Quá trình hình thành và phát triển của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao qua các thời kỳ

Lại Thị Loan – Trưởng phòng 1, Cục Điều tra VKSNDTC

1.          Tổ chức và hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân giai đoạn 1945 -1959

Cuộc Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước ta giành được độc lập, tự do. Trong bối cảnh mới giành được chính quyền, hệ thống cơ quan tư pháp Cách mạng cũng được hình thành nhằm góp phần bảo vệ Nhà nuớc non trẻ; trong đó, có sự hình thành cơ quan Công tố. Công tố Viện cũng như chức năng công tố được quy định ở nhiều văn bản như Sắc lệnh số 33 A ngày 14/9/1945, Sắc lệnh số 7 ngày 15/01/1946, Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946, Sắc lệnh số 42 ngày 03/4/1946, Sắc lệnh số 131 ngày 20/7/1946... do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành.

Cơ quan Công tố ban đầu nằm trong hệ thống Toà án, nhưng sau đó đã tách ra thành một hệ thống cơ quan độc lập; có vị trí, vai trò quan trọng trong tố tụng hình sự và bộ máy Nhà nước ta.

Trong giai đoạn từ năm 1945 - 1959, hoạt động điều tra không chỉ nằm trong một Cơ quan điều tra mà còn ở nhiều bộ phận khác: Kiểm soát viên Kiểm lâm, Hoả xa, Thương chính và tất cả các viên chức mà pháp luật giao phó nhiệm vụ cho tư pháp công an đối với những việc phạm pháp riêng cho từng ngành (Điều 3 sắc lệnh số 131). Toàn bộ hoạt động điều tra trong giai đoạn này đều thuộc quyền kiểm soát, điều hành của Công tố Viện, mà trực tiếp là Biện lý, Phó Biện lý và trên hết là Chưởng lý ở Toà thượng thẩm. Quy định này của pháp luật cho thấy hoạt động điều tra thực chất là hoạt động công tố (nhưng ở giai đoạn tiền công tố), giúp cơ quan công tố thay mặt Nhà nước buộc tội người phạm tội trước Toà án. Các nhân viên và cơ quan có thẩm quyền điều tra không theo sự chỉ đạo của cơ quan chủ quản hành chính mà đều dưới sự chỉ đạo của Công tố Viện; đồng thời, pháp luật cũng có quy định bảo đảm để các cơ quan này phải tuân theo sự chi đạo đó, như Điều 13 sắc lệnh số 131 đã ghi nhận: “Việc bổ sung, thăng thưởng và trừng phạt hành chính những uỷ viên Tư pháp công an không phải là Thẩm phán viên đều làm sau khi hỏi ý kiến của Biện lý và Chưởng lý”.

Hoạt động điều tra ở giai đoạn đầu (từ 1945 - 1950) có hình thức là điều tra ban đầu và điều tra thẩm cứu. Đến giai đoạn sau (từ 1950 - 1960), hình thức điều tra thẩm cứu như một giai đoạn bắt buộc đối với những trường hợp luật định đã không còn tồn tại. Hoạt động điều tra của cơ quan và nhân viên điều tra tách khỏi sự quản lý trực tiếp của Chưởng lý (công tố Viện) mà quy định Viện công tố có quyền giám sát việc chấp hành luật pháp trong công tác điều tra của Cơ quan điều tra.

Thẩm quyền điều tra của các nhân viên và cơ quan có trách nhiệm điều tra ngày càng hình thành rõ nét hơn. Tuy nhiên, việc điều tra đối với một số đối tượng có đặc quyền miễn trừ tư pháp như Thẩm phán, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Đại biểu Quốc hội... phạm tội thì thẩm quyền điều tra thuộc về Công tố Viện; đồng thời, pháp luật cũng giành quyền chủ động cho Chưởng lý Toà thượng thẩm trong việc điều tra của Công tố Viện.

Về tổ chức, thời kỳ đầu, Công tố Viện được tổ chức trong hệ thống Toà án. Những năm 50, theo sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950, Thông tư số 21/TTg ngày 07/6/1950, cơ quan công tố đặt dưới sự điều khiển của ủy ban kháng chiến hành chính trên cùng địa hạt cả về đường lối công tố chung, cả mệnh lệnh riêng về từng vụ việc. Đến kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khoá I (họp từ ngày 16/4/1958 đến ngày 29/4/1958) đã quyết định hệ thống Toà án và hệ thống Công tố trực thuộc Hội đồng Chính phủ và có trách nhiệm, quyền hạn ngang với một Bộ. Trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 256/TTg ngày 01/7/1959 quy định nhiệm vụ và tổ chức của Viện Công tố. Ngày 6/8/1959, Viện trưởng Viện công tố Trung ương ban hành Thông tư số 601/TCCB giải thích và hướng dẫn thi hành văn bản trên, quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện công tố. Theo quy định của các văn bản này, hệ thống các cơ quan công tố được thành lập từ trung uơng đến cấp huyện và trở thành hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập, không còn trực thuộc Bộ Tư pháp, không còn chịu sự chỉ đạo cụ thể và trực tiếp của Ủy ban hành chính cùng cấp ở địa phương. Nhiệm vụ cụ thể của Viện công tố theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 256/TTg là có nhiệm vụ điều tra và truy tố trước Toà án những kẻ phạm pháp về hình sự.

2.          Tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao giai đoạn từ năm 1960 -1988

Hiến pháp năm 1959 được Quốc hội thông qua ngày 31/12/1959 lần đầu tiên quy định về chế định Viện kiểm sát nhân dân, trong đó xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ và các nguyên tắc cơ bản cho việc thành lập hệ thống Viện kiểm sát nhân dân. Thể chế hoá Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà khoá II, kỳ họp thứ nhất thông qua ngày 15/7/1960 và được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 20-L/CTN ngày 26/7/1960 công bố đã đánh dấu sự ra đời của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống bộ máy Nhà nước ta.

Ngày 18/4/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 12/LCT công bố Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16/4/1962). Tại Điều 5 của Pháp lệnh này quy định: Bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Vụ Điều tra thẩm cứu. Quy định này đã đánh dấu sự hình thành tổ chức Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân.

Ngay từ khi hình thành và trong toàn bộ quá trình phát triển của Viện kiểm sát nhân dân, hoạt động điều tra luôn được coi là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình thực hiện chức năng của ngành Kiểm sát. Tuy nhiên, quy mô phát triển, vị trí của hoạt động điều tra trong việc thực hiện chức năng kiểm sát trong mỗi giai đoạn có sự khác nhau. Thời kỳ đầu, trong ngành Kiểm sát, hoạt động điều tra chỉ là một trong những quyền năng của công tác kiểm sát điều tra mà không được coi là khâu công tác riêng biệt. Vì thế, Viện kiểm sát không có cơ quan điều tra riêng, mà chỉ ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao mới tổ chức thành một đơn vị là Phòng Điều tra thẩm cứu. (Mặc dù Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 16/4/1962 quy định trong tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Vụ Điều tra thẩm cứu). Còn ở các địa phương, thì công tác điều tra thuộc nhiệm vụ của các đơn vị kiểm sát điều tra (Điều 5 của Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 16/4/1962 và Pháp lệnh sửa đổi ngày 15/01/1970).

Mặc dù ở giai đoạn này chưa có lực lượng điều tra chuyên trách, nhưng hoạt động điều tra được thực hiện ờ cả 03 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện và điều tra với nhiều loại tội (trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia). Đã có thời điểm công tác điều tra còn có chiều hướng trội hơn các công tác khác của ngành Kiểm sát. Tổng kết công tác những năm 70 của ngành Kiểm sát nhân dân có nêu: “Trước năm 1970 Viện kiểm sát cấp huyện, thị làm công tác điều tra đến 50% và cấp tỉnh điều tra đến 25% số vụ án thụ lý.

Năm 1978, Vụ Điều tra thẩm cứu mới được thành lập trên cơ sở Phòng Điều tra thẩm cứu thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đến năm 1981, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được ban hành thay thế cho Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, tại khoản 1 Điều 10 quy định: "... Trong trường hợp do pháp luật quy định thì Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp tiến hành điều tra”. Đó là các vụ án do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên giao và các vụ án Viện trưởng Viện kiểm sát thấy cần thiết phải trực tiếp điều tra (Thông tư liên bộ số 01/TTLB ngày 23/1/1984 giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an)).

Trên thực tế, Viện kiểm sát vẫn phải tiến hành điều tra khi thấy cần thiết trong các trường hợp: Do yêu cầu chính trị và cấp uỷ giao hoặc khi xét thấy các vụ án do cơ quan Công an điều tra không được khách quan, toàn diện, cán bộ điều tra vi phạm pháp luật tới mức nếu để họ tiếp tục điều tra sẽ dẫn đến lọt tội phạm, oan sai và dư luận xã hội không đồng tình.

Đến năm 1984, do yêu cầu của công tác điều tra cũng như công tác kiểm sát điều tra trong ngành Kiểm sát nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra quyết định thành lập thêm 4 Phòng điều tra thẩm cứu ở các Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Nam - Đà Nẵng; Vụ Điều tra thẩm cứu tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao có 10 cán bộ điều tra. Về cơ bản, cơ chế điều tra trên vẫn tồn tại đến khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988. Trên thực tế, trước khi tổ chức hai cấp điều tra trong ngành Kiểm sát nhân dân, các Viện kiểm sát tỉnh, thành phố, quận, huyện, thị xã cũng đã tiến hành các hoạt động điều tra; cách tổ chức thực hiện hoạt động điều tra là khi cần thiết thì thành lập một tổ điều tra để điều tra và người thực hiện điều tra là các cán bộ, Kiểm sát viên thuộc Phòng kiểm sát điều tra kiêm nhiệm thực hiện.

Giai đoạn từ năm 1960 - 1988 đã đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử tố tụng hình sự, bằng việc Hiến pháp, pháp luật quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cụ thể, trong đó có hoạt động điều tra và đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ điều tra (Vụ Điều tra thầm cứu).

Hoạt động điều tra của Viện kiểm sát có tính độc lập tương đối so với công tác kiểm sát, nhưng thực chất cũng là nhằm tăng cường hiệu quả công tác kiểm sát, đồng thời, tạo thế chủ động cho ngành Kiểm sát trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; tránh làm oan cho người vô tội…

Với quy định “Viện trường Viện kiểm sát thấy cần thiết phải trực tiếp điều tra”, hoạt động điều tra thẩm cứu (với ý nghĩa đi sâu nghiên cứu, điều tra; xét kỹ một vụ án) trong thời kỳ này đã chú trọng đến công tác điều tra, xác minh những vụ án “mang tính chất minh oan” cho người đã bị kết án. Pháp luật tố tụng hình sự giai đoạn này đã giành quyền chủ động cho Viện trường Viện kiểm sát các cấp trong việc điều tra vụ án.

3. Tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao giai đoạn từ năm 1988 - 2003

Ngày 28/6/1988, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự đầu tiên của nước ta, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1989. Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động tố tụng nhằm giải quyết vụ án hình sự, trong đó có hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra và Điều tra viên. Ngày 04/4/1989, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự cũng được ban hành nhằm cụ thể hoá một bước về tổ chức và hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra cũng như việc quy định các quyền và nghĩa vụ của Điều tra viên trong tố tụng hình sự. Theo đó, có các hệ thống cơ quan điều tra chuyên trách gồm Cơ quan điều tra của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Cơ quan điều tra của lực luợng An ninh nhân dân, Cơ quan điều tra An ninh Quân đội, Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân.

Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 22/12/1988 đã có những quy định cụ thể, rõ ràng về công tác điều tra của Viện kiểm sát, coi đó là một cơ quan điều tra chuyên trách, độc lập. Giai đoạn này, Kiểm sát viên không được tự tiến hành điều tra toàn bộ vụ án nữa, mà hoạt động này được giao cho Điều tra viên Cơ quan điều tra Viện kiểm sát.

Về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 quy định có tính chất “mở”, cho phép Cơ quan điều tra trong Viện kiểm sát nhân dân có thể lựa chọn vụ việc để điều tra, nhằm phục vụ thực hiện chức năng của Ngành. Tại khoản 3 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và Điều 18 của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 1989 quy định:

“Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân điều tra trong những trường hợp sau đây, khi Viện trưởng xét thấy cần thiết:

a)   Khi phát hiện việc điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng;

b)    Khi tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật, phát hiện những vụ phạm tội rõ ràng, không cần thiết phải chuyển cho cơ quan điều tra khác;

c)   Khi phát hiện tội phạm trong hoạt động tư pháp;

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể giao cho Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhãn dân điều tra trong những trường hợp khác".

Về tổ chức, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tổ chức thành một hệ thống ở hai cấp: Tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Cục Điều tra (trên cơ sở đổi tên Vụ Điều tra thẩm cứu), còn ở Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh có Phòng điều tra; của Viện kiểm sát quân sự Trung ương là Phòng Điều tra, của Viện kiểm sát quân sự cấp Tổng cục, quân khu, quân chủng và cấp tương đương là Ban Điều tra. Tính đến năm 1999, có Cục Điều tra và 36 Phòng điều tra/61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung uơng. Trong đó, không kể các Phòng điều tra ở Viện kiểm sát quân sự Trung ương và 18 Ban Điều tra thuộc Viện kiểm sát quân sự cấp thứ hai.

Trong giai đoạn này, hệ thống Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân đã có nhiều nỗ lực thực hiện nhiệm vụ được giao và đạt được những kết quả nhất định. Trong công tác phát hiện, tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) đã hết sức quan tâm đến thực hiện công tác này, bằng việc phân công cán bộ theo dõi để phân loại, xử lý; thiết lập hệ thống sổ sách; cập nhật đầy đủ mọi tin tiếp nhận. Với diễn biến của tội xâm phạm hoạt động tư pháp có xu hướng ngày càng tăng, nên với đối tượng chính trong hoạt động điều tra là các cán bộ, nhân viên tư pháp phạm tội và các tội phạm phát sinh trong hoạt động tố tụng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân trong các năm từ 1989 đến năm 2002, đã tiếp nhận và giải quyết 5.385 tố giác, tin báo về tội phạm, trong đó có 3.197 tố giác, tin báo tội phạm về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm phát sinh trong hoạt động tố tụng của các cơ quan tư pháp; đã khởi tố điều tra được 585 vụ/1.175 bị can, trong đó có 177 vụ/297 bị can thuộc các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, 129 vụ/313 bị can thuộc các tội phạm chức vụ, 42 vụ về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; số còn lại là các loại tội phạm khác.

Tuy số lượng án được khởi tố, điều tra không nhiều nhưng qua hoạt động điều tra của mình, Cơ quan điều tra VKSNDTC đã góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ tư pháp, hạn chế tình trạng bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội...; đồng thời, có tác dụng rất lớn trong việc “cảnh tình” các cơ quan, đơn vị tư pháp không được làm trái pháp luật; đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm minh, thống nhất, góp phần bảo đảm quyền tự do, dân chủ cùa công dân.

Đến năm 2000, theo tinh thần tại Thông báo số 136/TB-TW ngày 25/1/1996 của Bộ Chính trị đánh giá và định hướng cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, Chỉ thị số 01/2000/CT ngày 10/01/2000 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác điều tra năm 2000 đã khẳng định: “Thực hiện đổi mới Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng tăng cường tổ chức và hoạt động của Cục Điều tra thuộc Viện kiếm sát nhân dân tối cao, chỉ để lại Phòng điều tra Viện kiểm sát cấp tỉnh ở những nơi xét thấy thật cần thiết. Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân chỉ tập trung vào việc điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ của cơ quan tư pháp”. Thực hiện Chỉ thị trên, Ban cán sự Đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã quyết định: Đối với các Phòng điều tra Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh chỉ để lại một số nơi cần thiết, đó là những tỉnh, thành phố tội phạm hình sự xảy ra nhiều, khởi tố vụ án nhiều, bắt tạm giam truy tố nhiều thì dễ xảy ra tội phạm tư pháp; nơi đó cần thiết có Phòng Điều tra. Vì thế, thời gian này các Phòng Điều tra Viện kiểm sát nhân dân chỉ còn tồn tại ở 10 tỉnh, thành phố (không kể Phòng Điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương và 8 Ban Điều tra cấp thứ hai).

Có thể nói, với sự ra đời của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và các văn bản pháp luật khác, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân đã trở thành hệ thống Cơ quan điều tra chuyên trách, độc lập trong hoạt động tố tụng. Hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân thời kỳ này đã góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Vỉện kiểm sát nhân dân và nâng cao uy tín của ngành Kiểm sát nhân dân, được dư luận đồng tình, ủng hộ; góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật.

4. Tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao giai đoạn từ năm 2003 đến nay

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu đã đạt được thông qua việc thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 ra đời đã có một số thay đổi cơ bản theo hướng Viện kiểm sát tập trung thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, nên Cơ quan điều tra chỉ tổ chức ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Tại Điều 1 của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 quy định: “ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao có các Cơ quan điều tra sau đây:

a) Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

b) Cơ quan điều tra Viện kiểm sát Quân sự Trung ương.”

Căn cứ quy định tại Điều 110 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; khoản 2 Điều 3 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Điều 18 của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 thì Cơ quan điều tra Viện kiểm sát có thẩm quyền điều tra các tội phạm sau đây: “Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp”. Cụ thể hoá quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thầm quyền điều tra, tại Điều 4 của Quy chế tổ chức và hoạt động của Cục Điều tra ban hành kèm theo Quyết định số 1169/QĐ - VKSTC-C6 ngày 19/8/2010 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định như sau:

“Cơ quan điều tra viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền điều tra các tội phạm sau đây:

1.  Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại Chương XXII của Bộ luật Hình sự mà người phạm tội là cán bộ của các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân;

2. Các tội phạm có nguồn gốc phát sinh từ việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ các cơ quan tư pháp hoặc liên quan đến việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ các cơ quan tư pháp trong quá trình tiến hành tố tụng (hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động...) ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án;

3. Hành vi phạm tội hoặc người thực hiện hành vi phạm tội có liên quan đến vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang khởi tố, điều tra”.

Về tổ chức bộ máy cán bộ của quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Ngày 13/04/2005, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra Quyết định số 66/2005/QĐ-VKSTC-C6 ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong đó, quy định tổ chức bộ máy Cơ quan điều tra gồm 03 phòng: Phòng Tham mưu tổng hợp (Phòng 1); Phòng Điều tra một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp tại các tỉnh phía Bắc (Phòng 2); Phòng Điều tra một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp tại các tỉnh phía Nam (Phòng 3). Về tổ chức cán bộ, trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2009, Cơ quan điều tra VKSNDTC có 31 biên chế, trong đó có 30 Điều tra viên các cấp.

Đến năm 2010, nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác điều tra tội phạm của Cơ quan điều tra VKSNDTC, Viện trưởng VKSNDTC ký Quyết định số 1169/2010/VKSTC-C6 ngày 19/8/2010 ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Cục Điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Theo nội dung của Quy chế trên, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao được tổ chức thành 5 Phòng nghiệp vụ và 2 Đại diện Thường trực Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam với tổng số 52 biên chế, trong đó có 33 Điều tra viên các cấp; năm 2012, Cục Điều tra được bổ sung 30 biên chế, nâng tổng số thành 82 biên chế. Hiện nay, Cục điều tra đã hoàn thành Đề án “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra VKSNDTC theo yêu cầu cải cách tư pháp” để trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để triển khai thực hiện trong thời gian tới.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi