Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Nguyễn Tiến Sơn – Phó Cục trưởng Cục Điều tra VKSNDTC

Thực hiện chủ trương của Ban cán sự Đảng, Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong thời gian qua, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có sự chuyển biến tích cực về nhiều mặt. Trong đó, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, xây dựng khung pháp lý cho hoạt động của Cơ quan điều tra được chú trọng, bước đầu tạo hành lang pháp lý để Cơ quan điều tra hoạt động có chất lượng, hiệu quả.

Tuy nhiên, để đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp và tiếp tục triển khai thực hiện các quan điểm chỉ đạo, phương hưóng đổi mới tổ chức  hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thì công tác này cần được thực hiện đồng bộ, có trọng tâm và lộ trình thích hợp, vừa bảo đảm yêu cầu, nhiệm vụ trước mắt, vừa có chiến lược lâu dài để xây dựng Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao trở thành cơ quan tiến hành tố tụng thực sự mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, là công cụ sắc bén của ngành Kiểm sát nhân dân, góp phần bảo đảm sự trong sạch và nâng cao uy tín của các cơ quan tư pháp trong quá trình cải cách tư pháp ở nước ta.

Công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn phải có sự gắn bó chặt chẽ và biện chứng, trong đó hoạt động lý luận cần tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản, làm rõ những bất cập và vạch ra xu hướng vận động của thực tiễn; ngược lại, hoạt động tổng kết thực tiễn phải giải quyết những khó khăn, vướng mắc và là cơ sở để bổ sung lý luận. Với yêu cầu đó, xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội xâm phạm hoạt động tư pháp, xin nêu một số ý kiến để trao đổi và góp phần làm rõ các vấn đề sau:

1. Về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp

Mỗi tội phạm đều có những đặc điểm nhất định, đòi hỏi phải được nhận thức đầy đủ, đúng đắn để đấu tranh phòng, chống có hiệu quả. Tội xâm phạm hoạt động tư pháp là một trong những tội phạm phức tạp cả về lý luận và thực tiễn nhưng ít được quan tâm nghiên cứu và tổng kết thực tiễn. Việc nhận thức, áp dụng xử lý một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp còn chưa thống nhất, nhiều tội danh việc phát hiện, xử lý còn ít, có tội danh chưa được áp dụng lần nào, trong khi các công trình nghiên cứu về tội xâm phạm hoạt động tư pháp còn khiêm tốn, một số sách tham khảo, bình luận Bộ luật Hình sự mới phân tích các dấu hiệu cơ bản của tội phạm mà chưa đi sâu nghiên cứu, tổng kết thực tiễn đấu tranh đối với loại tội phạm này; công tác giảng dạy, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ điêù tra  tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp chưa được chú trọng; cơ quan có thẩm quyền có rất ít văn bản hướng dẫn áp dụng xử lý tội phạm này... Chính vì vậy, việc nghiên cứu về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là hết sức quan trọng và cần thiết.

Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đứng đắn của các cơ quan tư pháp và chủ yêú do cán bộ tư pháp thực hiện. Nhiều nước trên thế giới cho rằng, tội phạm này thuộc nhóm “tội phạm cổ cồn” hoặc “tội phạm trí thức”... Do vậy, việc phát hiện, đấu tranh phòng ngừa các tội phạm này đòi hỏi người tiến hành tố tụng phải có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực pháp luật có liên quan và có kinh nghiệm mới có thể phát hiện, điều tra, thu thập chứng cứ để chứng minh và xử lý tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp. Trong đó, phải hết sức lưu ý nghiên cứu, tổng kết làm rõ khái niệm, một số dấu hiệu cơ bản của tội phạm và những vấn đề liên quan khi phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm này.

a) Về khái niệm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp

Trước khi Bộ luật Hình sự đầu tiên ở nước ta (năm 1985) được ban hành đã có một số hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp được quy định trong các văn bản pháp luật, như: Hành vi tiết lộ bí mật nội dung bàn bạc trong khi nghị án của Hội thẩm nhân dân được quy định tại Điều 24 sắc lệnh số 13/SL ngày 14/01/1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán; hành vi của những người phụ trách các đề lao, các trại tạm giam, giữ người sau thời hạn giam mà không có lệnh gia hạn được quy định tại Điều 18 sắc lệnh số 40 ngày 29/3/1946; hành vi bắt giam người trái phép được quy định trong Luật số 103 ngày 10/5/1957... ’

Bộ luật Hình sự đầu tiên ở nước ta được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 (viết tắt là BLHS năm 1985) lần đầu tiên quy định các tội xâm phạm hoạt động tư pháp tại Chương X, gồm 19 điều, từ Điều 230 đến Điều 248. Ngoài 2 điều luật quy định những vấn đề chung là Điều 230 quy định về khái niệm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp và Điều 248 quy định về hình phạt bổ sung, còn lại 17 điều, từ Điều 231 đến Điều 247 quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.

Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định các tội xâm phạm hoạt động tư pháp tại Chương XXII, từ Điều 292 đến Điều 314. Trừ Điều 292 quy định về khái niệm tội xâm phạm hoạt động tư pháp, còn lại 22 điều, từ Điều 293 đến Điều 314 quy định các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, So với Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999 bổ sung 4 điều với các tội, gồm: Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội (Điều 294), Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 296), Tội không thi hành án (Điều 305), Tội đánh tháo người bị giam giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử (Điều 312). Về khái niệm, các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là một nhóm tội phạm ngoài những đặc điểm chung của tội phạm, còn có những đặc điểm riêng được Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định tại Điều 292, Chương XXII như sau: “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân".

Về khái niệm này, hiện nay đang có những cách hiểu khác nhau. Quan điểm thứ nhất căn cứ vào cấu trúc của Bộ luật Hình sự cho rằng tội xâm phạm hoạt động tư pháp chỉ bao gồm các tội được quy định tại Chưong XXII của Bộ luật Hình sự hiện hành. Quan điểm thứ hai cho rằng; tội xâm phạm hoạt động tư pháp bao gồm các tội phạm xâm hại khách thể loại là hoạt động đúng đắn của các cơ quan tư pháp. Quan điểm này xuất phát từ bản chất của tội phạm và khách thể xâm hại trực tiếp mà tội phạm hướng đến.

Chúng tôi cho rằng, mỗi quan điểm đều dựa trên những cơ sở nhất định. Tuy nhiên, cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ bản chất của tội xâm phạm hoạt động tư pháp và xuất phát từ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm thì công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hiện nay. Do vậy, tội xâm phạm hoạt động tư pháp cần được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ có các tội được quy định tại Chương XXII của Bộ lụật Hình sự năm 1999 mà còn bao gồm một số tội phạm nằm rải rác ở các chương khác của Bộ luật Hình sự hiện hành nếu hành vi phạm tội đó xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan tư pháp. Ví dụ: Người tiến hành tố tụng phạm tội nhận hối lộ được quy định tại Điều 279, chương XXI (các tội phạm về chức vụ), Mục A (Các tội phạm về tham nhũng) của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tội phạm này không chỉ là tội phạm tham nhũng trong số các tội phạm về chức vụ xâm hại khách thể chung mà xâm hại trực tiếp đến khách thể loại là hoạt động đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, xét về bản chất thì tội phạm cụ thể này là một trong những tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp. Do vậy, Chương XXII của Bộ luật Hình sự hiện hành cần phải sửa đổi, bổ sung đầy đủ các tội xâm phạm hoạt động tư pháp theo hướng đã phân tích trên để việc đấu tranh phòng, chống các tội phạm này có hiệu quả trong thời gian tới.

b)                 Về một số dấu hiệu của tội xâm phạm hoạt động tư pháp

- Về  khách thể của tội xâm phạm hoạt động tư pháp là các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Các tội phạm này không chỉ xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, uy tín, chất lượng, hiệu quả việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp mà còn xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, các tổ chức, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Tuy nhiên, thực tế hoạt động của các cơ quan tư pháp rất rộng, bao gồm hoạt động của các cơ quan tư pháp và các hoạt động bổ trợ tư pháp, như: Giám định, phiên dịch... Những hoạt động này có liên quan trực tiếp và là căn cứ quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng quyết định. Do vậy, cần xác định các hoạt động bổ trợ hoạt động tư pháp là khách thể của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Ví dụ: Giám định viên có hành vi nhận hối lộ để làm sai lệch kết luận giám định hoặc từ chối kết luận... dẫn đến việc giải quyết vụ án không có căn cứ, thì hành vi phạm tội của Giám định viên nêu trên được xác định là tội xâm phạm hoạt động tư pháp (Điều 308 của BLHS quy định tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu).

- Về  mặt khách quan của tội xâm phạm hoạt động tư pháp được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động (không chấp hành án...). Phần lớn các tội xâm phạm hoạt động tư pháp có cấu thành hình thức (17/22 tội), tội phạm hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội của mình. Còn lại là các tội có cấu thành vật chất, như: Tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật (Điều 297), Tội bức cung (Điều 299), Tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn (Điểu 301), Tội không thi hành án (Điều 305), Tội cản trở việc thi hành án (Điều 306) thì tội phạm hoàn thành từ thời điểm xảy ra hậu quả nghiêm trọng.

Tuy nhiên, việc xác định hậu quả nghiêm trọng có nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập và nhận thức khác nhau nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, giải thích mà chủ yếu do cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ thực tế từng vụ, việc cụ thể để đánh giá hậu quả nghiêm trọng hay không nghiêm trọng. Tổng kết thực tiễn đánh giá một số trường hợp được coi là hậu quả nghiêm trọng như: Hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn quy định tại khoản 1 Điều 301 để trốn nhiều người hoặc người trốn lại phạm tội mới, thì được coi là gây hậu quả nghiêm trọng.

- Về chủ thể của tội xâm phạm hoạt động tư pháp phần lớn là chủ thể đặc biệt, là người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc trong cơ quan nhà nước, tổ chức và những người tham gia tố tụng.  Hiện nay, khái niệm cơ quan tư pháp có nhiều ý kiến khác nhau. Do vậy, khái niệm cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp cần được giải thích, hướng dẫn để áp dụng thống nhất. Theo quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật thì chủ thể này là cán bộ có chức danh pháp lý và cán bộ khác tuy không có chức danh pháp lý nhưng là cán bộ thuộc cơ quan tư pháp và cũng được giao nhiệm vụ hoạt động tư pháp độc lập hoặc đồng phạm với cán bộ có chức danh pháp lý phạm tội trong quá trình làm nhiệm vụ. Ví dụ: Chiến sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ, cán bộ quản giáo phạm tội thiếu trách nhiệm đề người bị giam, giữ trốn hoặc cán bộ, chiến sĩ trinh sát, cán bộ điều tra, sinh viên thực tập cũng có thể là chủ thể của tội phạm dùng nhục hình...

Tuy nhiên, một số trường họp đang có nhận thức khác nhau. Ví dụ: Nhân viên Công an cấp xã bắt quả tang người phạm tội và đánh đập người bị bắt. Về bản chất hành vi của nhân viên Công an xã là phạm tội “dùng nhục hình”, nhưng về mặt chủ thể thi không thuộc các cơ quan tư pháp. Do vậy, vấn đề này cũng cần được nghiên cứu để hướng dẫn áp dụng và sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự để đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với các hành vi phạm tội này.

Về  mặt chủ quan của tội xâm phạm hoạt động tư pháp đều có lỗi cố ý, trừ tội “ thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ  trốn” (Điều 301) là lỗi vô ý; động cơ mục đích phạm tội rất đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

Tuy nhiên, thực tiễn xác định lỗi cố ý gặp rất nhiều khó khăn và một số trường hợp theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành thiếu tính khả thi và khó áp dụng để xử lý người phạm tội. Vì vậy, vấn đề này cũng cần được nghiên cứu để đề xuất sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự hiện hành cho sát với thực tiễn và đáp ứng với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp trong thực tiễn hiện nay.

c) Về một số vấn đề khác

- Về  việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã bị xử lý hành chính: Quá trình xử lý tội xâm phạm hoạt động tư pháp thường gặp khó khăn, vướng mắc, đối với việc người thực hiện hành vi phạm tội đã bị xử phạt hành chính hoặc xử lý kỷ luật trước khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là vấn đề hiện đang có những ý kiến khác nhau cần được nghiên cứu và được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thực hiện thống nhất.

Theo nguyên tắc của pháp luật xử lý hành chính và pháp luật hình sự thì mỗi hành vi vi phạm pháp luật hoặc tội phạm chỉ được xử lý bằng một biện pháp pháp luật trừ trường hợp tổ chức xã hội hoặc đoàn thể mà người đó là thành viên xử lý bằng các hình thức không mang tính pháp luật của nhà nước. Ví dụ: Khai trừ ra khỏi Đảng hoặc xóa tên Hội viên trong tổ chức...

Tại khoản 4 Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) quy định: “Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một lần’’. Tại khoản 4 Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định về một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự là: “Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật". Như vậy, đối với mỗi hình thức xử lý (hành chính hoặc hình sự), pháp luật đã quy định rõ chỉ được xử lý một lần. Tuy nhiên, đối với trường hợp đã bị xử phạt hành chính, sau đó cơ quan tiến hành tố tụng lại truy cứu trách nhiệm hình sự thì pháp luật chưa quy định rõ ràng. Mặc dù vậy, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xử lý thì trước khi truy cứu trách nhiệm hình sự (khởi tố, truy tố, xét xử), cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo cho cơ quan đã xử lý hành chính biết để xem xét, hủy bỏ quyết định xử lý hành chính. Đối với trường hợp cơ quan có thẩm quyền không hủy bỏ quyết định xử lý hành chính thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật và cơ quan có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm đối với trường hợp không hủy bỏ quyết định xử lý hành chính.

Trên thực tế, một số trường hợp Tòa án trả hồ sơ yêu cầu cơ quan có thẩm quyeenfm phải hủy bỏ quyết định xử lý hành chính trước khi xét xử để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo.

- Về việc xác định tội danh trong một số trường hợp cụ thể: Việc xác định tội danh của tội xâm phạm hoạt động tư pháp rất phức tạp, trong đó một số nhóm tội có dấu hiệu của mặt khách quan tương đối giống nhau, xin nêu một số dạng điển hình và kinh nghiệm, sau:

+ Nhóm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, với tình tiết “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” (điểm d khoản 2 Điều 139) với tội “lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” (Điều 280), tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” (Điều 281), tội “lạm quyền trong khi thi hành công vụ” (Điều 282)... các tội này đều có dấu hiệu chung là người phạm tội có chức vụ, quyền hạn nhưng đặc điểm khác biệt chủ yếu là tính chất, mức độ sử dụng chức vụ, quyền hạn trong quá trình phạm tội để xác định tội danh. Do vậy, cần phải nghiên cứu kỹ từng trường hợp cụ thể để đánh giá bản chất hành vi phạm tội nhằm xác định đúng tội danh.

+ Nhóm tội: Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội (Điều 294) với thủ đoạn làm sai lệch hồ sơ, tài liệu với tội “làm sai lệch hồ sơ vụ án” (Điều 300), thường có mặt khách quan giống nhau là hành vi làm sai lệch hồ sơ, tài liệu, nhưng khác nhau ở mục đích, ở tội “không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội”, người phạm tội có mục đích là không truy cứu trách nhiệm hình sự (sửa số tiền đánh bạc trong biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang từ nhiều thành ít để xử lý hành chính người đánh bạc), còn tội “làm sai lệch hồ sơ vụ án” có thể là làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội (sửa chữa kết luận giám định thương tích để chuyển từ khoản 2 xuống khoản 1 Điều 104 của BLHS).

- Việc phân biệt hành vi vi phạm pháp luật với tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp: Đây là vấn đề phức tạp cần có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật nhằm tránh bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội, nhất là đối với một số tình tiết chưa được cụ thể hoặc lượng hóa, như:

+ Về tình tiết: “Gây hậu quả nghiêm trọng” là thế nào ? trong các tội: “thiếu trách nhiệm đề người bị giam, giữ trốn”, “không thi hành án”...? Hành vi dùng nhục hình có tính chất, mức độ nào thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

+ Về việc xác định dấu hiệu phạm tội trong một số trường họp cụ thể cũng còn nhiều khó khăn, vướng mắc, như: Hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự được xác định khi người có thẩm quyền ban hành quyết định Về việc không truy cứu trách nhiệm hình sự hay chi cần chứng minh họ có hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự (không cần phải ban hành quyết định không khởi tố hoặc xử lý hành chính) ?

Những vấn đề trên hiện nay đều dựa vào kinh nghiệm thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử để xem xét, đánh giá xác định tội phạm. Do vậy, cần được nghiên cứu và tổng kết thực tiễn để có hướng dẫn thống nhất.

2. Về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao

2.1.Căn cứ pháp lý về thẩm quyền điều tra: Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 110) và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (Điều 18), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 (Điều 3) thì Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền điều tra đối với “Một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp.

Căn cứ các quy định của pháp luật nêu trên, ngày 19/8/2010, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Cục Điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao (kèm theo Quyết định số 1169/2010/VKSTC-C6 (sau đây viết tắt là Quy chế số 1169). Theo đó, thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao được quy định tại Điều 4 của Quy chế số 1169 như sau:

“1. Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại Chương XXII của Bộ luật hình sự mà người phạm tội là cản bộ của các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân’’. Theo quy định này, thì không phải bất cứ tội phạm nào quy định tại Chương XXII cũng thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao mà chỉ có các tội phạm thỏa mãn đầy đủ cả ba yếu tố sau đây:

-  Được quy định tại Chương XXII của Bộ luật Hình sự: Căn cứ vào cấu trúc điều luật, có nghĩa là các tội phạm quy định từ Điều đến Điều 314 Chương XXII của Bộ luật hình sự;

- Thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân: Căn cứ vào thẩm quyền xét xử, có nghĩa là chỉ những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân để phân biệt với thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự;

- Người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp: Căn cứ vào chủ thể của tội phạm, có nghĩa là chỉ một số tội phạm được quy định tại Chương XXII do người phạm tội là cán bộ của các cơ quan tư pháp. Còn những tội phạm tuy được quy định tại Chương XXII nhưng không do cán bộ thuộc cơ quan tư pháp thực hiện thì không thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Ví dụ: Tội “không chấp hành án” (Điều 304), tội “từ chối khai báo” (Điều 308), tội “trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử” (Điều 311), tội “không tố giác tội phạm” (Điều 314)...

"2. Các tội phạm có nguồn gốc phát sinh từ việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ các cơ quan tư pháp hoặc liên quan đến việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ các cơ quan tư pháp trong quá trình tiến hành tố tụng (hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động...) ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Đây là các tội phạm có nguồn gốc phát sinh hoặc có liên quan đến việc thi hành nhiệm vụ của cán bộ các cơ quan tư pháp, như: Cán bộ, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Chấp hành viên và những người tiến hành tố tụng khác thuộc các ngành Công an nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân, Thi hành án các cấp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ hoặc tiến hành tố tụng đối với các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động... ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Những tội phạm này về bản chất là các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, có khách thể xâm phạm là hoạt động đúng đắn của các cơ quan tư pháp; Về mặt khách quan, hành vi phạm tội có liên quan chặt chẽ, gắn liền với hoạt động tư pháp (như phân tích tại mục 1 nêu trên). Do đó thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

“3. Hành vi phạm tội hoặc người thực hiện hành vi phạm tội có liên quan đến vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang khởi tố, điều tra”. Đây là tội phạm tuy không thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhưng có liên quan đến vụ án mà Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang khởi tố, điều tra và cần phải nhập vụ án để bảo đảm việc điều tra, giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện theo quy định của pháp luật

2.2.            Một số kinh nghiệm thực tiễn để xác định thẩm quyền điều tra

Việc xác định dấu hiệu của tội xâm phạm hoạt động tư pháp cũng như thẩm quyền điều tra, giải quyết đối với tội phạm này trên thực tiễn rất khó khăn, phức tạp, trong thực tiễn có những dạng sau:

Dạng thứ nhất, cần phân biệt giữa hành vi phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp với khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự và căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm hình sự:

 Hành vi phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp có mặt khách quan rất giống với khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự và căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm, vì chúng đều chứa đựng những vi phạm pháp luật tố tụng hình sự, chỉ khác nhau về tính chất, mức độ hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể:

- Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự chứa đựng hành vi vi phạm pháp luật tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án (vụ án đang được giải quyết), thẩm qụyền giải quyết thuộc cơ quan tiến hành tố tụng đối với vụ án đó theo các quy định tại Chương XXXV của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm là những vi phạm pháp luật tố tụng nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án đã có hiệu lực pháp luật (vụ án đã được giải quyết xong), do Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm theo quy định tại Chương XXX của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Hành vi phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những vi phạm pháp luật tố tụng hình sự bị khiếu nại, tố cáo hoặc là căn cứ để giám đốc thẩm nhưng có các dấu hiệu của tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thực tế, có trường hợp từ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự hoặc khi xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm mới phát hiện ra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp và ngược lại.

Dạng thứ hai, cần căn cứ vào qúa trình tiến hành tố tụng vụ án để xác định tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp trong vụ án khác (vụ án hình sự, dân sự... đang được giải quyết hoặc đã giải quyết xong):

- Khi vụ án đang được giải quyết: Phát hiện tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp ngay trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ án. Ví dụ: Trong quá trình điều tra vụ án phát hiện có hành vi dùng nhục hình, theo Điều 298 của Bộ luật Hình sự.

- Khi vụ án đã giải quyết xong: Phát hiện bản án, quỵết định của cơ quan có thẩm quyền có dấu hiệu của tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp. Ví dụ: Hành vi ra quyết định trái pháp luật, quy định tại Điều 296 của Bộ luật Hình sự.

Dạng thứ ba, cần phân biệt thẩm quyền điều tra giải quyết các vụ án có liên quan đến tội xâm phạm hoạt động tư pháp: Chỉ trong những trường hợp phải nhập vụ án để điều tra, giải quyết toàn diện vụ án, còn lại việc điều tra, giải quyết các vụ án khác nhau do các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Ví dụ: Trong quá trình điều tra vụ trộm cắp tài sản, Điều tra viên có hành vi dùng nhục hình, thì Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiến hành điều tra tội phạm dùng nhục hình, còn tội phạm trộm cắp tài sản do Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra theo quy định.

2. Về mô hình tổ chức hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- Về mô hình, trải qua 50 năm hình thành và phát triển, mô hình của Cơ quan điều tra đã có nhiều thay đổi nhưng chủ yếu có hai mô hình là: Mô hình thứ nhất, Cơ quan điều tra chỉ được thành lập ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Mô hình thứ hai, Cơ quan điều tra được thành lập ở hai cấp (Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh hoặc Thường trực Cơ quan đại diện).

Trước yêu cầu cải cách tư pháp, với chủ trương định hướng bảo đảm cơ quan tiến hành tố tụng độc lập, không phụ thuộc vào cấp hành chính và thành lập Tòa án, Viện kiểm sát cấp khu vực. Vì vậy, mô hình Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải được đổi mới phù hợp với chủ trương, định hướng cải cách tư pháp, đặc biệt là yếu tố độc lập và kịp thời phát hiện, điều tra tội phạm xảy ra ở các địa bàn trên toàn quốc, nhất là cấp khu vực. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, thấy rằng mô hình phù hợp nhất hiện nay của Cơ quan điều tra là thành lập Cơ quan điều tra vừa có ở Trung ương để bảo đảm sự tập trung, thống nhất, vừa có ở các khu vực một số tỉnh, thành phố theo mô hình đại diện thường trực Cơ quan điều tra (Khu vực Tây Bắc, Đông Bắc, Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và hai thành phố lớn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh). Như vậy, mô hình mới vừa kế thừa mô hình Cơ quan điều tra theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 (có đơn vị cơ sở), vừa bảo đảm sự độc lập tương đối vói các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương, nhưng vẫn bảo đảm phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống Viện kiểm sát nhân dân đối với hoạt động điều tra của ngành Kiểm sát nhân dân.

- Về hoạt động: Hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có sự chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, cần đổi mới và tập trung vào một số nhiệm vụ mang tính đột phá để nâng cao chất luợng, hiệu quả, đáp ứng với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thời gian tới như sau:

+ Đổi mới công tác tiếp nhận, thu thập, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm: Để nắm bắt đầy đủ, kịp thời các thông tin về tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp xảy ra trên địa bàn toàn quốc và phân loại xử lý kịp thời, nhằm bảo đảm không làm oan, không bỏ lọt tội phạm ngay từ đầu, đòi hỏi Cơ quan điều tra phải đổi mới manh mẽ công tác tiếp nhận, phân loại các thông tin về tội phạm theo hướng: Tăng cường phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân các cấp và các đơn vị trong Ngành để trao đổi, cung cấp, kiểm tra, xác minh thông tin về tội phạm; đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền cho phép sử dụng các biện pháp nghiệp vụ phát hiện tội phạm như của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân; đồng thời, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức xã hội, nhất là các cơ quan thông tin đại chúng để nắm thông tin từ các nguồn; có chế độ chính sách mua tin, xây dựng cộng tác viên, dựa vào nhân dân để phát hiện tội phạm.

Với số lượng mỗi năm thông tin về tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp chuyển đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao lên tới hàng nghìn vụ, nội dung phức tạp, nên việc nghiên cứu, phân loại rất khó khăn, đòi hỏi đội ngũ cán bộ nghiên cứu, kiểm tra thông tin về tội phạm không những phải đủ về số lượng mà còn phải có trình độ, kinh nghiệm chuyên sâu ở các lĩnh vực áp dụng pháp luật: Hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, giam giữ, cải tạo, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự mới đáp ứng được yêu cầu.

+ Đổi mới hoạt động điều tra: Nhiệm vụ trọng tâm đổi mới hoạt động điều tra là nâng cao chất lượng điều tra. Trong khi hoạt động điều tra hiện nay chủ yếu là những biện pháp điều tra mang tính truyên thống và thủ công trong việc xác minh, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, tài liệu, nên chất lượng, hiệu quả điều tra còn thấp. Để đáp ứng được yêu cầu, nhất là bảo đảm chống oan, sai và bỏ lọt tội phạm, với đặc điểm đấu tranh với chủ thể đặc biệt của tội phạm có kiến thức, kinh nghiệm áp dụng pháp luật, cần đổi mới phương pháp điều tra theo hướng thành lập Phòng trọng án, là đơn vị mũi nhọn, có nhiệm vụ điều tra các vụ án khó khăn, phức tạp xảy ra trên địa bàn toàn quốc; đồng thời, hình thành các đơn vị điều tra chuyên sâu từng lĩnh vực (hình sự, dân sự, thi hành án...). Mặt khác, cần hiện đại hóa hoạt động điều tra, như: Lấy lời khai, hỏi cung kết hợp với ghi hình, ghi tiếng và có trung tâm chỉ huy điều tra... để vừa nghiên cứu diễn biến tâm lý đối tượng, vừa bảo đảm tính khách quan, chính xác, nhất là chống phản cung, thông cung...

+ Tăng cường các hoạt động bổ trợ điều tra: Các hoạt động bổ trợ cho điều tra, như: Giám định cần được trang bị đồng bộ, hiện đại để Cơ quan điều tra chủ động giám định (chữ viết, con dấu, tài liệu...), để khai thác tài liệu, nhất là những trang thiết bị và công nghệ để khôi phục dữ liệu máy tính, máy điện thoại nhằm hỗ trợ cho hoạt động điều tra.

+  Đổi mới nội dung hoạt động của Cơ quan điều tra: Xuất phát từ đặc thù đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, bên cạnh việc nâng cao chất lượng điều tra các vụ án thuộc thẩm quyền, cần phải làm tốt công tác kiến nghị xử lý phòng ngừa và coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Hoạt động này vừa bảo đảm xử lý triệt để các hành vi vi phạm pháp luật, vừa nâng cao hiệu quả tính phòng ngừa vi phạm, tội phạm trong hoạt động tư pháp, bảo đảm ngăn ngừa các tiêu cực vi phạm trong hoạt động tư pháp ở các lĩnh vực cụ thể; đặc biệt, phải tích cực nghiên cứu để kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, trong đó có hệ thống pháp luật liên quan đến đấu tranh phòng, chống tội xâm phạm hoạt động tư pháp.

Về các điều kiện bảo đảm khác: Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao hiện nay cần được trang bị các điều kiện bảo đảm khác, phù hợp với đặc thù của hoạt động điều tra tội phạm như của Cơ quan điều tra khác, nhất là trụ sở, phòng hỏi cung, đối chất, nhận dạng, phương tiện, trang thiết bị cần thiết khác để phục vụ cho hoạt động điều tra.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và xây dựng khung pháp lý liên quan đến tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- Hoàn thiện hệ thống pháp luật về nội dung: Trong đó, cần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự hiện hành theo hướng quy định khái niệm cụ thể các tội xâm phạm hoạt động tư pháp và các tội danh cụ thể trong Chương XXII; đồng thời, các cơ quan có thẩm quyền cần sớm có văn bản dưới luật hướng dẫn áp dụng các tội xâm phạm hoạt động tư pháp để thực hiện thống nhất.

Bên cạnh đó, thông qua đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, Cơ quan điều tra VKSND tối cao phải tích cực nghiên cứu, đề xuất vói các cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm nói chung, tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp nói riêng. Ví dụ: Thông qua xử lý các tội phạm tham nhũng cho thấy pháp luật nước ta mới chỉ quy định “không được tham nhũng”, nếu các quy định của pháp luật nước ta được sửa đổi theo hướng “không dám tham nhũng” thì công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng sẽ hiệu quả hơn. Ví dụ: cần sửa đổi khoản 6 Điều 289 của Bộ luật hình sự theo hướng: Người đưa hối lộ chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì được miễn trách nhiệm hình sựđược trừ lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ. Nếu quy định này được ban hành sẽ làm giảm đáng kể tội phạm tham nhũng ở các lĩnh vực và từng bước hoàn thiện pháp luật ở bậc cao, theo hướng “không thể tham nhũng”.

- Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra:

+ Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cần xây dựng một Chương riêng về hoạt động điều tra và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ với chức năng thực hành quyền công tố và kiềm sát các hoạt động tư pháp.

+ Ban hành Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự theo hướng quy định cụ thể về 3 hệ thống cơ quan điều tra chuyên trách (trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân tối cao), với tổ chức và thẩm quyền điều tra cụ thể để xác định trách nhiệm và nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống các tội phạm theo yêu cầu cải cách tư pháp.

+ Các cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành Thông tư hướng dẫn thẩm quyền điều tra của các Cơ quan điều tra, trong đó cần phân định cụ thể thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan điều tra trong Công an nhân dân đế không chồng chéo và xác định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm trong việc phát hiện, điều tra tội phạm giữa các cơ quan này.

+ Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần sớm ban hành các quy chế, quy định nhằm tạo khung pháp lý về tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao có căn cứ pháp lý để thực hiện có chất lượng và hiệu quả, nhất là việc: Sửa đổi quy chế tổ chức và hoạt động của Cục Điều tra, ban hành quy chế cơ sở cung cấp thông tin liên quan đến cho hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao...


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi