Thực tiễn áp dụng Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự về việc tách, nhập vụ án hình sự để tiến hành điều tra

Thạc sỹ Nguyễn Trọng Nghĩa - Viện KSQS khu vực 22 – Quân khu 2                          

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (BLTTHS) đã có quy định về các trường hợp nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp ở địa phương cho thấy, quy định hiện hành của BLTTHS còn chung chung, thiếu rõ ràng; trong khi đó, các văn bản dưới luật chưa có hướng dẫn cụ thể về nội dung này, dẫn đến việc hiểu và áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp không thống nhất với nhau.

I. Nhập vụ án hình sự để tiến hành điều tra

1.1. Điều kiện nhập vụ án hình sự để điều tra

Tại khoản 1 Điều 117 BLTTHS có quy định: Cơ quan điều tra có thể nhập để tiến hành điều tra trong cùng một vụ án những trường hợp bị can phạm nhiều tội, nhiều bị can cùng tham gia một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm quy định tại Điều 313 và Điều 314 của Bộ luật hình sự. Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy, còn nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau như: trường hợp nào thì tiến hành nhập vụ án, trường hợp nào thì không nhập.

Ví dụ 1: A và B cùng thực hiện hành vi “phá huỷ công trình quan trọng về an ninh quốc gia” để lấy tài sản đem bán cho C. A và B bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “phá huỷ công trình quan trọng về an ninh quốc gia” được quy định tại khoản 1 Điều 231 Bộ luật hình sự (BLHS) và bị áp dụng biện pháp tạm giam 4 tháng để điều tra. Trước khi hết hạn thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam 10 ngày, Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với C về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 250 BLHS. Đồng thời, Cơ quan điều tra ra quyết định nhập hai vụ án nêu trên để tiến hành điều tra; thời hạn điều tra vụ án sau khi đã nhập được tính theo tội “phá huỷ công trình quan trọng về an ninh quốc gia” có trừ đi thời gian đã điều tra trước đó. Nghia xlà thưòi hạn điều tra sau khi nhập vụ án là còn 10 ngày. Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về vụ án này.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: việc nhập vụ án nêu trên của Cơ quan điều tra là đúng pháp luật và trường hợp trên không thể xử lý độc lập. Bởi lẽ, tính liên quan ở các hành vi của hai vụ án nêu trên là chặt chẽ, khăng khít, nối tiếp nhau về mặt thời gian và không gian. Nếu giải quyết độc lập hai vụ án sẽ gây khó khăn, phức tạp trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Do đó, mặc dù thời hạn điều tra chỉ còn 10 ngày, nhưng vụ án vẫn phải được nhập để tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật.

Quan điểm thứ hai thì cho rằng: Quyết định nhập vụ án nêu trên của cơ quan điều tra là trái pháp luật. Bởi vì, theo quy định tại Khoản 1 Điều 117 BLTTHS thì chỉ nhập được nhập vụ án khi cùng một vụ án những trường hợp bị can phạm nhiều tội, nhiều bị can cùng tham gia một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm quy định tại Điều 313 và Điều 314 của BLHS. Trong trường hợp này, từng bị can bị can A, B và C không phạm nhiều tội; C bị khởi tố về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là độc lập với tội mà cơ quan điều tra đã khởi tố trước đó với A và B. Trường hợp C phạm vào tội độc lập thì chỉ nhập vụ án khi C phạm tội “che giấu tội phạm” hoặc “không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 313, 314 BLHS. Mặt khác, sau khi nịâp vụ án thì hạn điều tra chỉ còn 10 ngày, gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc điều tra về tội mà C bị khởi tố. Do đó, không thể nhập vụ án trong trường hợp này.

Theo chúng tôi, quy định về việc nhập vụ án tại Điều 117 BLTTHS là quy phạm tuỳ nghi, không có tính chất bắt buộc nên không có trường hợp bắt buộc phải nhập vụ án để tiến hành điều tra. Mục đích của việc nhập vụ án là để thuận lời cho việc giải quyết các vụ án. Trường hợp vụ án có tính liên quan nhưng nếu nhập vụ án có thể gây khó khăn cho hoạt động điều tra thì không nhất thiết phải ra quyết định nhập vụ án.

Ví dụ 2: Trong 2 ngày liên tiếp, A và B gây ra 4 vụ án ở 2 huyện C và D thuộc tỉnh H. Ở mỗi huyện này, A và B gây ra 1 vụ “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 1 vụ “trộm cắp tài sản”. Cơ quan điều tra huyện C khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với A và B về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “trộm cắp tài sản” xảy ra ở địa phương mình, thời hạn điều tra 2 tháng kể từ ngày khởi tố. Sau 1 tháng 25 ngày kể từ ngày huyện C khởi tố, Cơ quan điều tra huyện D cũng tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với A và B về hai tội nêu trên (đối với hành vi phạm tội ở huyện D). Khi Cơ quan điều tra huyện D chưa kịp chuyển hồ sơ sang Cơ quan điều tra huyện C để nhập vụ án, thời hạn điều tra đã hết nên Cơ quan điều tra huyện C kết thúc điều tra, đề nghị Viện kiểm sát truy tố 2 bị can A và B. Sau đó, huyện D tiến hành truy tố, xét xử độc lập đối với A và B.

Vụ án này cũng có nhiều quan điểm khác nhau về điều kiện nhập vụ án.

Có quan điểm cho rằng, căn cứ Điều 117 BLTTHS thì các vụ án trên phải được nhập lại để cơ quan tư pháp huyện C tiến hành điều tra, truy tố, xét xử toàn bộ các hành vi của A và B ở cả hai huyện. Khi đó, bị cáo A và B chỉ bị tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” mà không phải bị xử lý bằng 2 lần, 2 bản án sẽ không phải chịu hình phạt nặng. Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự.

Tuy nhiên, quan điểm khác lại cho rằng Điều 117 BLTTHS cũng không có quy định bắt buộc phải nhập vụ án của hai địa phương khác nhau để tiến hành điều tra. Trong vụ án này, các bị can thực hiện các hành vi phạm tội độc lập ở những địa phương khác nhau, nên có thể xử lý độc lập. Việc không nhập vụ án nêu trên là không trái pháp luật.

1.2. Cách tính thời hạn khi nhập vụ án

Tại Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT ngày 07/09/2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao,  Bộ Công an và Bộ Quốc phòng về “quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2003” có hướng dẫn về cách tính thời hạn tố tụng trong trường hợp bị can phạm tội nặng hơn, điều tra bổ sung về tội phạm khác… nhưng không có hướng dẫn cách tính thời hạn tố tụng trong trường hợp nhập vụ án. Theo tinh thần của BLTTHS và Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT nêu trên thì chúng ta hiểu thời hạn sau khi nhập là thời hạn của tội cao nhất sau khi đã trừ đi thời hạn điều tra trước đó. Tuy nhiên, việc tính thời hạn tạm giam trong trường hợp nhập vụ án còn có nhiều cách hiểu và áp dụng không thống nhất.

Ví dụ 3: Ngày 20/01/2012, A và B cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá 15 triệu đồng. Ngay tại thời điểm đó, B còn thực hiện thêm hành vi phá huỷ công trình quan trọng về an ninh quốc gia để lấy tài sản đem bán cho C.

Ngày 28/02/2012, A và B bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “trộm cắp tài sản” và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong thời hạn 2 tháng. Đến ngày 15/04/2012 (thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam chỉ còn 12 ngày), Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can bổ sung đối với B về tội “phá huỷ công trình quan trọng về an ninh quốc gia” đồng thời nhập hai vụ án trên để điều tra.

Có nhiều quan điểm khác nhau về cách tính thời hạn tạm giam tiếp theo đối với A và B.

Có quan điểm cho rằng: Việc nhập vụ án nêu trên là bắt buộc vì vụ án trên thuộc trường hợp bị can phạm nhiều tội được quy định tại Khoản 1 Điều 117 BLTTHS; thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam đối với A và B được tính theo thời hạn của vụ án đã nhập, nghĩa là tính theo thời hạn của tội nặng hơn sau khi đã trừ đi thời hạn điều tra, tạm giam trước đó. Do đó, thời hạn tạm giam tiếp theo đối với A và B là thêm 2 tháng tính đến hết ngày 27/06/2012.

Quan điểm thứ hai, cũng đồng ý với quan điểm thứ nhất về việc bắt buộc phải nhập vụ án để điều tra nhưng không đồng ý với quan điểm tạm giam A thêm với thời hạn hai tháng. Bởi lẽ, A chỉ bị khởi tố về tội “trộm cắp tài sản” nên thời hạn tạm giam đối với A trong mọi trường hợp điều không quá 2 tháng. Sau khi nhập vụ án, thì thời hạn điều tra chung đối với cả hai tội là 4 tháng nhưng thời hạn tạm giam của A không thể kéo dài theo tội mà B bị khởi tố. Vì không thể làm xấu đi tình trạng của bị can, bị cáo, vi phạm nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự. Nói cách khác, theo quan điểm này thì sau khi nhập vụ án thời hạn điều tra được tính chung nhưng thời hạn tạm giam đối với từng bị can vẫn phải tính riêng.

Theo chúng tôi, như trên đã nói khoản 1 Điều 117 BLTTHS là quy định tuỳ nghi, do đó không có trường hợp nào bắt buộc phải nhập vụ án. Việc nhập vụ án chỉ có mục đích là để làm đơn giản và thuận lợi hơn trong quá trình giải quyết vụ án. Nếu không ảnh hưởng đến việc giải quyết các vụ án thì có thể nhập các vụ án với nhau để tiến hành điều tra. Sau khi đã nhập vụ án, Cơ quan điều tra phải kết thúc điều tra trong thời hạn tạm giam của A và B để đảm bảo tính kịp thời, quyền và lợi ích hợp pháp của bị can.

II. Tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra

2.1. Tách vụ án hình sự

Tại Khoàn 2 điều 117 BLTTHS  quy định: Cơ quan điều tra chỉ được tách vụ án trong những trường hợp thật cần thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm và nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án. Cũng tương tự như trường hợp nhập vụ án đwocj nêu ở phần trê, trong thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn có những tranh cãi về điều khoản này.

Ví dụ 4: A, B và C là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định và nơi cư trú rõ ràng cùng tựhc hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã khởi tố cả ba đối tượng trên về cùng một tội danh, trong đó A, B bị tạm giam còn C thì bỏ trốn (đã có lệnh truy nã). Khi hết thời hạn tạm giam đối với A và B (bao gồm cả thời hạn đã gia hạn), thì thời hạn điều tra vẫn còn nhưng không xác định được C đang ở đâu. Do không thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác đối với A và B, Cơ quan điều tra đã kết thúc điều tra đề nghị truy tố A và B.

Có quan điểm cho rằng vụ án này cần tách vụ án đối với bị can C, để sau khi thời hạn điều tra đã hết mà vẫn không bắt được C thì cơ quan điều tra căn cứ Khoản 1 Điều 160 BLTTHS để ra quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với C. Bởi lẽ, trong trường hợp chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu thì Cơ quan điều tra chỉ tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra.

Quan điểm thứ hai cho rằng, không thể tách hành vi của C ra thành 1 vụ án riêng. Bởi vì tách như vậy sẽ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, vì thực tế A, B và C cùng thực hiện một hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm tổ chức hoặc thực hành. Theo quan điểm này thì Cơ quan điều tra có thể ra quyết định tạm đình chỉ  đối với C ngay khi kết luận điều tra với A, B vì thời hạn điều tra (không tính thời hạn gia hạn) đối với C đã hết.

Quan điểm ba thì cho rằng: Trong vụ án này, Cơ quan điều tra không cần ra quyết định tách vụ án cũng không cần ra quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với C. Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra và chuyển hồ sơ truy tố sang Viện kiểm sát để truy tố đối với A và B. Sau khi hết thời hạn truy tố, Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với C.

Theo chúng tôi, do không thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác biện pháp tạm giam đối với A và B, nên khi hết thời hạn tạm giam đối với A và B, vụ án trên cần được tách ra để đảm bảo việc truy tố đối với A và B. Đồng thời, sau khi hết thời hạn điều tra vụ án mà vẫn không xác định được C đang ở đâu thì Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đìng chỉ vụ án theo quy định tại Điều 160 BLTTHS.

2.2. Tách phần đân sự trong vụ án hình sự

Về nguyên tắc chung, theo quy định tại Điều 28 BLTTHS thì phần dân sự trong vụ án hình sự phải được giải quyết đồng thời trong bản án hình sự. Bởi lẽ, phần dân sự liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nguyên tắc trên mỗi nơi thực hiện một kiểu, tuỳ ý tách phần dân sự thành một vụ án khác để xử lý riêng.

Thực tiễn xét xử ở các Toà án nhân dân địa phương cho thấy, tòa các cấp được tách phần dân sự trong vụ án hình sự theo 4 trường hợp: chưa xác định được người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự; người bị hại và nguyên đơn dân sự chưa có yêu cầu; người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự có yêu cầu, nhưng không cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình; người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa và việc này thật sự gây trở ngại do việc giải quyết phần dân sự...

Theo quan điểm của các cơ quan tiến hành tố tụng này thì: nếu đương sự chưa có yêu cầu bồi thường hoặc chưa có ý kiến gì về phần dân sự đó, thì tòa phải tách ra để giải quyết riêng. Còn nếu đương sự thể hiện ý chí không đòi bồi thường thì tòa ghi nhận, bị hại không được bồi thường nữa. Tòa án chỉ thụ lý và giải quyết riêng phần dân sự được tách đó nếu đương sự có đơn khởi kiện. Phần dân sự được tách ra từ vụ án hình sự để giải quyết riêng thì thuần túy theo thủ tục tố tụng dân sự. Người có yêu cầu bồi thường về sức khỏe, tài sản sẽ phải nộp tạm ứng án phí.

Tuy nhiên, cũng có quan điểm rằng cần thiết phải xứ lý phần dân sự ngay trong vụ án hình sự mà không thể tách ra xử lý riêng bởi tính liên quan của chúng với nhau. Đặc biệt là trường hợp vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của toà án quân sự, do toà án quân sự không có thẩm quyền xét xử các vụ án dân sự độc lập nên việc tách phần dân sự trong vụ án hình sự để xét xử riêng là rất khó.

Như vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có hiệu lực thi hành gần 10 năm qua, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có văn bản liên ngành của các cơ quan tư pháp có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể về nội dung tách và nhập vụ án hình sự trong quá trình điều tra. Để thống nhất nhận thức, áp dụng pháp luật về nội dung này trên cả nước, cũng như việc áp dụng BLTTHS nói chung và Điều 117 BLTTHS nói riêng, đề nghị liên ngành tư pháp trung ương sớm có văn bản hướng dẫn để thống nhất áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi