa Phó Chánh án và ký các quyết định quy định tại khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng hình sự với danh nghĩa Thẩm phán chủ tọa phiên toà. Còn trường hợp chỉ tham gia xử mà không được phân công làm chủ phiên toà, thi Phó Chánh án chỉ ký các quyết định quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật tố tụng hình sự với danh nghĩa Phó Chánh án thực hiện các hoạt động tố tụng quy định khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự.

 Thẩm phán được phân công giải quyết xét xử vụ án hình sự là người trực tiếp xét xử  vụ án hình sự với tư cách là Thẩm phán chủ tọa phiên toà hoặc Thẩm phán, thành viên đồng xét xử. Theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì Thẩm phán được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên toà; tham gia xét xử các vụ án hình sự; tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử; tiến hành các hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền của Toà án theo sự phân công của Chánh án Toà án. Đối với Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên toà, ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên còn có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (không phải là tạm giam); quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; quyết định triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên toà; tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Toà án.

Chúng tôi cho rằng, Thẩm phán được phân công giải quyết, xét xử vụ án người trực tiếp nghiên cứu hồ sơ và biết được khi nào cần: Áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam, xử lý vật chứng, chuyển vụ án, cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa. Khi thấy cần quyết định những vẫn đề nêu trên, Thẩm phán đề nghị và Chánh án ký ban hành quyết định. Nếu việc ban hành các quyết định nêu trên là trái luật,thì ai chịu trách nhiệm? Trong khi, Thẩm phán được phân công giải quyết, xét xử vụ án có quyền biểu quyết kết án và áp dụng hình phạt đối với bị cáo. Vậy, tại sao lại không cho họ quyền được áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam, xử lý vật chứng, chuyển vụ án, cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa?

Theo quan điểm của Đảng, thì tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho Thẩm phán Toà án là một nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49-NQ/TW). Vậy, bản chất của việc tăng thẩm quyền cho Thẩm phán ở đây là gì? Theo chúng tôi và đúng như Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 khẳng định “phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự theo hướng tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho Thẩm phán…” [2] , thì bản chất của việc tăng thẩm quyền cho Thẩm phán là phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính tư pháp của Chánh án với trách nhiệm, quyền hạn tố tụng của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự; và bảo đảm thực hiện nguyên tắc “Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Để phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính tư pháp của Chánh án với trách nhiệm, quyền hạn của Thầm phán trong hoạt động tố tụng hình sự; và bảo đảm thực hiện nguyên tắc “Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, chúng tôi đề nghị như sau:

Một là, khi bàn về thẩm quyền của người đứng đầu các cơ quan tiến hành tố tụng cần xuất phát từ quan điểm quá trình giải quyết vụ án hình sự (xét theo nghĩa rộng) bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi người bị kết án được xoá án tích (đương nhiên hoặc do Toà án quyết định). Quá trình giải quyết vụ án được chia thành các giai đoạn: Điều tra, truy tố, xét xử vụ án và thi hành án đối với người bị kết án (và các đương sự). Trong quá trình đó, Chánh án Toà án không chỉ có các nhiệm vụ, quyền hạn trong giai đoạn xét xử mà còn có cả nhiệm vụ, quyền hạn trong giai đoạn thi hành án hình sự.

Hai là, từ quan điểm nêu trên, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các khoản 1 và khoản 2 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây của Chánh án là những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền tố tụng: Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; chủ tọa phiên họp của Ủy ban Thẩm phán (Hội đồng Thấm phán) để xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án theo (quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; ra quyết định thi hành án hình sự; quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù; quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; quyết định xoá án tích; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Toà án.

Ba là, bổ sung các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây vào khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự là những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền tố tụng của Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên toà: Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam; quyết định xử lý vật chứng; quyết định chuyển vụ án; cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa.

Từ những nội dung nghiên cứu nêu trên, chúng tôi đề nghị bổ sung từ “Chánh án” vào sau cụm từ “Quyết định phân công…” tại điểm b khoản 1 Điều 38; chuyển các nội dung quy định tại các điểm d, đ, e, g, h khoản 1 sang khoản 2 Điều 38; bổ sung nhiệm vụ “Chủ tọa phiên họp của Ủy ban thẩm phán (Hội đồng thẩm phán) để xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự” vào khoản 2 Điều 38; chuyển các nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án quy định tại các điểm a và c khoản 2 Điều 38 sang Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự thành nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa.

Cũng như Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với Ngành. Do vậy, cần quy định trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước đối với Ngành. Với ý nghĩa đó, chúng tôi đề nghị sửa Điều 25 Pháp lệnh Tổ chức Tòa án nhân dân theo hướng bỏ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền tố tụng quy định tại khoản 3.


[1] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tr4.

[2] Xem: Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 49 ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tr.4).


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi