Một số kinh nghiệm điều tra các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp

Nguyễn Văn Hải – Phó Cục trưởng Cục Điều tra VKSNDTC

Theo quy định của pháp luật, các Cơ quan điều tra ở nuớc ta gồm: Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định một số cơ quan khác như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng Cảnh sát biển... được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

So với Cơ quan điều tra thuộc Công an nhân dân và Quân đội nhân dân, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) có những đc điểm sau: Là Cơ quan điều tra ch được tổ chức ở cấp Trung ưong, không có ở địa phương, có trách nhiệm điều tra tất cả các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Ngành, bất kể vụ án đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện hay cấp tnh; không có sự phối hợp, hỗ trợ của các đơn vị trinh sát, không có trại tạm giam, bộ phận kỹ thuật hình sự và các đơn vị bổ trợ tư pháp trong Ngành; đối tượng điều tra là các cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp, đây là các chủ thể đặc biệt, phạm tội trong lĩnh vực hoạt động tư pháp, nên có kinh nghiệm đối phó, có sự tác động, bênh vực từ chính các cơ quan tư pháp; mặc dù hoạt động điều tra trong ngành Kiểm sát có từ khi ngành Kiểm sát được thành lập (năm 1960), nhưng trong các Trường đào tạo nghiệp vụ của Ngành chưa chú trọng đến việc giảng dạy chuyên sâu về nghiệp vụ điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Ngành. Các Trường đào tạo của ngành Công an cũng không đi sâu nghiên cứu, giảng dạy về phương pháp, kỹ năng, chiến thuật điều tra nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp do cán bộ tư pháp thực hiện, vì không thuộc thẩm quyền điều tra của họ.

Các đặc điểm trên cũng chính là những khó khăn, tr ngại mà Cơ quan điều tra và mỗi Điều tra viên trong ngành Kiểm sát phải cố gắng vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ; đồng thời, phải có ý thức tích luỹ kinh nghiệm, trao đổi với nhau để tự học hỏi, nâng cao trình độ nghiệp vụ thông qua công tác thực tế. Qua phân tích những thành công đã đạt được, cũng như những khó khăn đã gặp phải, chúng tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm trong việc điều tra nhóm tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền điều tra của ngành Kiểm sát để các đồng nghiệp, độc giả của Tạp chí Kiểm sát cùng tham khảo, vận dụng trong công tác.

1. Cần sự đồng thuận từ phía cơ quan tư pháp chủ quản của cán bộ có hành vi phạm tội về việc cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự ngưi phạm tội

Các cơ quan tư pháp ít nhiều đều có quan hệ phối hợp, chế ước lẫn nhau trong hoạt động tư pháp nói chung, trong đó có hoạt động điều tra. Nếu không có sự đng thuận với cơ quan tư pháp thì họ có thể tác động, gây trở ngại đến hoạt động điều tra, xử lý vụ án. Vì nếu có cán bộ trong cơ quan phạm tội, sẽ ảnh hưởng xấu đến uy tín, thành tích của cơ quan tư pháp chủ quản, đến trách nhiệm của người lãnh đạo cơ quan, bởi vậy, cơ quan tư pháp dễ này sinh tâm lý muốn “gói kín” sự kiện phạm tội, đ xử lý nội bộ. Người phạm tội cũng mun dựa vào cơ quan để lẩn tránh trách nhiệm, đi phó với Cơ quan điều tra. Do đó, cơ quan tư pháp chủ quản của đối tượng phạm tội thường không tích cực phối hợp với Cơ quan điều tra, thậm chí họ còn gây ra các trở ngại cho hoạt động điều tra như: Không cho cán bộ có liên quan làm việc với Điều tra viên; không cung cấp tài liệu cho Cơ quan điều tra; không phối hợp thực hiện một sổ hoạt động điều tra cần có sự tham gia của họ... Có trường hợp, cơ quan tư pháp chủ quản của đối tượng phạm tội còn phản ứng đến các cơ quan cấp trên làm phức tạp hoá vấn đề, tạo ra những thông tin, dư luận trái chiều trong công luận. Từ chỗ chỉ là quan hệ tố tụng giữa Cơ quan điều tra với đối tượng phạm tội, dễ trở thành vấn đề căng thăng giữa hai cơ quan, đơn vị. Khi đó, việc điu tra, xử lý vụ án sẽ gặp nhiều khó khăn, không đạt hiệu quả cao trong công tác giáo dục, phòng nga chung. Bởi vậy, Cơ quan điều tra, Điều tra viên thụ lý vụ án phải c gng tạo ra sự đồng thuận với cơ quan tư pháp ch quản của người phạm tội bằng việc:

-           Thận trọng khi tiến hành các hoạt động điều tra, các bước tiến hành thủ tục tố tụng; luôn thấm nhuần phương châm “Đánh chuột nhưng không làm vỡ bình quý” để giảm thiểu những tác động xấu đến uy tín, hình ảnh của cơ quan tư pháp đó.

-   Khi đã thu thập được đy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm, cần thuyết phục cơ quan chủ quản của người phạm tội: Nếu không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội thì uy tín của cơ quan, đơn vị còn bị xấu đi nhiều hơn. Không nên khởi tố vụ án, khởi tố bị can khi chứng cứ chưa thuyết phục, vì dễ gây dư luận không tốt về mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và cơ quan chủ quản của người phạm tội.

-  Điều tra viên phải khiêm tốn, đúng mực, không dọa dẫm, kiêu căng khi làm việc, tiếp xúc với người tham gia tố tụng thuộc cơ quan tư pháp phải có thái độ tôn trọng, lắng nghe các ý kiến của họ. Đ nghị nào của họ đúng quy định của pháp luật thì đáp ứng, nếu trái pháp luật thì giải thích cho họ và kiên quyết từ chối.

- Tranh thủ sức ép của công luận từ các phương tiện truyền thông đại chúng đưa tin về vụ việc vi phạm pháp luật của cán bộ tư pháp, để cơ quan chủ quản của cán bộ vi phạm phải đồng tình với việc truy cứu trách nhiệm hình sự của Cơ quan điều tra. Nhưng, Cơ quan điều tra và Điều tra viên không được phao tin, kích động công luận, vì làm như vậy sẽ phản tác dụng. Tạo được sự đồng thuận của cơ quan tư pháp chủ quản của ngưi phạm tội là một việc quan trọng trong công tác điều tra. Tuy nhiên, cũng cn tránh khuynh hướng lạm dụng việc này để thủ tiêu đấu tranh, bỏ lọt tội phạm.

2. Cần phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát nhân dân địa phương nơi xảy ra tội phạm trong việc phát hiện, xác minh, điều tra, xử lý tội phạm

Trong điều kiện Cơ quan điều tra VKSNDTC không có cơ quan đại diện tại địa phương, bộ máy tổ chức biên chế mỏng, lại phải tiến hành điều tra ở xa trụ sở cơ quan, nên rất cần sự phối hợp, hỗ trợ của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) địa phương, nơi xảy ra tội phạm. Thông qua công tác kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND địa phương nắm được nhiều thông tin liên quan đến tội phạm, nắm được thái độ, quan điểm của cơ quan tư pháp chủ quản của người phạm tội. Do vậy, VKSND địa phương có thể giúp Cơ quan điều tra đánh giá, định hướng và có biện pháp hữu hiệu để thu thập tài liệu, chứng c xử lý các mối quan hệ phức tạp phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án. Viện kiểm sát nhân dân địa phương nơi xảy ra tội phạm cũng chính là đơn vị sẽ thực hành quyền công tố đối với vụ án trong giai đoạn truy tố, xét xử. Do vậy, sự phối hợp chặt chẽ giữa Cơ quan điều tra VKSNDTC với VKSND địa phương nơi xảy ra tội phạm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện, thu thập thông tin, xác minh, điều tra và xử lý vụ án. Mặt khác, hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra VKSNDTC tại địa phương cũng góp phần giúp VKSND địa phương hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN trong phạm vi địa bàn quản lý, nâng cao vị thế của VKSND trong khối các cơ quan tư pháp.

Trong mối quan hệ phối hợp này, Cơ quan điều tra VKSNDTC phải giữ vai trò chủ động, tích cực; đồng thời, phải quan tâm đến việc góp phần bảo vệ, nâng cao uy tín của VKSND địa phương khi điều tra, xử lý vụ án. Tuy nhiên, cũng cần cảnh giác việc đối tượng phạm tội thông qua cán bộ của VKSND địa phương để tác động tiêu cực đến Điều tra viên của Cơ quan điều tra VKSNDTC.

3. Nghiên cứu thật kỹ hồ sơ vụ việc tư pháp đã phát sinh tội phạm để phát hiện các dấu hiệu không bình thường, các vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc

Khách thể chính của tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp là hoạt động bình thường của các cơ quan tư pháp. Khi thực hiện hành vi phạm tội, đối tượng phạm tội thường vi phạm về trình tự, th tục giải quyết vụ việc mà họ thụ lý để đạt được mục đích phạm tội, do vậy hoạt động này sẽ để lại dấu vết trên các tài liệu, biên bản giải quyết vụ việc. Hồ sơ vụ việc tư pháp là “hiện trường” xảy ra tội phạm, nên cần phải nghiên cứu cẩn thận, tỉ mỉ để phát hiện các dấu hiệu, tình tiết bất bình thường trong quá trình giải quyết vụ việc để đấu tranh với đối tượng phạm tội, làm rõ mục đích của hành vi đó.

Việc đầu tiên Điều tra viên cần tiến hành khi bt đầu điều tra, xác minh là thu thập toàn bộ hồ sơ vụ việc đã phát sinh tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp; phải lập biên bản, thống kê chi tiết các tài liệu có trong hồ sơ; yêu cầu người cung cấp xác định rõ đã cung cấp tất cả hồ sơ tài liệu có liên quan đến vụ việc, để tránh việc hp thức hoá vi phạm. Phải nghiên cứu kỹ hồ sơ trước khi đấu tranh với đối tượng vi phạm. Sau khi hỏi cung, lấy lời khai phải đối chiếu li giải trình của họ với hồ sơ vụ việc xem đã phù hợp chưa để kiểm tra tính khách quan của lời khai, vạch ra các biện pháp phát hiện, thu thập và củng cố chứng cứ.

4. Chú trọng các biện pháp chng phản cung, thay đổi lời khai trong quá trinh điều tra vụ án

Khi hỏi cung bị can, lấy li khai người tham gia tố tụng, khi thấy họ khai nhận những tình tiết, chứng cứ để buộc tội, Điều tra viên dễ có thái độ hài lòng, thoả mãn với lời khai nhận đó, không có hoặc xem nhẹ những biện pháp phòng nga việc phản cung của bị can, việc thay đổi lời khai của người tham gia tố tụng (thường xảy ra sau khi bị can được tại ngoại, hoặc sau khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra, có kết luận điều tra, và khi xét xử tại Toà án với sự hỗ trợ, tư vấn của luật sư bào chữa). Một số vụ án bị rơi vào tình thế “bế tắc”, không khắc phục được khi bị can, người tham gia tố tụng đồng loạt phản cung, thay đi li khai, phủ định kết luận điều tra. Để hạn chế hậu quà của việc bị can phản cung, việc thay đi li khai của người tham gia tổ tụng, Điều tra viên cần lưu ý một số biện pháp sau:

-  Khi tiến hành hỏi cung bị can, lấy lời khai của người tham gia tố tụng cần chấp hành nghiêm chinh các quy định của pháp luật, hạn chế tối đa các sai sót để bị can, người tham gia tố tụng có thể dựa vào đó để làm căn cứ cho là đã bị Điều tra viên bức cung, ép cung, ghi không đúng lời khai rồi ép ký biên bản. Nếu có điều kiện, cần phải ghi âm, ghi hình các buổi hỏi cung, lấy li khai quan trọng.

Sau khi bị can khai nhận tội trong bản hỏi cung, cần để bị can viết bàn tự khai, hạn chế sự can thiệp của Điều tra viên vào lối hành văn của bị can. Có một số trường hợp thấy bị can có văn hoá thấp, viết câu lủng củng, Điều tra viên đã hướng dẫn cách viết cho mạch lạc hơn. Khi ra Toà, bị can phản cung, nói rằng đó là do Điều tra viên đọc cho chép lại, ép ký, chứ không phải bị can tự khai nhận vì trình độ văn hoá của họ thp, không thể viết hay như vậy.

-  Nếu có nhiều Điều tra viên cùng điều tra vụ án, cn thay phiên nhau hỏi cung, lấy lời khai để tăng tính khách quan. Đề nghị Kiểm sát viên tham gia hi cung hoặc trực tiếp hi cung để tránh trường hợp bị can vu cáo đã bị nhục hình, bức cung... mà nhận tội.

-  Khi sử dụng chứng cứ để đấu tranh với bị can, không được sử dụng hết các chúng cứ có trong tay. Nếu có 10 chúng cứ thì chỉ nên sử dụng 5 chứng cứ để đấu tranh. Các chứng cứ còn lại dùng để kiểm tra bị can khai nhận tội có đúng sự thật không. Mặt khác, cũng tránh trường hợp sau này bị can phản cung, cho là đã khai nhận tội theo sự mớm cung của Điều tra viên.

-  Hỏi kỹ, ghi đầy đủ, chi tiết lời khai của bị can, người tham gia tố tụng về các tình tiết của hành vi phạm tội, nhất là những chi tiết mà nếu không phải là do họ nói ra thì Điều tra viên không thể biết được.

-   Củng cố vũng chắc các chứng cứ mà bị can, người tham gia tố tụng đã khai, loại bỏ các mâu thuẫn, hạn chế các khoảng trống chưa được làm rõ trong bức tranh toàn cảnh về tội phạm. Sự đầy đủ, phù hợp của một tập hợp, cả chứng cứ trực tiếp, chứng cứ gián tiêp, chứng cứ gốc, chứng cứ sao lại... phản ánh bức tranh toàn cảnh về tội phạm, chính là biện pháp tốt nhất để vô hiệu quá việc phản cung của bị can, thay đổi lời khai của người tham gia tố tụng.

5. Khi hỏi cung bị can, lấy lời khai của người tham gia t tụng cần chủ trọng thuyết phục, khơi gợi tính tự trọng, tránh mạt sát, đe dọa, thách thức họ, vì làm như vậy s đẩy họ đến chỗ có thái độ ngoan cố, chống đối đến cùng

Cán bộ tư pháp là người hiểu biết pháp luật, hiểu rõ trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, biết rõ những quyền mà Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cho họ. Trước khi phạm tội, họ vốn là cán bộ, có thể là đảng viên, có chức vụ quản lý, đã từng có quá khứ vinh quang, đáng tự hào và họ khác với kẻ phạm tội ngoài xã hội. Do vậy, Điều tra viên cần khơi gợi lòng tự trọng còn lại trong họ, động viên họ là người nhất thời sa ngã, gặp tai nạn nghề nghiệp, cần trung thực khai báo để hưởng khoan hồng của pháp luật. Trái lại, nếu xúc phạm họ, coi họ giống như đối tượng lưu manh, côn đồ, phạm tội chuyên nghiệp sẽ đẩy họ tới chỗ có thái độ ngoan cố, lì lợm, chống đối đến cùng.

6. Việc hỏi cung, lấy lời khai, trước tiên phải làm rõ nguyên tc, thủ tục, lề lối làm việc chung để giải quyết vụ việc tư pháp mà đối tượng phải thực hiện; yêu cầu đối tượng khai rõ, tự đánh giá về khả năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình trước, sau đó mi hỏi về việc vi phạm cụ thể, đấu tranh với họ tại sao lại làm không đúng quy định. Có như vậy mới làm rõ lỗi của họ là cố ý hay vô ý. Nếu Điều tra viên hỏi vi phạm cụ thể trưc, khi biết rõ ý đồ buộc tội của Điều tra viên, họ sẽ nhận là sai, nhưng do hạn chế về trình độ, năng lực, không phải do tiêu cục.

7. Nếu bị can bị tạm giam, có thể phối hợp với trại tạm giam sử dụng cơ s trại tạm giam để nắm bắt diễn biến tư tưởng của bị can, giả sơ h, tạo điều kiện cho bị can viết thư thông cung để thu giữ, nghiên cứu, sử dụng nhng thông tin trong đó để phục vụ công tác điều tra. Nếu trong thư thông cung chứa đựng những thông tin có giá trị chứng minh tội phạm thì chuyển hoá thành chứng cứ để chứng minh tội phạm. Trong một số vụ án Cục Điều tra thụ lý trước đây, chứng cứ thu được nhờ việc sử dụng cơ s trại tạm giam đã góp phần quyết định sự thành công.

Nguồn: Tạp chí kiểm sát số 11, tháng 6/2012

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi