Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam

TS. Phạm Mạnh Hùng - Trường ĐT, BDNV kiểm sát

Nguyên tắc của luật tố tụng hình sự được hiểu là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự. Thuật ngữ "suy đoán" bắt nguồn từ tiếng La tinh "praesumptino", được hiểu là coi vấn đề, hiện tượng nào đó là đúng đắn cho đến khi chưa có lý do bác bỏ vấn đề, hiện tượng đó.

Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc và Công ước quốc tế về quyền chính trị và dân sự của Liên hợp quốc năm 1966 đều có quy định: “Bất kỳ người bị buộc tội nào đều có quyền suy đoán là không phạm tội cho đến khi lỗi của người đó được xác định theo một trình tự do pháp luật quy định bằng phiên tòa xét xử công khai của Tòa án với sự bảo đảm đầy đủ khả năng bào chữa của người đó”. Pháp luật tố tụng hình sự nhiều nước trên thế giới đã thừa nhận nguyên tắc trên, nguyên tắc suy đoán vô tội,  như một trong những nguyên tắc của tố tụng hình sự của quốc gia mình.

Pháp luật nước ta tuy chưa sử dụng thuật ngữ “Nguyên tắc suy đoán vô tội” nhưng đã thừa nhận tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội như một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự.

 Nguyên tắc suy đoán vô tội thể hiện ở các nội dung sau:

1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án  có hiệu lực pháp luật.

Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi bất cứ tội phạm nào cũng phải được chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình chứng minh tội phạm được thực hiện từ khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của các cơ quan, tổ chức và được thực hiện thông qua các thủ tục khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành các hoạt động điều tra, kết thúc điều tra đề nghị truy tố, truy tố bằng bản cáo trạng và tiến hành xét xử, điều tra công khai tại phiên tòa. Nếu có căn cứ để kết tội thì Tòa án sẽ ra bản án kết tội. Trong trường hợp Bản án kết tội không bị kháng cáo, kháng nghị thì bản án đó có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Trong trường hợp bản án kết tội có kháng cáo  hoặc kháng nghị thì bản án đó chưa có hiệu lực pháp luật và vụ án bắt buộc phải được xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng xét xử tuyên án.

Một người chỉ bị coi là có tội khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Cần lưu ý thuật ngữ người “Bị coi là có tội” khác với thuật ngữ “Người phạm tội”. Trong pháp luật hình sự thuật ngữ  “Người phạm tội” dùng để chỉ người đã thực hiện hành vi được luật hình sự quy định là tội phạm, hành vi của người đó đã cấu thành tội phạm. Thuật ngữ “Người phạm tội” chỉ một thực tế khách quan là một người đã thực hiện tội phạm chứ không tùy thuộc vào nhận định chủ quan của các cơ quan áp dụng pháp luật. Các cơ quan áp dụng pháp luật có thể nhận định đúng thực tế khách quan, tức là nhận thức đúng người phạm tội, tiến hành khởi tố, truy tố và kết án người phạm tội, nhưng cũng có thể nhận định không đúng thực tế khách quan đó, dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội, tuyên bố một người phạm tội là người vô tội v.v…Với cách hiểu thuật ngữ “Người phạm tội” như vậy chúng ta mới có thể lý giải tinh thần các quy phạm khác có liên quan. Ví dụ, việc miễn trách nhiệm hình sự (Điều 25 BLHS) chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội khi có những điều kiện nhất định. Khi quyết định miễn trách nhiệm hình sự đối với một người cụ thể, các cơ quan có thẩm quyền đã phải chứng minh được người được miễn trách nhiệm hình sự là người phạm tội. Người phạm tội có thể không bị kết án bằng bản án kết tội của Tòa án nếu thời điểm phát hiện ra tội phạm đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc họ được miễn trách nhiệm hình sự. Trong những trường hợp đó, người phạm tội không bị coi là có tội. Trong trường hợp người phạm tội bị Tòa án kết tội bằng một bản án và bản án đó có hiệu lực pháp luật thì người phạm tội  là người “Bị coi là có tội”. Thuật ngữ “Người phạm tội” và “Người bị coi là có tội” là hai thuật ngữ khác nhau. Người phạm tội là người thực hiện một hành vi được luật hình sự quy định là tội phạm, còn người bị coi là có tội là người bị Tòa án kết tội bằng một bản án và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, người phạm tội có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự, không bị coi là có tội, còn người bị coi là có tội tức là người phạm tội đã phải chịu một hậu quả pháp lý trước Nhà nước về việc thực hiện hành vi phạm tội của mình, chịu sự lên án của Nhà nước mà Tòa án là người đại diện, thông qua việc áp dụng luật hình sự, kết tội người phạm tội.[1]

 

Vấn đề đặt ra là Điều 72 Hiến pháp và Điều 9 BLTTHS nước ta đều quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.” Theo chúng tôi, quy định này cần được xem xét lại. Bởi vì, một người bị coi là có tội thì có thể phải chịu hình phạt nếu bản án kết tội của Tòa án đối với người đó có quyết định hình phạt, nhưng một người bị coi là có tội cũng có thể không phải chịu hình phạt nếu bản án kết tội của Tòa án có tuyên miễn hình phạt đối với người đó. Như vậy, suy đoán vô tội chỉ bao hàm nội dung suy đoán một người không bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật chứ không cần phải có thêm việc suy đoán một người không phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Hình phạt là do Tòa án quyết định. Một người sẽ không phải chịu hình phạt nếu trong bản án kết tội của Tòa án đối với người đó tuyên miễn hình phạt chứ không phải là đối với người đó không có bản án kết tội. Nếu muốn khẳng định bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là cơ sở để Tòa án quyết định hình phạt 9điều này không thuộc nội dung suy đoán vô tội) thì tại Điều 72 của Hiến pháp và Điều 9 của BLTTHS cần được sửa đổi theo hứng: “Không ai có thể bị coi là có tội cũng như phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật [2] .

2. Người bị tình nghi, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình. Nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Tại Điều 10 BLTTHS quy định về nguyên tắc xác định sự thật của vụ án như sau: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”.

Theo chúng tôi, thực chất, quy định trên không thuộc nội dung nguyên tắc xác định sự thật của vụ án mà thuộc về nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội. Bởi vì, cùng với việc khẳng định một người không thể bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì cũng có nghĩa thừa nhận người bị buộc tội không có nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình. Để xác định một người là người phạm tội, trên cơ sở đó tiến hành truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người đó, các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) phải chứng minh được người đó là người thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm. Nếu không chứng minh được một người đã thực hiện tội phạm thì không thể kết tội người đó. Trên thực tế, có thể một người đã thực hiện tội phạm. Về khách quan, họ là người phạm tội, nhưng nếu không chứng minh được người đó đã thực hiện hành vi được luật hình sự coi là tội phạm, thì các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không thể truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người đó. Chứng minh tội phạm là một quá trình. Quá trình đó diễn ra ở cả giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử. Quyền và trách nhiệm chứng minh tội phạm không chỉ thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà còn thuộc về Tòa án.

Hiện nay, có ý kiến cho rằng trách nhiệm chứng minh tội phạm chỉ thuộc về Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, còn Tòa án với chức năng xét xử thì không có trách nhiệm chứng minh. Chúng tôi cho rằng quan điểm này không phù hợp. Đúng là Tòa án có chức năng xét xử, nhưng khác với các nước theo mô hình tố tụng tranh tụng, trong đó bên buộc tội và gỡ tội tranh tụng về những vấn đề liên quan để chứng minh hay bác bỏ tội phạm của phía bên kia, trong đó Tòa án không tham gia vào việc thẩm vấn cùng với bên buộc tội hay bên gỡ tội mà đứng trung gian như người trọng tài phân xử. Ở Việt Nam, mô hình tố tụng là mô hình thẩm vấn. Tại phiên tòa, Tòa án tham gia vào việc thẩm vấn bị cáo và những người tham gia tố tụng, áp dụng các biện pháp do pháp luật quy định để chứng minh làm rõ bị cáo phạm tội hay không phạm tội; nếu phạm tội thì phạm tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự. Trên cơ sở đó mới ra phán quyết, kết tội, quyết định hình phạt đối với họ. Như vậy, theo pháp luật tố tụng hình sự nước ta, Tòa án cũng có tham gia vào việc chứng minh tội phạm.

Người bị tình nghi (bị bắt giữ trước khi khởi tố bị can), bị can, bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình. Điều này có nghĩa, người bị bắt giữ, bị can, bị cáo có quyền đưa ra các chứng cứ để chứng minh mình không phạm tội. Ví dụ, chứng minh mình vô tội bằng  việc đưa ra chứng cứ về thời gian xảy ra vụ việc mình không ở đó và không thể thực hiện hành vi phạm tội hoặc đưa ra chứng cứ chứng minh có người khác, chứ không phải mình, đã thực hiện tội phạm… Song, vì lý do nào đó, người bị bắt giữ, bị can, bị cáo cũng có thể từ chối chứng minh sự vô tội của mình thì các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không thể coi họ là người phạm tội.

Hiện nay, pháp luật tố tụng hình sự nước ta không quy định cụ thể nhưng đã mặc nhiên thừa nhận quyền im lặng của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Bởi lẽ, theo các quy định của pháp luật hình sự, việc người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo không khai nhận hành vi phạm tội của mình thì cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội từ chối khai báo theo quy định tại Điều 308 BLHS và cũng không bị coi là có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 BLHS. Trong trường hợp bị can, bị cáo thành khẩn khai báo thì lại được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thậm chí trong giai đoạn điều tra họ không khai báo hoặc khai báo gian dối nhưng tại phiên tòa lại thành khẩn khai báo thì họ vẫn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Trường hợp bị cáo khai báo gian dối thì họ cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội khai báo gian dối theo quy định tại Điều 307 BLHS.

Mặc dù với những quy định trên, có thể thấy rằng pháp luật tố tụng hình sự nước ta đã thừa nhận quyền im lặng của người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Song, một trong những bảo đảm để bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự là các quy định của pháp luật tố tụng càng đơn giản, dễ hiểu và được thông tin đến người dân đầy đủ bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu để tránh sự lạm dụng của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Bởi vậy, chúng tôi cho rằng BLTTHS cũng cần được sửa đổi theo hướng quy định cụ thể về quyền im lặng của người bị bắt giữ, bị can, bị cáo và nghĩa vụ của người có thẩm quyền bắt giữ, khởi tố bị can trong việc giải thích cho người bị bắt giữ, bị khởi tố bị can về quyền im lặng của họ.   

3. Mọi nghi ngờ trong quá trình chứng minh tội phạm của người bị tình nghi, bị can, bị cáo nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định thì phải được giải thích có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo.

Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi sự buộc tội phải dựa trên những chứng cứ xác thực không còn nghi ngờ. Mọi sự nghi ngờ đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo đều phải được kiểm tra, chứng minh làm rõ. Nếu không chứng minh làm rõ được sự nghi ngờ thì sự nghi ngờ đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo phải được giải thích để áp dụng pháp luật theo hướng có lợi cho họ. Ví dụ, nghi ngờ một người là người phạm tội nhưng không chứng minh được họ phạm tội thì phải coi họ là người vô tội; nghi ngờ một người phạm tội nặng nhưng không chứng minh được họ phạm tội nặng mà chỉ có cơ sở xác định họ hành vi của họ thỏa mãn dấu hiệu của cấu thành tội phạm nhẹ hơn thì phải coi là họ phạm tội nhẹ hơn…

Mục đích của tố tụng hình sự là tội phạm phải được phát hiện và xử lý theo quy định của pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tọi phạm và người phạm tội. Tuy nhiên, trong thực tế, có thể xảy ra tình huống các chứng cứ buộc tội yếu, cả hai khả năng oan và lọt cùng song song tồn tại mặc dù các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết mà pháp luật quy định. Trong trường hợp này, nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi phải thực hiện theo hướng “Thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan người vô tội”. 

Tóm lại, với những phân tích trên, chúng tôi đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 9 BLTTHS hiện hành theo hướng sửa tiêu đề của nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” thành nguyên tắc “Suy đoán vô tội” với nội dung như sau:

1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án  có hiệu lực pháp luật.

2. Người bị tình nghi,bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình. Nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng.

3. Mọi nghi ngờ trong quá trình chứng minh tội phạm của người bị tình nghi, bị can, bị cáo nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định thì phải được giải thích có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo”.


[1] - Xem: Phạm Mạnh Hùng, Về phạm tội lần đầu, Tạp chí Toà án nhân dân, số 11, năm 1991, tr.17-19.

[2] - Xem: Phạm Mạnh Hùng, Khái niệm trách nhiệm hình sự, Tạp chí Luật học, Số 1, năm 2002,  tr.1-7.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi