Một số vấn đề về hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra vụ án hình sự

Lương Hải Yến- Phòng QLKH và TTTL, Trường ĐT, BDNV kiểm sát

Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được qui định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Cùng với chức năng thực hành quyền công tố, chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp được coi là nhiệm vụ xuyên suốt của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát ở nước ta.

Theo qui định tại Khoản 1, Điều 14 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002; khoản 1, Điều 113; điểm a, khoản 1, Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 33 Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, ban hành kèm theo quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/1/2008 của Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao thì khi thực hiện nhiệm vụ kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân (Kiểm sát viên) có trách nhiệm kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra.

Hồ sơ điều tra vụ án hình sự gồm các tài liệu, biên bản hoạt động điều tra là kết quả điều tra của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và các cơ quan khác có thẩm quyền được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do các chủ thể là Kiểm sát viên, Điều tra viên và những người có thẩm quyền tiến hành. Các tài liệu, chứng cứ này được thiết lập, thu thập theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nhằm chứng minh tội phạm, người phạm tội và các tình tiết khác của vụ án.

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với khái niệm: ‘‘Hồ sơ điều tra vụ án hình sự là toàn bộ những tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra vụ án theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự nhằm chứng minh hành vi xảy ra là phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác  có liên quan đến vụ án’’[giáo trình Đào tạo nghiệp vụ kiểm sát năm 2011 của Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát].

Hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra vụ án hình sự là việc Viện kiểm sát nhân dân (Kiểm sát viên) thực hiện các thao tác nghiệp vụ để kiểm tra, giám sát các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra (Điều tra viên) và các cơ quan được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra đảm bảo mọi hoạt động của các cơ quan này được tuân thủ theo đúng qui định của pháp luật tố tụng hình sự. Thông qua hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra vụ án, Kiểm sát viên kiểm tra và nắm chắc được các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên thu thập trong từng giai đoạn điều tra từ đó đề ra yêu cầu điều tra, định hướng điều tra, nhằm kịp thời bổ sung chứng cứ và hoàn thiện các thủ tục tố tụng của vụ án; phát hiện những vi phạm của Điều tra viên khi tiến hành tố tụng để kiến nghị khắc phục. Kết quả hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án là căn cứ để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện “Quyền công tố nhà nước”, quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn… trong quá trình điều tra vụ án.

Hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra vụ án hình sự được tiến hành từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm xảy ra, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh các tố giác, tin báo tội phạm đến khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra đề nghị truy tố hoặc tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án. Kiểm sát viên kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án thông qua việc trực tiếp kiểm sát các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm t thi, khám xét... hoặc gián tiếp thông qua việc nghiên cứu các biên bản hoạt động điều tra như: Biên bản hỏi cung bị can; biên bản ghi lời khai nhân chứng, bị hại; biên bản thu giữ vật chứng; tài liệu liên quan hoặc nghiên cứu các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra. Theo quy định tại Điều 8 Thông tư 01/2010-TTLN-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ công an- Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ điều tra bổ sung thì: ‘‘ Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra phải phối hợp chặt chẽ ngay từ khi tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và trong suốt quá trình điều tra vụ án. Điều tra viên phải chủ động gửi đầy đủ, kịp thời các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được cho Kiểm sát viên thụ lý vụ án và thực hiện đầy đủ các yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát. Kiểm sát viên phải thường xuyên theo dõi, nắm chắc tiến độ điều tra vụ án, nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên đã thu thập, kịp thời đề ra yêu cầu điều tra, chủ động phối hợp với Điều tra viên để điều tra làm rõ những vấn đề cần chứng minh ngay trong giai đoạn điều tra vụ án; đồng thời kiểm sát chặt chẽ các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, bảo đảm việc điều tra vụ án khách quan, toàn diện, đúng pháp luật ’’.

Trong thực tiễn, một trong các tiêu chí đánh giá về trình độ, năng lực của Kiểm sát viên khi tiến hành hoạt động kiểm sát điều tra thông qua hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra đó là ban hành được bản yêu cầu điều tra thật sự đảm bảo chất lượng. Tùy theo từng vụ án cụ thể, Kiểm sát viên có thể đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản hoặc bằng miệng trong trường hợp kiểm sát trực tiếp một số hoạt động điều tra của Điều tra viên như kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường; khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai người bị hại, người làm chứng... Nội dung yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên thể hiện kinh nghiệm nghiệp vụ trong công tác kiểm sát; trình độ về chiến thuật, kỹ thuật, phương pháp điều tra; kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án; kiến thức pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự; khả năng tư duy đánh giá chứng cứ… Yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên sẽ định hướng để Điều tra viên lựa chọn, áp dụng các biện pháp điều tra phù hợp thu thập, củng cố chứng cứ làm sáng tỏ sự thật vụ án không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, một số Kiểm sát viên chưa xác định được hết ý nghĩa của hoạt động này, thực hiện chưa thật sự sát sao, thiếu khoa học; kiến thức pháp luật, khả năng, tư duy đánh giá chứng cứ còn hạn chế, nên yêu cầu điều tra tràn lan, không xác định được những vấn đề mấu chốt của vụ án. Bên cạnh đó, một số Điều tra viên lại chưa có kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức điều tra chuyên sâu, dẫn đến tình trạng nhiều vụ án hết thời hạn điều tra vẫn không thu thập được đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị can hoặc khi kết thúc điều tra mới phát hiện hồ sơ còn thiếu chứng cứ, thủ tục tố tụng chưa đầy đủ ...Đây là một trong những nguyên nhân tình trạng án trả điều tra bổ sung còn xảy ra nhiều.

Như vậy, hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân vừa mang tính phối hợp vừa đảm bảo tính chế ước giữa hai cơ quan tiến hành tố tụng nhằm bảo đảm việc điều tra vụ án đúng quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Theo quan điểm của chúng tôi để hoạt động kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra vụ án hình sự đạt hiệu quả, Kiểm sát viên cần thực hiện một số yêu cầu nghiệp vụ sau:

Thứ nhất, Phải nâng cao nhận thức về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân; có kiến thức tổng hợp chuyên sâu về khoa học pháp lý; sử dụng hiệu quả quyền năng pháp lý của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, thường xuyên nâng cao năng lực, trình độ nghiệp vụ kiểm sát cũng như kỹ năng kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra các vụ án hình sự theo các nội dung cụ thể:

- Khi tiếp nhận hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra chuyển đến để thực hiện kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án, để nghiên cứu xét phê chuẩn các quyết định tố tụng (phê chuẩn khởi tố bị can, gia hạn tạm giữ, tạm giam....), Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc bàn giao hồ sơ vụ án, yêu cầu Điều tra viên phải đóng dấu bút lục trước khi bàn giao. Sau khi kết thúc việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, ban hành các quyết định tố tụng, Kiểm sát viên phải đóng dấu của Viện kiểm sát vào các tài liệu, chứng cứ đã nghiên cứu và chuyển trả lại Cơ quan điều tra. Việc chuyển giao hồ sơ vụ án phải đảm bảo theo đúng quy định tại thông tư 05/TTLN-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005 của Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao- Bộ công an- Bộ Quốc phòng và quy định tại Điều 33 Quy chế thực hành quyền công tố và Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự. Đảm bảo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án phải được thu thập theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng.

- Kiểm sát viên phải nắm chắc trình tự, thủ tục tố tụng của vụ án, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, đảm bảo việc thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra; nghiên cứu các tài liệu là nguồn chứng cứ có trong hồ sơ để tổng hợp, đánh giá chứng cứ của vụ án, xác định những vấn đề đã được chứng minh, những vấn đề cần tiếp tục làm rõ, thực hiện quyền năng pháp lý, đó là đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra.

- Quá trình kiểm sát việc lập hồ sơ điều tra vụ án hình sự, nếu thấy còn nghi ngờ vấn đề gì trong vụ án hoặc chứng cứ do Điều tra viên thu thập chưa đủ căn cứ vững chắc chứng minh làm rõ những tình tiết cần chứng minh trong vụ án; lời khai của bị can mâu thuẫn với lời khai của những người tham gia tố tụng khác… theo quy định tại khoản 2, Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Điểm 2, Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự, Kiểm sát viên có thể trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra như hỏi cung bị can, lấy lời khai người bị hại, người làm chứng… để củng cố thêm chứng cứ của vụ án. Các biên bản hoạt động điều tra của Kiểm sát viên phải đưa vào hồ sơ vụ án, đánh số bút lục, đưa vào bảng thống kê bút lục theo qui định tại Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSDNDTC-BCA-BQP để tránh tình trạng thất lạc tài liệu là kết quả hoạt động điều tra của Viện kiểm sát và là căn cứ  khi phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra.

Thứ hai, tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát (quan hệ giữa Kiểm sát viên - Điều tra viên) ngay từ khi phát hiện thấy có dấu hiệu tội phạm đến khi vụ án được kết thúc điều tra. Quá trình điều tra, Kiểm sát viên thường xuyên liên hệ, phối hợp với Điều tra viên nắm chắc tiến độ điều tra, yêu cầu Điều tra viên bổ sung các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong các bước điều tra tiếp theo để nghiên cứu, tiếp tục đề ra các yêu cầu điều tra đối với Điều tra viên, nếu phát hiện có tình tiết mới, có đồng phạm thì yêu cầu khởi tố để điều tra và xử lý theo pháp luật, nếu phát hiện thấy thiếu sót, vi phạm của Điều tra viên trong quá trình điều tra thì yêu cầu khắc phục ngay giúp cho hoạt động điều tra ngày càng hiệu quả, góp phần thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được giao./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi