Về việc trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo bị xử phạt tù

Thạc sĩ Nguyễn Khắc Quang - Tòa án quân sự Quân khu 3

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì có nhiều loại thời hạn khác nhau. Theo đó, có thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam; thời hạn khởi tố vụ án; thời hạn điều tra vụ án; thời hạn quyết định truy tố; thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm; thời hạn kháng cáo, kháng nghị; thời hạn xét xử phúc thẩm; thời hạn giao, gửi bản án và quyết định của Toà án; thời hạn đưa ra thi hành  bản án và quyết định của Toà án... và cách tính thời hạn tương ứng với các loại thời hạn. Việc quy định các loại thời hạn này nhằm phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành  bản án hình sự. Do quy định này khá rộng, nên trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến thời hạn tạm giữ, tạm giam và việc tính thời hạn này đối với bị cáo bị xử phạt tù.

Pháp luật hình sự không đưa ra khái niệm về thời hạn. Tuy nhiên, theo Từ điển Luật học thì: Thời hạn là khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Cách tính thời hạn được xác định theo dương lịch. Cụ thể: Thời điểm bắt đầu thời hạn được xác định:

1) Khi thời hạn được tính bằng giờ thì thời hạn được bắt đầu kể từ thời điểm đã xác định;  2) Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì thời điểm bắt đầu thời hạn được tính kể từ ngày tiếp theo của ngày được xác định; 3) Khi thời hạn được tính bằng sự kiện thì thời hạn tính từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện.

Thời điểm kết thúc thời hạn được xác định:

1) Khi thời hạn được tính bằng ngày thì thời điểm kết thúc thời hạn là ngày cuối cùng của thời hạn; 2) Khi thời hạn được xác định bằng tuần, tháng, năm thì thời điểm kết thúc thời hạn là thời điểm kết thúc tuần, tháng, năm cuối cùng của thời hạn; 3) Khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày chủ nhật hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó. Thời điểm kết thúc ngày của thời hạn là 24 giờ của ngày đó.

Theo khái niệm trên thì thời hạn được xác định bằng giờ, ngày, tuần, tháng, năm và được tính theo dương lịch (theo hệ mặt trời). Tại Điều 96 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cách tính thời hạn như sau:

“1. Thời hạn mà Bộ luật này quy định được tính theo giờ, ngày và tháng. Đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau.

Khi tính thời hạn theo ngày thì thời hạn sẽ hết vào lúc 24 giờ ngày cuối cùng của thời hạn. Khi tính thời hạn theo tháng thì thời hạn hết vào ngày trùng của tháng sau; nếu tháng đó không có ngày trùng, thì thời hạn hết vào ngày cuối cùng của tháng đó; nếu thời hạn hết vào ngày nghỉ thì ngày làm việc đầu tiên tiếp theo được tính là ngày cuối cùng của thời hạn.

Khi tính thời hạn tạm giữ, tạm giam thì thời hạn hết vào ngày kết thúc thời hạn được ghi trong lệnh. Nếu thời hạn được tính bằng tháng thì một tháng được tính là 30 ngày.

2…”.

Cụ thể hơn, tại mục 6 của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT ngày 07/9/2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định: Khi tính thời hạn tạm giữ, tạm giam, nếu tính bằng thì một tháng tháng phải tính theo tháng đủ là 30 ngày. Không tính ngày theo tháng thừa hoặc tháng thiếu (28 hoặc 31 ngày).

Theo quy định tại Điều 119 và Điều 120 của Bộ luật T tụng hình sự thì thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra được tính theo tháng. Theo quy định tại Điều 176, Điều 242 và Điều 243 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05//20Ọ4 hướng dẫn thi hành  một số quy định trong phần thứ tư “xét xử phúc thẩm” của Bộ luật T tụng hình sự và Nghị qụyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 về việc hướng đẫn thi hành  mt số quy định trong phần thứ ba “xét xử sơ thm” của Bộ luât Tố tụng hình sự năm 2003 của Hội đng Thm phán Toà án nhân dân tối cao thì thời hn tạm giam để xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thm được tính theo tháng và ngày.

Mặc dù Điều 96 của Bộ luật T tụng hình sự không quy định thời hạn theo năm. Tuy nhiên, Điều 278 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy đnh thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm tiến hành trong thời hạn một năm...” và Điu 295 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thm thời hạn kháng nghị không quá một năm...”. Như vậy, một số điều luật khác của Bộ luật Tố tụng hình sự lại có quy định thời hạn theo năm, song không quy định cụ thể cách tính thời hạn theo năm như thế nào.

Theo các quy định trên, các loại thời hạn được quy định tại các Chương khác nhau trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc quy định thời hạn này nhm phục vụ cho hoạt động điu tra, truy t, xét x và thi hành  bản án hình sự của các chủ thể tiến hành tố tụng. Thời hạn được tính theo giờ, ngày và tháng. Trong đó, thời hạn tạm giữ, tạm giam được tính theo giờ, ngày và tháng. Nếu thời hạn được tính bng tháng, thì một tháng được tính đủ là 30 ngày. Mặc dù pháp luật Tố tụng hình sự không quy định việc tính thời hạn tạm giam theo năm, song theo logic và thực tiễn áp dụng pháp luật, thì khi truy tố, xét xử đi với bị cáo bị tạm giam mà thời gian này lớn hơn 12 tháng, thì 12 tháng bị tạm giam được tính là một năm. Theo đó, một năm này có 360 ngày.

Bộ luật Hình sự quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án hình sự. Nghĩa là, nguời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong thời hạn (khoảng thời gian) nhất định. Hết thời hạn đó, họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa (trừ các tội quy định tại Chương XI, XXIV của Bộ luật Hình sự mới không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự). Tương tự, người bị kết án phải chp hành bản án do Toà án tuyên trong thời hạn do Bộ luật Hình sự quy định. Hết thời hạn đó, họ không phải chp hành bản án đó nữa (trừ các tội quy định tại Chương XI, XXIV của Bộ luật Hình sự mới không áp dụng thời hiệu thi hành bản án hình sự). Những quy định trên có nghĩa là, việc truy cứu trách nhiệm hình sự và thi hành bản án đối với người phạm tội phải được thực hiện trong thời hạn do pháp luật hình sự quy định. Theo đó, thời hạn được tính bng năm.

Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự quy định chế định hình phạt gồm nhiều loại hình phạt vi mức độ nghiêm khắc khác nhau áp dng tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Trong đó, một số hình phạt chính và hình phạt bổ sung như: Ci tạo không giam giữ; hình phạt tù có thời hạn; cấm đảm nhiệm chc vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế... đều quy định thời hạn của hình phạt. Việc quy định thời hạn trong trường hợp này đ xác định phạm vi áp dụng đồng thời nhằm đạt mục đích của hình phạt đó.

Như vậy, Bộ luật Hình sự có quy định thời hạn và thời hạn được xác định bằng tháng, năm và đưc tính theo dưong lịch. Theo đó, một năm được xác định bằng 12 tháng. Một năm có th có 365 hoặc 366 ngày (năm nhuận). Trong đó, tháng đủ có 30 ngày; tháng thừa có 31 ngày; tháng thiếu có 28 hoặc 29 ngày. Thực tin khi xác định trách nhiệm hình sự với bị cáo, Toà án cũng dựa vào căn cứ trên. Ví dụ: Bị cáo A bị Toà án xử phạt 10 năm tù. Khi chấp hành hình phạt thời hạn 10 năm này cũng được tính theo năm đương lịch.

Theo quy định tại Điều 33 của Bộ luật Hình sự thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Theo quy định của Mục 3 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đng Thẩm phán Tòa án nhân dân ti caong dẫn áp dụng một s quy định trong phn chung của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần lưu ý trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời hạn chấp hành hình phạt tù cho người bị kết án.

Việc trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời hạn chấp hành hình phạt tù được thc hiện như sau:

a. Trong trường hợp người phạm tội bị xử phạt tù mà thời gian tạm giữ, thời gian tạm giam đối với họ liên tục với nhau và người phạm tội vẫn tiếp tục bị tạm giam cho đến khi xét xử, thì trong bản án cn ghi rõ là “thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là..” (ghi rõ ngày... tháng... năm...).

b. Trong trường hợp ngưi phạm tội bị xử phạt tù mà trước đó bị tạm giữ, sau đó được trả tự do, nhưng sau một thời gian lại bị bt tạm giam và tiếp tục bị tạm giam cho đến khi xét xử, thì trong bản án cn ghi rõ là: “Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ghi rõ ngày... tháng... năm...) và được trừ thời gian tạm giữ là...” (ghi rõ thời gian bị tạm giữ).

c. Trong truờng hợp người phạm tội bị xử phạt tù mà trước đó bị tạm giữ, sau đó được trả tự do và được tại ngoại cho đến khi xét xử, thì trong bản án cần ghi rõ là: ‘Thời hạn chp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ là...” (ghi rõ thời gian bị tạm giữ).

d. Trong trường hợp người phạm tội bị xử phạt tù mà trước đó bị tạm giữ, tạm giam (thời gian tạm giữ, thời gian tạm giam có th liên tục với nhau, có th không liên tục với nhau), nhưng khi xét xử đang được tại ngoại, thì trong bản án cần ghi rõ là: “Thời hn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ, thời gian tạm giam là...” (cộng thời gian tạm giữ, thời gian tạm giam lại với nhau).

Khi tổng hợp hình phạt của nhiều bản án cũng như khi buộc phải chp hành hình phạt tù nhưng được hưởng án treo, ngoài việc phải thực hiện đúng các quy định tại Điều 51, Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999, cần chú ý là bị cáo có bị tạm giữ, tạm giam trong những lần phạm tội và bị xét xử trước đó hay không; nếu có bị tạm giữ, tạm giam thì đã được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù hay chưa; nếu trước đó chưa được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù thì phải trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó vào thời hạn chấp hành hình phạt tù cho họ.

Vi hưng dẫn này, theo các điểm b, c, d thì thời giạn tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Song, theo điểm b thì ch trừ thời gian tạm giữ trước đó, còn không trừ thời gian tạm giam từ khi bị bắt tạm giam li cho đến khi xét xử sơ thẩm vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Còn theo điểm a thì trong trường hợp người phạm tội bị xử phạt tù mà thời gian tạm giữ, thời gian tạm giam đối với họ liên tục vi nhau và người phạm tội vẫn tiếp tục bị tạm giam cho đến khi xét xử, thì thời gian tạm giữ, thời gian tạm giam không trừ trc tiếp vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Chúng tôi cho rng, do việc quy định và tính thời hạn theo tháng trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự có khác nhau, cho nên có độ chênh giữa hai loại thời hạn. Thời hạn theo Bộ luật Hình sự được tính theo dương lịch một năm có 365 hoặc 366 ngày. Còn thời hạn tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nếu được tính bằng tháng, thì một tháng được tính là 30 ngày và một năm có 360 ngày. Như vậy, độ chênh giữa hai loại thời hạn là 05 hoặc 06 ngày. Bên cạnh đó, việc tính và trừ thời gian tạm giữ, tạm giam cho bị cáo còn liên quan đến việc tính thời hạn thi hành bản án hình sự, tính thời gian thử thách của án treo; chuyển đổi hình phạt khác loại; tính thời hạn trong việc xét giảm án; xét đặc xá cho người bị kết án... Vì vậy, với trường hợp chúng tôi nêu trên, thời gian tạm giữ, tạm giam không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù thì sẽ không công băng giữa đối tượng bị tạm giam liên tục và không liên tục.

Ví dụ 1: Bị can B bị bt tạm giam liên tục để điều tra, truy tố, xét xử từ ngày 08/3/2007. Đến ngày 05/3/2008, Toà án mở phiên toà xét xử sơ thẩm với bị cáo. B cáo bị Toà án xử phạt 04 năm tù. Do bị tạm giam liên tục, nên thời hạn chp hành hình phạt tù của bị cáo B tính từ ngày bị tạm giam là (ngày 08/3/2007). Như vậy về lý thuyết, đến ngày 08/3/2011, bị cáo B mi thi hành xong bản án. Tương tự như ví dụ trên, nếu bị cáo B được trừ thời gian tạm giam là 01 năm (từ ngày 08/3/2007 đến ngày 05/3/2008 với thời gian là 360 ngày bng 12 tháng) thì đến ngày 05/3/2011 bị cáo B đã thi hành xong bản án.

Ví dụ 2: Bị can A bị bắt tạm giam liên tục để điều tra, truy tố, xét xử từ ngày 28/12/2009. Đến ngày 23/12/2010, Toà án mở phiên toà xét xử sơ thẩm với bị cáo. Bị cáo bị Toà án xử phạt 01 năm tù và tuyên trả tự do cho bị cáo. Về việc tính thời hạn tạm giam cho bị cáo có các ý kiến khác nhau.

Ý kiến thứ nhất, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự phải trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà vì thời hạn phạt tù bng thời hạn tạm giữ, tạm giam. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/12/2009 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 23/12/2010 là 360 ngày (quy đổi bằng 12 tháng tù). Theo đó, thời hạn phạt tù bằng thời hạn tạm giam.

Ý kiến thứ hai, bị cáo bị bt tạm giam ngày 28/12/2009. Theo quy định của Bộ luật Hình sự thì thời hạn phạt tù được tính theo dương lịch cho nên 01 năm tù phải tới ngày 28/12/2010 mới hết hạn và bị cáo mi được trả tự do.

Chúng tôi cho rng, do việc quy định và tính thời hạn theo tháng trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự có khác nhau. Cách tính khác nhau sẽ đi tới kết quả khác nhau. Mặt khác, thực tế có thể xảy ra việc thời gian tạm giữ, tạm giam trùng vào thời gian chp hành hình phạt tù nếu bị cáo bị tạm giữ, tạm giam liên tục hoặc thời gian tm giữ, tạm giam không trùng vào thời gian chp hành hình phạt tù nếu bị cáo bị tạm giữ, tạm giam không liên tục. Vì vậy, khi bị can, bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời hạn này phải được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù cho họ.

Theo chúng tôi, để thc hiện đúng quy định của Bộ luật Hình sự, bảo đảm quyn lợi của bị can, bị cáo thì: Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chp hành hình phạt tù cho bị cáo, không phân biệt thời gian tạm giữ, thời gian tạm giam liên tục hoặc không liên tục với nhau.

Trong thực tiễn, sau phiên toà sơ thẩm hoặc phiên toà phúc thẩm thì Toà án sẽ ra quyết định tạm giam đối với bị cáo đang bị tạm giam để phục vụ cho hoạt động xét xử phúc thẩm hoặc thi hành án hình sự. Song, đ bảo đm sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, chúng tôi đ xut, thời gian tạm giữ, tạm giam tính từ ngày bị can, bị cáo bị bắt tạm giam đến ngày xét xử sơ thm; trường hợp có kháng cáo về phần hình sự thì thời gian này đưc tính đến ngày xét xử phúc thẩm. Thời hạn chấp hành hình phạt tù vn tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

Theo chúng tôi, Bộ luật Hình sự quy định và sử dụng thời hạn với nhiu mục đích khác nhau. Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc nhận thức và thống nhất áp dụng thì Bộ luật Hình sự nên quy định thời hạn và thời hạn được tính theo dương lịch. Theo đó, điều luật sẽ là:

Điều (...) Thời hạn theo Bộ luật này

Thời hạn mà Bộ luật này quy định được tính theo ngày, tháng và năm. Việc tính thời hạn được xác định theo dương lịch.

Bên cnh đó, Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng: Thống nhất quy định năm theo tháng, để thuận lợi trong việc áp dụng.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi