Vấn đề sửa đổi quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003

TS. Nguyễn Văn Quảng - Phó Viện trưởng VKSND TP. Hải Phòng

1.        Sự cần thiết của việc sửa đổi các quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003

Thủ tục rút gọn được quy định tại Chương XXXIV của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2003, gồm 7 Điều (từ Điều 318 đến Điều 324). Việc quy định thủ tục rút gọn trong BLTTHS năm 2003 là sự thể chế hoá các quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp (Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 cùa Bộ Chính trị), nhằm đáp ứng với các yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và kế thừa phát huy các thành tựu trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam. Đây là một trình tự, thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt nhằm điều tra, truy tố, xét xử nhanh chóng những vụ án ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, đơn giản, chứng cứ và nhân thân người phạm tội rõ ràng. Áp dụng thủ tục rút gọn sẽ thúc đẩy nhanh quá trình giải quyết các vụ án có mức độ nguy hiểm không lớn, hạn chế việc tồn đọng án ở một số địa phương, khắc phục tình trạng quá tải trong nhà tạm giữ, trại tạm giam. Đồng thời, còn tạo điểu kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng có thời gian và lực lượng tập trung giải quyết tốt hơn những loại án nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và những loại án có nhiều bị can, án phạm tội có tổ chức...

Thủ tục rút gọn là biện pháp quan trọng để tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí cho việc điều tra, truy tố, xét xử một số loại tội phạm

nhất định, thể hiện tính kinh tế trong tố tụng hình sự; qua đó, sẽ tăng cường hiệu qủa của việc đấu tranh phòng, chống các tội phạm. Áp dụng thủ tục này để giải quyết án hình sự sẽ làm thay đổi về nhận thức và phương pháp làm việc của những người tiến hành tố tụng; là một biểu hiện cụ thể của quá trình cải cách trình tự tố tụng tư pháp ở nước ta.

Việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án một cách nhanh chóng không chỉ sớm đưa tội phạm ra xử lý trước pháp luật, mà còn nhanh chóng khôi phục lại các quan hệ xã hội bị xâm phạm: Người bị hại sớm được bồi thường, người phạm tội cũng có điều kiện sớm được cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội. Điều nảy, có tác dụng rất lớn trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên, thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, thủ tục rút gọn đưọc quy định trong BLTTHS năm 2003 đã không đi vào “đời sống” tố tụng hình sự. Quá trình áp dụng thù tục rút gọn trong thực tiễn không đạt được hiệu quả và mục đích cùa thủ tục này; điều này được thể hiện ở số lượng án hình sự được áp dụng thủ tục rút gọn là rất thấp (chiếm 0,57% số luợng án đã giải quyết, trong khi án ít nghiêm trọng luôn chiếm tỷ lệ khoảng 50% số án đã giải quyết ở các địa phương). Một điều đáng chú ý là, thủ tục rút gọn được quy định để giải quyết các vụ án ít nghiêm trọng khi có đủ các điều kiện khác nhưng thực tế thủ tục này chủ yếu chi áp dụng giải quyết các vụ án trộm

Cắp tài sản (chiếm khoảng 97%) mà không áp dụng giải quyết các loại tội phạm khác; trình tự điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn còn rườm rà, mới rút ngắn về thời gian nhưng chưa giản lược về thủ tục, gây áp lực và tâm lý ngại áp dụng thủ tục này để giải quyết án của cơ quan và ngưòi tiến hành tố tụng. Thực tiễn áp dụng cũng thể hiện những bất lợi cho bị can, bị cáo về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn và quyết định hình phạt (các bị can phần lớn bị áp dụng biện pháp tạm giam, sau đó bị phạt tù). Đây là nhũng vấn đề cần phải khắc phục trong tố tụng hình sự nước ta.

Nguyên nhân của thực trạng trên là do các quy định về thủ tục rút gọn trong BLTTHS năm 2003 không phù hợp với thực tiễn, tạo ra những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện. Những vướng mắc tập trung vào các vấn đề cơ bản như sau:

Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn như hiện nay là quá hẹp và nhận thức của những người tiến hành tố tụng về 4 điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại Điều 319 của BLTTHS năm 2003 là không đầy đủ và chưa thống nhất. Đặc biệt là về điều kiện sự kiện phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng và điều kiện người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng. Ngoài ra, thực tiễn cũng cho thấy, nếu thủ tục rút gọn chỉ áp dụng đối với trường hợp phạm tội quả tang và đối với các tội phạm ít nghiêm trọng là sự bó hẹp về mặt cơ học đối vói thủ tục này. Trong khi thực tế hoàn toàn có thể áp dụng thủ tục này vói các tội phạm nghiêm trọng khi sự kiện phạm tội là rõ ràng.

Về thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn, theo quy định cùa BLTTHS năm 2003 thì chỉ có Viện kiểm sát là chủ thể duy nhất có thẩm quyền áp dụng và huỷ bỏ thủ tục này cho cả ba giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Như vậy, đã tạo ra sự không chủ động và thiếu trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Toà án trong việc giải quyết án hình sự theo thủ tục rút gọn; đồng thời, tạo ra sự lòng vòng trong trình tự giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn (Cơ quan điều tra phải đề nghị để Viện kiểm sát ra quyết định hoặc Toà án phải trà lại hồ sơ để Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định áp dụng thủ tục này).

Trong hoạt động điều tra: Bất cập lớn nhất là việc thời hạn điều tra, tạm giữ, tạm giam quá ngắn trong khi trình tự, thủ tục để giải quyết vụ án vẫn giống như thủ tục chung, không được giản lược, kể cả các thủ tục về hành chính tư pháp, điều này đã gây tâm lý “sợ” làm án rút gọn của Điều tra viên. Nếu có áp dụng thủ tục rút gọn thì Điều tra viên cũng tìm những vụ án có các tiêu chí để đủ điều kiện tạm giam được bị can nhằm thuận lợi trong quá trình giải quyết án.

Trong hoạt động truy tố: Thời hạn truy tố chưa phù hợp vói thực tiễn, các quy định hiện nay không tạo ra các cơ chế linh hoạt trong việc chuyển từ việc truy tố theo thủ tục rút gọn sang truy tố theo thủ tục chung hoặc ngược lại. Ngoài ra, các thủ tục trong giai đoạn truy tố chưa có hưóng dẫn thực hiện thống nhất.

Trong hoạt động xét xử: Vướng mắc lớn nhất là trình tự, thủ tục xét xử không được giản lược so với thủ tục chung, thể hiện sự “nhàm chán” tại phiên toà, gây lãng phí về nhân lực và vật lực cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Không có các cơ chế linh hoạt để chuyển từ xét xử theo thủ tục rút gọn sang xét xử theo thủ tục thông thường khi vụ án không còn đủ điều kiện và ngược lại không có quy định để Toà án áp dụng thủ tục rút gọn ở giai đoạn xét xử khi vụ án có đủ điều kiện, nhất là trong giai đoạn xét xử phúc thẩm.

Nghiên cứu, so sánh thủ tục rút gọn theo quy định của BLTTHS Việt Nam và Luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới cho thấy, còn có nhiều điểm hạn chế trong các quy định về thủ tục rút gọn trong BLTTHS Việt Nam và có những nhân tố hợp lý của tố tụng rút gọn nhiều nước phù hợp với Việt Nam cần được xem xét tiếp thu.

Hiện nay, BLTTHS năm 2003 của việt Nam chỉ xác đinh phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn từ giai đoạn điều tra đến giai đoạn xét xử sơ thẩm (Điều 318). Tuy nhiên, khi so sánh với các quy định trước đây trong tố tụng hình sự Việt Nam cũng như quy định trong Luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới cho thấy, thủ tục rút gọn được áp dụng cả trong quá trình xét xử phúc thẩm (Hàn Quốc, Nhật Bản). Như vậy, các quy định hiện hành trong tố tụng hình sự Việt Nam xác định phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn là hẹp hơn so vói nhiều nước trên thế giới.

Điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn là những căn cứ cần và đủ để một vụ án hình sự có thể được giải quyết bằng thủ tục rút gọn. Điều này có nghĩa là chỉ được áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết một vụ án khi vụ án đó thỏa mãn các điều kiện theo quy định của BLTTHS. Hiện nay, Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam quy định 4 điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn (Điều 319). Những quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự của các nước trên thế giới cũng có những điểm tưong đồng như BLTTHS Việt Nam, thường được áp dụng đối với các vụ án có chứng cứ đơn giản, rõ ràng, mức hình phạt không lớn hoặc các hành vi phạm tội vi cảnh mà hình phạt đối với các tội ấy là phạt tiền hoặc phạt tù với mức hình phạt thấp. Nhưng cũng có những điểm khác biệt cơ bản cần nghiên cứu tiếp thu, đó là: Không quy định nhiều điều kiện như BLTTHS Việt Nam mà chỉ tập trung vào việc quy định các điều kiện thuộc về sự đơn giản, rõ ràng của tội phạm; mức hình phạt có thể áp dụng, trong đó quy định khá rõ về các điều kiện để ra bản án nhanh, điều kiện để xét xử bút lục. Bên cạnh đó là việc xác định thủ tục rút gọn không áp dụng đối với người chưa thành niên, việc ra bản án không cần phải xét xử khi có sự đồng ý của người bị hại, bị can.

Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước cho thấy, Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam cần mở rộng thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khác là Cơ quan điều tra, Tòa án và không bó hẹp một chủ thể duy nhất có thẩm quyền quyết định là Viện kiểm sát như quy định hiện nay. Trong BLTTHS Việt Nam, thủ tục rút gọn mới quy định về sự rút ngắn thời hạn giải quyết vụ án, còn các trình tự khác vẫn giống như thủ tục chung. Ngược lại, Luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới tập trung vào việc giản lược một cách tối đa các trình tự trong thủ tục rút gọn với các hình thức xét xử bút lục, xét xử không phải thực hiện đầy đủ các trình tự như thủ tục thông thường; Hội đồng xét xử gồm một Thẩm phán... Đây là nhũng vấn đề đã được quy định trong thủ tục giản lược, thủ tục rút ngắn ở nước ta trước đây nhung không được tiếp thu và phát triển khi xây dựng thủ tục rút gọn trong BLTTHS năm 2003.

Xuất phát từ vai trò quan trọng của thủ tục rút gọn, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã tiếp tục chi đạo Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định”. Đây rõ ràng là một yêu cầu mới về thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử, vì theo quy định của BLTTHS năm 2003 trong giai đoạn xét xử giữa thủ tục chung và thủ tục rút gọn chỉ khác nhau về thời hạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà Kiểm sát viên đọc quyết định truy tổ thay cho việc đọc cáo trạng, còn các trình tự khác giống như thủ tục chung. Mặt khác, thủ tục rút gọn do Viện kiểm sát quyết định từ giai đoạn điều tra đến khi xét xừ. Vì vậy, Toà án không có thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục này để xét xử nhanh chóng các vụ án có đủ điều kiện; do đó, cũng làm hạn chế việc áp dụng thủ tục này trong thực tiễn, nhiều vụ án đơn giản, rõ ràng không được giải quyết sớm, trong khi Luật tố tụng của nhiều nước trên thế giới chủ yếu áp dụng thủ tục này trong giai đoạn xét xử.

Từ những phân tích như trên cho thấy, cần có những sửa đồi toàn diện các quy định về thủ tục rút gọn trong BLTTHS Việt Nam để thủ tục này phát huy được hiệu quả trong thực tiễn và phù hợp vói xu hướng tố tụng hình sự thế giói.

2.        Phương hướng hoàn thiện thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam

Yêu cầu cùa việc hoàn thiện các quy định về thủ tục rút gọn phải phù hợp với các định hướng, quan điểm lớn của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nuớc pháp quyền nói chung và xây dụng hệ thống pháp luật, cũng như cải cách tư pháp nói riêng. Hoàn thiện thủ tục rút gọn nhằm giải quyết nhanh chóng, chính xác một số loại tội phạm nhưng phải bảo đảm các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự; đồng thời, bảo vệ được các quyền và lợi ích cơ bản của công dân, đảm bảo tính kế thừa và hiện đại. Những nội dung của việc hoàn thiện cần tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:

2.1.       Hoàn thiện phạm vi và thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn

Cần phải mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn đến giai đoạn xét xử phúc thẩm và áp dụng đối với các vụ án ở giai đoạn điều tra, truy tố chưa áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết mà đến giai đoạn xét xử có đủ điều kiện để xét xử rút gọn. Đồng thời, bổ sung thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra và Tòa án. Tạo sự chủ động cho Cơ quan điều tra và Tòa án trong việc quyết định áp dụng thủ tục này để giải quyết án hình sự thuộc thẩm quyền khi có đủ các điều kiện. Điều quan trọng là: cần có quy định mang tính chất bắt buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng thủ tục này khi vụ án có đủ điều kiện.

2.2.       Hoàn thiện về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn

Qua nghiên cứu cho thấy: Sự kiện phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng là điều kiện cốt lõi để quyết định cho việc áp dụng thủ tục rút gọn. Do đó, không nên chỉ bó hẹp việc áp dụng thủ tục này đối với trường họp phạm tội quả tang, phạm tội ít nghiêm trọng mà cần mở rộng cả đối với trường hợp tự thú, đầu thú và đối với cả tội nghiêm trọng.

Do mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn đến giai đoạn xét xử phúc thẩm nên cần phải xác định điều kiện để áp dụng ở giai đoạn này. Đồng thời, đã mở rộng thẩm quyền áp dụng cho Tòa án thì cần phải xác định điều kiện áp dụng ở giai đoạn xét xử đối với các vụ án trước đó chưa áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết. Trong đó, cần bổ sung vấn đề ý chí của bị can là một điều kiện để xét xử rút gọn (bị can chấp nhận quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Tòa án).

2.3.       Hoàn thiện các quy định về thời hạn điều tra, truy tố, xét xử và tạm giữ, tạm giam theo thủ tục rút gọn

Thời hạn điều tra cần tăng từ 12 ngày lên 20 ngày cho phù hợp với quy định tại Điều 111 của BLTTHS. Cho phép có gia hạn tạm giữ 1 lần trong thủ tục rút gọn để khắc phục tình trạng không muốn áp dụng thủ tục rút gọn do áp lực về thời gian và lạm dụng việc tạm giam bị can khi giải quyết vụ án rút gọn.

Thời hạn truy tố tăng từ 4 ngày lên 5 ngày, thời hạn chuẩn bị xét xử là 15 ngày và bổ sung thời hạn hoãn phiên tòa vì lý do khách quan là 5 ngày để tạo sự linh hoạt trong quá trình truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn.

2.4.       Hoàn thiện về trình tự điều tra, truy tố theo thủ tục rút gọn

Cần có quy định cụ thể về trình tự điều tra theo thủ tục rút gọn để phù hợp với yêu cầu giản lược về trình tự, thủ tục (đây là điểm khác biệt cơ bản cần phải hoàn thiện trong thủ tục rút gọn so với thủ tục chung). Ngoài ra, việc sửa đổi, bổ sung các quy định hiện nay về việc điều tra, truy tố theo thủ tục rút gọn theo hướng đầy đủ và chặt chẽ hơn sẽ tạo sự linh hoạt trong việc chuyển từ thủ tục rút gọn sang thủ tục tố tụng thông thường, không phức tạp như hiện nay.

2.5.    Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn

Đây là vấn đề có tính chất cơ bản nhất trong thủ tục rút gọn mà cải cách tư pháp đang đặt ra (Nghị quyết số 49). Trong đó, cần xác định rõ các điều kiện và trình tự để Tòa án áp dụng thủ tục rút gọn trong cả giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thầm; xác định cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc xét xử rút gọn bằng một Thẩm phán; xác định vai trò của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Đặc biệt là xác định cụ thể các trình tự, thủ tục rút gọn tại phiên tòa xét xử sơ thẩm và cần áp dụng hình thức xét xử bút lục tại phiên tòa phúc thầm. Có các quy định để chuyển đổi linh hoạt từ hình thức xét xử rút gọn sang xét xử theo thủ tục thông thường.

2.6.      Bảo đảm quyển bào chữa và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo trong thủ  tục rút gọn

Quy định rõ trách nhiệm giải thích và gửi các quyết định cho bị can, bị cáo khi áp dụng thủ tục rút gọn; rút ngắn thời hạn cấp giấy chứng nhận quyền bào chữa, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thủ tục rút gọn. Đặc biệt, cần có các quy định về việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo khi áp dụng thủ tục rút gọn như trong BLTTHS Liên bang Nga, để đảm bảo sự công bằng giữa lợi ích của Nhà nước và quyền lợi của bị can, bị cáo trong thủ tục rút gọn.

Từ phương hướng hoàn thiện thủ tục rứt gọn đã đặt ra yêu cầu cần phải sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới nhiều nội dung trong Chương XXXIV của BLTTHS năm 2003 để thủ tục rút gọn thực sự đáp ứng yêu cầu xử lý, đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Đồng thời, cần có sửa đổi đối với các quy phạm pháp luật có liên quan đến thủ tục này như: Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự; Pháp lệnh Giám định tư pháp và các trình tự hành chính tư pháp khác.

3. Những nội dung đề xuất sửa đổi các quy định pháp luật có liên quan đến thủ tục rút gọn (những phần in nghiêng là nội dung sửa đổi, bổ sung so với quy định của Hiến pháp năm 1992 và Chương 34 của BLTTHS năm 2003)

Thứ nhất, sửa đổi Điều 131 Hiến pháp năm 1992 để tạo cơ sở pháp lý cho việc xét xử như Hiến pháp năm 1959:

Điều 131 (sửa đổi): Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định. Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp đặc biệt do luật định.

Thứ hai, những nội dung sửa đổi và xây dựng mới trong BLTTHS:

Điều 15. Thực hiện chế độ xét xử cả Hội thẩm tham gia (sửa đổi)

Việc xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia, trừ trường hợp xét xử do một Thẩm phán tiến hành theo quy định tại Chương XXXIV Bộ luật này.

Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền vói Thẩm phán.

Điều 17.  Toà án xét xử tập thể (sửa đổi)

Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử do một Thẩm phán tiến hành theo quy định tại Chương XXXIV Bộ luật này.

Điều 318. Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn (sửa đổi)

Thủ tục rút gọn đối với việc điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được áp dụng theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương này.

Thủ tục này không áp dụng để điều tra, truy tố, xét xử đối với người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần.

Điều 318 a. Trách nhiệm áp dụng thủ tục rút gọn (mới)

Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình phải áp dụng thủ tục rút gọn đế giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số tội phạm cụ thể khi có đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật này.

Điều 319. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố (sửa đổi)

Thủ tục rút gọn được áp dụng khi vụ án có đủ các điều kiện sau đây:

1. Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, hoặc người đó ra đầu thú, tự thú;

2.  Sự việc phạm tội đon giản, chúng cứ rõ ràng;

3. Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, hoặc tội phạm nghiêm trọng,

4. Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng.

Điều 319a. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử (mới)

1.  Trong giai đoạn xét xử sơ thầm, thủ tục rút gọn được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau:

a. Bị cáo nhận tội ở giai đoạn điều tra, truy tố;

b.  Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;

c. Sự việc phạm tội đơn giản; chứng cứ về các tình tiết của vụ án, nhân thân của bị cáo đã đầy đủ, rõ ràng;

d. Viện kiểm sát thống nhất và bị cáo không khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Toà án.

2.  Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, thủ tục rút gọn được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau:

a. Bị cáo có mặt và nhận tội tại phiên tòa sơ thẩm;

b. Bị cáo đã bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng với đầy đủ chứng cứ và đúng quy định của pháp luật;

c.   Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giảm mức bồi thường và Viện kiểm sát không kháng nghị, người tham gia tố tụng không kháng cáo tăng hình phạt, tăng bồi thường;

d. Có sự thống nhất bằng văn bản của Viện kiểm sát cùng cấp.

Điều 320. Thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn (sửa đổi)

1. Sau khi khởi tố vụ án, nếu xét thấy vụ án có đủ các điều kiện quy định tại Điều 319 của Bộ luật này, Cơ quan điểu tra phải ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn phải được gửi cho Viện kiểm sát và bị can trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.

2.  Viện kiếm sát cùng cấp trong hoạt động thực hành quyển công tố và kiểm sát điếu tra nếu thấy vụ án có đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định của Điều 319 Bộ luật này mà Cơ quan điều tra không áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án thì Viện kiểm sát yêu cầu hoặc tự mình ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Viện kiếm sát phải được gửi cho Cơ quan điều tra và bị can trong thời hạn 24 giờ, kế từ khi ra quyết định.

Khi quyết định việc truy tố, nếu xét thấy vụ án có đủ điều kiện xét xử theo thủ tục rút gọn thì Viện kiểm sát có thể đề nghị Tòa án xét xứ theo thủ tục rút gọn.

3.  Thẩm phán được phân công là chủ tọa phiên tòa quyết định áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 319a Bộ luật này, kể cả đối với những vụ án chưa áp dụng thủ tục rút gọn trong các giai đoạn tố tụng trước đó (hoặc quy định: Thẩm phán được phân công là chủ tọa phiên tòa quyết định áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử đối với các vụ án chưa được áp dụng thủ tục này trong giai đoạn điều tra, truy tố nhưng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm có đủ các điều kiện quy định tại Điều 319a Bộ luật này).

Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn phải được gửi cho Viện kiểm sát, bị cáo trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định.

4. Những người tiến hành tố tụng phải giải thích cho bị can, bị cáo biết rõ về thủ tục rút gọn và các quyền lợi cũng như nghĩa vụ của bị cáo khi vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn việc giải thích phải được lập thành biên bản theo quy định của Bộ luật này.

5. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn có thể bị khiếu nại. Bị can, bị cáo hoặc người bảo vệ quyền lợi của họ có quyền khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; thời hiệu khiếu nại là ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định. Khiếu nại được gửi đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và phải được giải quyết trong thời hạn hai ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại.

Thẩm quyền, trình tự giải quyết khiếu nại theo quy định cùa Bộ luật này. Nếu xét thấy khiếu nại là có cơ sở thì người có thầm quyền giải quyết khiếu nại ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.

Điều 321. Điều tra (sửa đổi)

1. Thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn là hai mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

2. Trình tự, thủ tục điều tra theo thủ tục rút gọn được thực hiện theo quy định của Bộ luật này và Pháp lệnh tổ chức điều  tra hình sự.

3. Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải ra một trong các quyết định sau:

a) Quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát;

b) Tạm đinh chỉ điều tra vụ án;

c) Đình chỉ điều tra vụ án.

Việc tạm đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra vụ án thực hiện theo quy định của Điều 160, Điều 164 Bộ luật này. Trong trường hợp phải tạm đình chỉ hoặc đình chỉ theo điểm b, c khoản 2 Điều này thì Cơ quan

điều tra phải ra quyết định huỷ bỏ hoặc đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.

Điều 322. Tạm giữ, tạm giam để điều tra, truy tố (sửa đổi)

1. Căn cứ, thầm quyền và thủ tục tạm giữ, tạm giam được áp dụng theo quy định của Bộ luật này.

2. Thời hạn tạm giữ không được quá sáu ngày, kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận người bị bắt.

3. Thời hạn tạm giam để điều tra, truy tố không được quá hai mươi lăm ngày. Nếu đã tạm giữ thì thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra.

Điều 322a. Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo (mới)

Bị can, bị cáo thực hiện quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa theo quy định củaBộ luật này. Thời hạn cấp giấy chứng nhận người bào chữa là 24 giờ, kế từ khi cơ quan tiến hành tố tụng nhận được để nghị của người bào chữa.

Điều 323. Quyết định việc truy tố (sửa đổi)

1. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây:

a) Truy tố bị can trước Tòa án bằng quyết định truy tố;

b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

c) Tạm đình chỉ vụ án;

d) Đình chỉ vụ án.

đ) Hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn để truy tố bị can bằng bản cáo trạng.

2. Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung; tạm đình chỉ,  đình chỉ vụ án được thực hiện theo quy định của Điều 168, Điều 169 Bộ luật này. Trong trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tạm đình chỉ vụ án quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 1 Điều này, thì Viện kiểm sát phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định áp

dụng thủ tục rút gọn, chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra và vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.

3.  Khi có căn cứ hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn để truy tố bằng bản cáo trạng thì thời hạn truy tố thực hiện theo quy định của Điều 166 Bộ luật này và thời hạn được tính từ ngày Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án.

Điều 324. Xét xử sơ thẩm (sửa đổi)

1. Trong thòi hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án đã áp dụng thủ tục rút gọn, Thẩm phán được phân công xét xử vụ án phải ra một trong các quyết định sau đây:

a) Đưa vụ án ra xét xử;

b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

c) Tạm đình chỉ vụ án;

d)  Đình chỉ vụ án.

2. Đối với những vụ án chưa có quyết định áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử vụ án trên cơ sở đề nghị của Viện kiểm sát hoặc xét thấy có đủ điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn thì phải quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn.

3. Trong trường hợp quyểt định đua vụ án ra xét xử quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều này thì trong thòi hạn năm ngày, kể từ ngày ra quyết định, Toà án phải mở phiên toà xét xử vụ án. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được giao ngay cho bị cáo, Viện kiểm sát những người cần phải tham gia tố tụng tại phiên tòa trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định. Trường hợp phải hoãn phiên tòa vì lý do khách quan thì thời hạn mở lại phiên tòa không quá năm ngày.

Trường hợp quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn theo khoản 2 Điều này bị khiếu nại và bị hủy bỏ thì vụ án được giải quyết theo thủ tục chung. Thời hạn đã giải quyết theo thủ tục rút gọn được trừ vào thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục chung.

4. Trong trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tạm đình chỉ vụ án quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 1 Điều này thì Tòa án hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát và vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.

5. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm việc xét xử. Thời hạn tạm giam theo thời hạn chuẩn bị xét xử và không được quá hai mươi ngày.

Điều 324a. về thủ tục tổ tụng tại phiên tòa sơ thẩm (mới)

1. Việc xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn được áp dụng theo các quy đinh của Chương này, đồng thời theo các quy định khác của Bộ luật này nhưng không trái với những quy định của Chương này. Phiên tòa do một Thẩm phán và một Thư ký tiến hành có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp.

2.  Sau phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đọc quyết định truy tố bị cáo. Nếu bị cáo và những người tham gia tố tụng khác (nếu có) chấp nhận toàn bộ chứng cứ và quyết định truy tố của Viện kiểm sát thì Hội đồng xét xử trên cơ sở đề nghị của Viện kiểm sát có thể không cần xét xử mà quyết định hình phạt ngay, quyết định có giá trị như bản án sơ thẩm.

Trường hợp bị cáo hoặc người tham gia tố tụng khác phản đối, không chấp nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát thì Toà án tiến hành xét xử với những trình tự như thủ tục chung nhưng không có phần nghị án. Nếu có căn cứ theo quy định của Điều 194; Điều 202; Điều 205 Bộ luật này thì Thẩm phán xét xử phải hoãn phiên tòa để tiến hành việc xét xứ theo thủ tục chung với sự tham gia của Hội thẩm nhân dân, thời hạn hoãn phiên tòa trong trường họp nêu trên được thực hiện theo quy định tại Điều 194 Bộ luật này.

Điều 324b. Hình phạt áp dụng trong thủ tục rút gọn (mới)

Quyết định hình phạt trong thủ tục xét xử rút gọn được thực hiện theo quy định của Bộ luật Hình sự. Trường hợp áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo thì mức hình phạt không được quá ba phần tư mức hình phạt tù mà Điều luật quy định.

Điều 324c. Xét xử phúc thẩm (mới)

1. Đối với nhũng vụ án có đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại khoản 2 Điều 3l9a của Bộ luật này thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết định xét xử theo thủ tục rút gọn sau khi thống nhất vớ Viện kiểm sát cùng cấp.

2.  Việc xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn được áp dụng theo các quy định của chương này, đồng thời theo các quy định khác của Bộ luật này nhưng không trái với các quy định của Chương này.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên tòa phúc thẩm nếu xét thấy vụ án không đủ điều kiện để xét xử theo thủ tục rút gọn, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

3.  Thời hạn xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn của các Tòa án cấp phúc thẩm bằng một phần ba thời hạn quy định tại Điều 242 Bộ luật này. Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cấp phúc thẩm là năm ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát thụ lý vụ án. Thời hạn tạm giam không được quá thời hạn xét xử phúc thẩm quy định tại Điều này.

4. Việc xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán và một Thư ký tiến hành, có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Việc tham dự phiên tòa của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác là không bắt buộc. Nếu vắng mặt, bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền gửi văn bản để trình bày về nội dung kháng cáo.

5. Thủ tục tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm theo thủ tục rút gọn:

Sau thủ tục khai mạc phiên tòa, Thẩm phán đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thư ký báo cáo về sự có mặt của những người tham gia tố tụng (nếu có). Thẩm phán tóm tắt nội dung vụ án, nội dung khán cáo, xét hỏi những người tham gia tố tụng (nếu có), nêu những tình tiết, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xác định nội dung kháng cáo; Kiểm sát viên nêu quan điểm giải qtuyết vụ án của Viện kiểm sát. Trên cơ sớ đó, Thẩm phán xem xét quyết định chấp nhận hay không chấp nhận kháng cáo. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày ký.

Điều 324d. Xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm (giữ nguyên)

Việc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ án đã xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn được tiến hành theo thủ tục chung.

Tóm lại, ngoài những nội dung sửa đổi các quy định của pháp luật, để đưa thủ tục rút gọn vào đời sống của tố tụng hình sự cần có các giải pháp đồng bộ về việc hướng dẫn, giải thích các quy phạm về thủ tục này; cần có các biện pháp tổ chức triển khai áp dụng thủ tục này vào hoạt động điều tra, truy tố và xét xử. Trong đó giải pháp tăng cường vai trò chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn của lãnh đạo các ngành, các cơ quan tiến hành tố tụng ở các cấp giữ vai trò quyết định. Các giải pháp về việc xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và giải pháp về nâng cao trách nhiệm, kỹ năng nghiệp vụ của Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán là những giải pháp đảm bảo cho thủ tục rút gọn được thực hiện tốt trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử. Bên cạnh đó là việc phải chuẩn bị tốt các điều kiện về nhân lực, vật lực cho các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm và phúc thẩm theo lộ trình cải cách tư pháp.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi