Hoàn thiện chế định hợp tác quốc tế trong Tố tụng Hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Thiếu tướng, GS. TS. Nguyễn Ngọc Anh - Vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ Công an

1. Nhận thức chung về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự

Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự (TTHS) có ý nghĩa quan trọng về chính trị - xã hội cũng như pháp lý, góp phần thể chế hoá và thực hiện đường lối đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá, tăng cuờng hội nhập, hợp tác quốc tế đã được ghi nhận trong các Văn kiện của Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã xác định: “Tổ chức thực hiện tốt các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia. Tiếp tục ký kết hiệp định tương trợ tư pháp (TTTP) với các nước khác, trước hết là với các nước láng giềng, các nước trong khu vực... Tăng cường sự phối hợp chung trong hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm có yếu tố quốc tế và khủng bố”... Tiếp đó, ngày 22/10/2010, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 48-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, trong đó nhấn mạnh: “Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong công tác phòng, chống tội phạm, trước hết là với các nuớc láng giềng, các nước có quan hệ truyền thống, các nước trong khu vực ASEAN. Tổ chức thực hiện tốt các công ước quốc tế, hiệp định TTTP, hiệp định hợp tác phòng, chống tội phạm mà Nhà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập. Tiếp tục nghiên cứu tham gia, ký kết các điều ưóc quốc tế khác liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm” [1] .

Trên bình diện pháp lý, hợp tác quốc tế trong TTHS góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm có yếu tố nước ngoài nói riêng. Thông qua hợp tác quốc tế trong TTHS góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hoá hiện nay. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (BLTTHS năm 2003), lần đầu tiên Nhà nước ta quy định về hợp tác quốc tế trong TTHS, gồm 2 chương (Chương 36, 37) với 7 điều (từ Điều 340 đến Điều 346). Tiếp đó, ngày 21/12/2007, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật TTTP, gồm 7 chương với 72 điều, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2008. Luật đã thể chế hoá chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, quan điểm của Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, hợp tác quốc tế trong TTHS nói riêng. Luật TTTP được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các cơ quan chức năng của Việt Nam hợp tác với các đối tác nước ngoài thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế trong TTHS như: TTTP về hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, góp phần phục vụ yêu cầu tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ trên mọi lĩnh vực với các quốc gia trên thế giới của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.

2. Nguyên tắc của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự

Với tính chất là một bộ phận của chính sách đối ngoại, hợp tác quốc tế trong TTHS luôn tuân thủ các nguyên tắc quan hệ quốc tế mang tính chất chung của các quốc gia trong cộng đồng quốc tế theo khuôn khổ Tuyên bố của Liên hợp quốc về các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia. Cụ thể hoá các nguyên tắc trên, thực hiện nhất quán chính sách đối ngoại vì hoà bình, hữu nghị, đa phương hoá, đa dạng hoá, Đảng ta khẳng định: “Mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ... theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bình đẳng và cùng có lợi” [2] . Thể chế hoá quan điểm trên, BLTTHS năm 2003 đã quy định các nguyên tắc cơ bản của hợp tác quốc tế trong hoạt động TTHS tại Điều 340 như sau:

- Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia;

- Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;

- Bình đẳng cùng có lợi;

- Phù hợp với Hiến pháp của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam;

- Phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế.

- Hợp tác quốc tế trong hoạt động TTHS được tiến hành phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập và phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam.

- Trong trường hợp Việt Nam chưa ký kết hoặc chưa gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan thì việc hợp tác quốc tế trong hoạt động TTHS được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế [3] .

Luật TTTP năm 2007 tiếp tục phát triển các nguyên tắc và quy định về TTTP trong lĩnh vực dân sự và lĩnh vực hình sự được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 và BLTTHS năm 2003, phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên, phù hợp với Hiến pháp luật Việt Nam. Việc chấp nhận nguyên tắc có đi có lại trong TTTP không được trái với pháp luật Việt Nam, pháp luật và tập quán quốc tế (Điều 3 và Điều 4 Luật TTTP năm 2007).

Đó là những nguyên tắc rất quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho việc hợp tác quốc tế song phương và đa phương giữa các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành TTHS của nước ta (trong đó có cơ quan tiến hành tụng) với các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành TTHS của các quốc gia khác; của các tổ chức quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và quá trình giải quyết từng vụ án hình sự cụ thể nói riêng.

3. Các điều ước quốc tế làm cơ sở pháp lý cho hợp tác quốc tế trong TTHS

a) Trong các điều ước quốc tế đa phương thì các điều ước sau đây là cơ sở pháp để cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam thực hiện hợp tác với các cơ quan tố tụng nước ngoài trong hoạt động TTHS, ba công ước quốc tế của Liên hợp quốc về phòng, chống ma túy, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng; chín điều ước quốc tế và khu vực ASEAN về chống khủng bố; Công ước quốc tế về quyền trẻ em và các Nghị định thư bổ sung; Hiệp định TTTP về hình sự giữa các nước ASEAN. Hiện nay, Nhà nước ta trong quá trình hoàn thiện các thủ tục pháp lý để phê chuẩn việc gia nhập Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

Bên cạnh đó, cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam là thành viên chính thức của Interpol tháng 11 năm 1991 và Aseanapol 1996 nên điều lệ và những quy định chung của Interpol, Aseanapol đã điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể là thành viên, trong đó có cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam.

b) Các hiệp định song phương về TTTP, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án phạt tù là cơ sở pháp lý cho hợp tác quốc tế trong TTHS. Cho đến nay, Nhà nước ta đã ký kết 24 hiệp định TTTP và dẫn độ với các nước như: Liên bang Cộng hoà XHCN Xô viết (10/12/1981) [4] ; Cộng hoà XHCN Tiệp Khắc (ngày 12/10/1982) [5] ; Cộng hoà nhân dân Hung-ga-ri (ngày 18/01/1985) [6] ; Cộng hoà nhân dân Bun-ga-ri (ký ngày 03/10/1986 và phê chuẩn ngày 05/6/1987) [7] ; Cộng hoà Ba Lan (ký ngày 22/3/1993) [8] ; Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào (ký ngày 06/7/1998) [9] ; Liên bang Nga (ngày 25/8/1998) [10] ; Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (ký ngày 19/10/1998) [11] ; Cộng hoà U-crai-na (ký ngày 06/4/2000)12) [12] ; Mông Cổ (ngày 17/4/2000) [13] ; Cộng hoà Bê-la-rut (năm 2000) [14] ; Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên về TTTP và pháp lý trong các vấn đề dân sự và hình sự (ký ngày 3/5/2002) [15] ; Hàn Quốc (Nhà nước ta đã ký hai hiệp định: TTTP về hình sự; hiệp định về dẫn độ), Ấn Độ, Angiêri; ký các hiệp định về chuyển giao người bị kết án với Ôx-trây-lia, Vương quốc Anh và Bắc Ai-len, Angiêri.

Hệ thống văn bản nói trên là cơ sở pháp lý quan trọng cho các cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam thực hiện hợp tác quốc tế trong TTHS.

c) Cùng đó, Chính phủ Việt Nam ký kết với Chính phủ các nước liên quan đến hợp tác quốc tế trong TTHS, như các hiệp định về lãnh sự, các hiệp định, văn bản thoả thuận giữa Việt Nam và các nước trong hợp tác phòng, chống ma tuý và tội phạm với Chính phủ các nước láng giềng, các nước có đông người Việt Nam đang sinh sống, làm việc như Cộng hoà Liên bang Nga, Hung-ga-ry; Vương quốc Cam-pu-chia, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; Chính phủ Vương quốc Thái Lan, Chính phủ Cộng hoà nhân dân Trung Hoa...

4. Nội dung hợp tác quốc tế trong TTHS theo pháp luật trong nước

Nội dung hợp tác quốc tế trong TTHS phụ thuộc vào nội dung các điều ước quốc tế mà Vĩệt Nam ký kết hoặc gia nhập; vào chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức quốc tế về đấu tranh phòng, chống tội phạm mà Việt Nam là thành viên. Thực tiễn hợp tác quốc tế trong TTHS cho thấy, thường là tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự, uỷ thác hoặc phối hợp thực hiện các hoạt động TTHS (khám xét, lấy lời khai, giám định...); dẫn độ để xét xử hoặc thi hành án hình sự, triệu tập người tham gia tố tụng; chuyển giao hồ sơ, vật chứng vụ án hình sự, giao nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án; tống đạt giấy tờ, thông báo kết quả tiến hành tố tụng, thông báo bản án và các thông tin khác...

a. Tương trợ tư pháp về hình sự

Theo quy định tại Điều 341 của BLTTHS năm 2003, thì khi thực hiện TTTP, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của Việt Nam áp dụng những quy định của điều ước quốc tế có liên quan mà nước CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập và quy định của BLTTHS năm 2003.

Đối với các quốc gia mà Nhà nước ta chưa ký kết hiệp định TTTP, chưa ký kết hoặc gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan thì việc hợp tác quốc tế tong TTHS được thục hiện trên nguyên tắc có đi, có lại không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam và pháp luật cũng như tập quán quốc tế.

Nội dung của TTTP phụ thuộc vào yêu cầu TTTP của bên hợp tác tương ứng trên cơ sở điều ước quốc tế ký kết hoặc gia nhập. Thực tiễn ký kết các hiệp định TTTP giữa Việt Nam với các nước cho thấy, nội dung TTTP trong TTHS thường bao gồm: tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự; dẫn độ để xét xử hoặc thi hành án; thực hiện các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ, lấy lời khai, thực hiện khám xét, thu giữ…; cung cấp thông tin, tài liệu, vật chứng, kết luận giám định; tống đạt giấy tờ, tài liệu tố tụng; trợ giúp việc trình diện của cá nhân tại cơ quan tiến hành tố tụng của quốc gia yêu cầu; các nội dung tương trợ khác không trái với pháp luật của các quốc gia yêu cầu và thực hiện yêu cầu.

b. Từ chối TTTP về hình sự

Để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân của nước mình, các quốc gia đều dành cho mình quyền được từ chối thực hiện yêu cầu TTTP trong những trường hợp nhất định. Thực tiễn pháp lý hình sự quốc tế cho thấy, yêu cầu TTTP có thể bị từ chối, nếu việc thực hiện yêu cầu TTTP có thể gây phương hại chủ quyền, an ninh hoặc những lợi ích quan trọng khác cũng như trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật cũng như những cam kết quốc tế của nước nhận được yêu cầu TTTP. Như vậy, ở Việt Nam có thể hiểu từ chối thực hiện yêu cầu TTTP là việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được yêu cầu không thực hiện những hành vi tố tụng hoặc hoạt động tố tụng mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nước khác yêu cầu. Việc từ chối được thể hiện bằng văn bản và gửi cho cơ quan đó yêu cầu [16] . Việc từ chối có thể được pháp luật quy định là tuyệt đối (pháp luật quy định bắt buộc phải từ chối) hoặc tuỳ nghi (tuỳ từng trường hợp cụ thể có thể quyết định từ chối). Trong trường hợp tuỳ nghi, pháp luật quy định cho cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu quyền xem xét để từ chối hay thực hiện các yêu cầu TTTP của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nước khác. Pháp luật TTHS của Nhà nước ta quy định quyền tuỳ nghi trong từ chối thực hiện yêu cầu TTTP tại Điều 342 của BLTTHS năm 2003, theo đó, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nước ta có thể từ chối thực hiện yêu cầu TTTP liên quan đến hoạt động TTHS trong trường hợp yêu cầu TTTP không phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập; không phù hợp với pháp luật Việt Nam; hoặc việc thực hiện yêu cầu TTTP gây phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia hoặc lợi ích quan trọng khác của nước CHXHCN Việt Nam

c. Dẫn độ

Theo quy định tại Điều 343 của BLTTHS năm 2003, có thể hiểu dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác công dân của nước được chuyển giao đang có mặt trên lãnh thổ nước mình, mà người đó đã có hành vi phạm tội thuộc thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự của nước được chuyển giao; hoặc Toà án của nước được chuyển giao kết bản án đã có hiệu lực pháp luật để nước chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự thi hành hình phạt đối với người đó.

Các đặc điểm nêu trên là căn cứ để phân biệt dẫn độ với các hình thức TTTP về hình sự hoặc các biện pháp hợp tác phòng, chống tội phạm như “chuyển giao người bị kết án”, “trục xuất”, “đẩy trả” “giao nộp”, “áp giải”, “dẫn giải”, “bắt cóc”, “chuyển giao đặc biệt” “chuyển giao người bị kết án”. Trong thực tế việc phân biệt các khái niệm này có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho các cơ quan hữu quan có thể áp dụng những thủ tục, biện pháp phù hợp trong hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm [17] .

Về nguyên tắc, dẫn độ phải tuân theo những nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế nhưng khi xem xét yêu cầu dẫn độ, các quốc gia thường cân nhắc và áp dụng một số nguyên tắc phổ biến hình thành trong thực tiễn TTTP hình sự về dẫn độ, quy định nội luật của các quốc gia và các điều ước quốc tế về dẫn độ, hoặc theo cơ chế đơn giản hóa thủ tục dẫn độ giữa các quốc gia liên quan. Các nguyên tắc này được hình thành từ những đặc điểm của dẫn độ nên có những nguyên tắc đặc thù như: nguyên tắc tội phạm kép, không dẫn độ công dân nước mình, nguyên tắc “đặc biệt” (specialty), nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị, không dẫn độ tội phạm bị kết án tử hình.

Tại Điều 343 của BLTTHS năm 2003 cũng chỉ quy định một cách nguyên tắc về việc dẫn độ của các cơ quan có thẩm quyền tiến tố tụng của nước ta. Hiện nay, vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hóa hoặc hướng dẫn các cơ quan thực hiện yêu cầu dẫn độ từ phía nước ngoài cũng như việc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phía nước ngoài dẫn độ người có hành vi phạm tội về Việt Nam để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án hình sự đã có hiệu lực.

d. Từ chối dẫn độ

Từ chối dẫn độ được quy định tại Điều 344 của BLTTHS năm 2003, theo đó, có thể thấy việc từ chối dẫn độ được thực hiện theo hai cấp độ:

Thứ nhất, là các trường hợp bắt buộc phải từ chối dẫn độ đuợc quy định tại khoản 1 Điều 344 của BLTTHS năm 2003. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng có quy định tương tự nhằm xác lập chủ quyền, bảo vệ sự an toàn pháp lý cho công dân và thực hiện thống nhất các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự như nguyên tắc về thời hiệu và nguyên tắc không bị truy cứu hai lần về một hành vi phạm tội và nguyên tắc không phân biệt đối xử vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, dân tộc, thành phần xã hội hoặc quan điểm chính trị.

Thứ hai, là các trường hợp tùy nghi có thể từ chối hoặc thực hiện việc dẫn độ đưọc quy định tại khoản 2 Điều 344 của BLTTHS năm 2003. Có thể nói rằng, đây là quy định “mềm dẻo” nhằm tạo điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền thực hiện nguyên tắc “có đi có lại” một cách có lợi cho lợi ích quốc gia và quan hệ đối ngoại, trong khi vẫn bảo đảm độc lập chủ quyền của quốc gia.

Tuy nhiên, trong trường hợp từ chối dẫn độ thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cỏ trách nhiệm thông báo cho cơ quan có thẩm quyền tương ứng của nước ngoài đã gửi yêu cầu dẫn độ biết và nêu lõ lý do về việc từ chối dẫn độ.

e. Về việc chuyển giao hồ sơ, chứng cứ của vụ án

Việc chuyển giao hồ sơ, chứng cứ của vụ án được quy định tại Điều 345 của BLTTHS năm 2003. Theo đó, có thể thấy rằng, lần đầu tiên BLTTHS năm 2003 quy định về việc di lý và chuyển giao vật chứng vụ án ra nước ngoài. Từ trước đến nay, Việt Nam chỉ thực hiện việc di lý và chuyển giao vật chứng vụ án ra nước ngoài trong khuôn khổ hiệp định TTTP. Với quy định này, Việt Nam có thể di lý vụ án ra cả những nước chưa ký kết hiệp định TTTP với nước ta, với điều kiện là nước được yêu cầu chấp nhận yêu cầu đó.

Điều kiện để cơ quan có thẩm quyền tố tụng đang thụ lý vụ án có thể chuyển hồ sơ cho VKSNDTC (cơ quan đầu mối) là: Đối với vụ án có bị can, bị cáo là nguời nước ngoài và việc tiến hành tố tụng không thể thực hiện được vì bị can, bị cáo đó đã trốn khỏi Việt Nam. Như vậy, điểm mấu chốt cần phải chú ý ở đây là: Thứ nhất, việc bị can, bị cáo (là người nước ngoài) trốn khỏi Vỉệt Nam đã làm cho việc giải quyết vụ án không thể thực hiện được thì cơ quan có thẩm quyền tố tụng đang thụ lý vụ án mới có thể chuyển hồ sơ cho VKSNDTC làm các thủ tục cần thiết để di lý vụ án; thứ hai, việc chuyển hồ sơ cho VKSNDTC phải kèm theo toàn bộ chứng cứ, tài liệu, vật chứng, đồ vật liên quan đến vụ án mà cơ quan có thẩm quyền tố tụng đang thụ lý vụ án đã thu thập được.

Trình tự, thủ tục cần thiết để di lý vụ án được thực hiện theo quy định của hiệp định TTTP mà nước ta và nước được yêu cầu đã ký kết hoặc theo yêu cầu của nước sẽ thụ lý vụ án (trong trường hợp giữa nước ta với nước đó chưa ký kết hiệp định TTTP).

g. Về việc giao nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật, tiền liên quan đến vụ án

Những nội dung trên được quy định tại Điều 346 của BLTTHS năm 2003 gồm các nội dung cụ thể sau:

- Việc giao nhận tài liệu liên quan đến vụ án được tiến hành theo quy định của điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập và theo quy định của BLTTHS;

- Việc chuyển giao đồ vật, tiền liên quan đến vụ án ra ngoài lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật nước CHXHCN Việt Nam.

II. Khái quát về thực trạng tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự ở Việt Nam thời gian qua [18]a.      Về TTTP trong lĩnh vực hình sự

Theo tổng kết của Viện kiểm sát nhân dân tối cao với tư cách là cơ quan đầu mối thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự, kết quả thực hiện ủy thác tư pháp trong lĩnh vực này trong thời gian từ năm 2008 đến tháng 5/2011, cụ thể như sau:

- Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự của các cơ quan tư pháp nước ngoài: Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tiếp nhận 164 hồ sơ yêu cầu TTTP đến từ 28 nước, đã thực hiện xong 102/164 yêu cầu TTTP từ nước ngoài, chiếm 62,2%, trong đó các nước có nhiều yêu cầu là: Cộng hòa Séc 59 hồ sơ; Cộng hòa Ba Lan 19 hồ sơ, Cộng hòa Liên bang Đức 08 hồ sơ; Liên bang Nga 06 hồ sơ.

Nội dung chủ yếu của các yêu cầu TTTP là chuyển giao để truy cứu trách nhiệm hình sự, tống đạt tài liệu, thu thập, cung cấp chứng cứ; xác minh nhân thân, lý lịch... Các yêu cầu TTTP về hình sự ngày càng đa dạng, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực và tội phạm nghiêm trọng như giết người, buôn bán ma túy, tội phạm tham nhũng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, rửa tiền...

- Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp của các cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam cho nước ngoài: Theo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đối với các yêu cầu TTTP về hình sự của Việt Nam ủy thác tư pháp ra nuớc ngoài, từ năm 2008 đến hết tháng 5/2011, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tiếp nhận 33 hồ sơ, trong đó đã chuyển 28 hồ sơ đến các cơ quan có thẩm quyền của 18 nước được yêu cầu để giải quyết; có 05 hồ sơ lập chưa đúng yêu cầu, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã hướng dẫn cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam lập lại hồ sơ nhưng chưa nhận được hồ sơ mới.

Đến nay, trong số 28 hồ sơ đã chuyển đi Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thực hiện được 15/28 có kết quả, chiếm 53,6%.

b. Tình hình hợp tác về hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù

Theo báo cáo của Bộ Công an, từ ngày 01/7/2008 đến 6 tháng đầu năm 2011, Bộ Công an đã tiếp nhận và thực hiện TTTP về hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, cụ thể như sau

-          Về TTTP về hình sự

Đã tiếp nhận và thực hiện gần 100 yêu cầu TTTP về hình sự của các nước qua kênh Interpol và 74 yêu cầu ủy thác tư pháp về hình sự của các nước qua Viện kiểm Sát nhân dân tối cao. Số ủy thác tư pháp đã được thực hiện có kết quả là 52 yêu cầu, đang thực hiện là 22 yêu cầu. Các yêu cầu này chủ yếu liên quan đến các vụ án giết người, bắt cóc tống tiền, tham nhũng, rửa tiền, tội phạm kinh tế và tội phạm công nghệ cao... của các băng nhóm người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài hoặc những vụ án liên quan đến một số cá nhân, tập thể ở Việt Nam, do chủ yếu là các nước Cộng hòa Séc, Ba Lan, Hàn Quốc, Liên bang Nga, Hungary, Trung Quốc yêu cầu Việt Nam thực hiện.

-          Về dẫn độ

Bộ Công an đã nhận đuợc yêu cầu truy bắt 120 đối tượng truy nã của nước ngoài bỏ trốn vào Việt Nam và hơn 90 đối tượng truy nã của Việt Nam bỏ trốn ra nước ngoài; phối hợp với nước ngoài bắt giữ 38 đối tượng truy nã, trong đó đã bắt giữ, đưa về Việt Nam 11 đối tượng phạm tội tại Việt Nam trốn ra nước ngoài và bắt giữ, bàn giao cho nước ngoài 27 đối tượng phạm tội tại nước ngoài vào Việt Nam lẩn trốn.

Việc bắt giữ, chuyển giao và tiếp nhận đối tượng phạm tội hiện vẫn chủ yếu thông qua kênh hợp tác Interpol và Aseanapol.

-          Về chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù

Bộ Công an đã lập hồ sơ chuyển đến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để xem xét và ra Quyết định chuyển giao 02 phạm nhân mang quốc tịch Anh hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam về Vương quốc Anh để tiếp tục chấp hành án. Hiện nay, phía Anh đang tiến hành làm thủ tục để thống nhất thời gian, địa điểm chuyển giao.

Bộ Công an cũng đã tiếp nhận nhiều đề nghị chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù, trong đó chủ yếu là tiếp nhận yêu cầu của Đại sứ quán các nước Ôxtrâylia, Hàn Quốc, Anh, Pháp, Thái Lan và Lào.

-          Về trao đổi thông tin, hợp tác theo kênh Interpol và Aseanapol

Tổng kết hoạt động từ năm 2007 đến nay cho thấy, cơ quan tiến hành tố tụng trong Công an nhân dân Việt Nam đã tiếp nhận và xử lý hơn 9.600 lượt thông tin liên quan đến phòng, chống tội phạm có yếu tố nước ngoài, làm rõ hàng trăm vụ án hình sự, các đường dây buôn bán ma tuý, buôn bán phụ nữ xuyên quốc gia; phát hiện ngăn chặn hàng trăm vụ lừa đảo, xác minh làm rõ nhiều vụ việc đối tượng là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài có liên quan đến hoạt động phạm tội, trong đó cập nhật thông tin gần 170 đối tượng truy nã quốc tế, trong đó có 124 đối tượng Việt Nam nghi trốn ra nước ngoài và 45 đối tượng nước ngoài nghi trốn vào Việt Nam; tổ chức giải cứu hàng chục nạn nhân bị lừa bán ra nước ngoài.

Những quốc gia thường xuyên có yêu cầu truy nã các đối tượng phạm tội bỏ trốn vẫn là các quốc gia mà cộng đồng người Việt làm ăn sinh sống, việc quản lý còn rất phức tạp, như Mỹ, Cộng hoà Séc, Canada, Cộng hoà Liên bang Đức, Nga, Australia... hoặc các nước mà điều kiện đi lại giữa Việt Nam và nước đó dễ dàng như Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan... đặc biệt là Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc (chiếm gần 40% số đối tượng mà các quốc gia yêu cầu).

Các đối tượng sau khi phạm tội ở nước ngoài đã tìm cách vào Việt Nam theo nhiều con đường khác nhau, dưới nhiều hình thức khác nhau cả hợp pháp và bất hợp pháp như đi du lịch, đầu tư, làm ăn kinh tế, thăm thân... Địa bàn lẩn trốn của các đối tượng truy nã thường là các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng... hoặc các tỉnh phía Nam Việt Nam nơi có nhiều người nước ngoài làm ăn sinh sống. Phần lớn các đối tượng phạm tội hình sự nguy hiểm như giết người, cướp tài sản,... đều sử dụng giấy tờ, hộ chiếu giả hoặc thay đổi họ tên khi nhập cảnh Việt Nam để lẩn trốn sự truy tìm của cơ quan chức năng Việt Nam. Ngoài ra, các đối tượng cũng thường xuyên thay đổi nơi ẩn náu để trốn tránh sự truy tìm của Cảnh sát Việt Nam, đặc biệt là trong trường hợp các đối tượng là Việt kiều.

Qua thực tế công tác đấu tranh, cho thấy: trong những năm gần đây xuất hiện nhiều vụ việc các đối tượng truy nã từ nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt là các đối tượng mang quốc tịch Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, các đối tượng là Việt kiều Mỹ, Anh... có hoạt động câu kết với tội phạm ở trong nước để lẩn trốn hoặc tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

III. Những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện chế định hợp tác quốc tế trong TTHS

Trước hết, việc rà soát một cách cơ bản và toàn diện các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trên cơ sở so sánh và đối chiếu các quy định về thủ tục TTHS và hợp tác quốc tế trong TTHS để nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hoặc tính toán để sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003 bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong hoạt động TTHS theo yêu cầu của các Văn kiện chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Đây là việc làm rất cần thiết và có phạm vi rộng lớn, cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan có thẩm quyền. Trong phạm vi nghiên cứu của bài viết này, chúng tôi chỉ xác định và đưa ra một số vấn đề nghiên cứu mang tính cơ bản liên quan đến chế định hợp tác quốc tế trong TTHS, nhất là trong đối chiếu với Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, cụ thể là:

1.      Phần thứ VIII Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003

Nếu so sánh với các quy định tương ứng của Luật TTTP năm 2007, cho thấy BLTTHS cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng bổ sung những quy định mới của Luật TTTP năm 2007 để bảo đảm tính phù hợp của hệ thống pháp luật, cụ thể là:a.      Về các nguyên tắc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự

Điều 341 của BLTTHS năm 2003 quy định, khi thực hiện TTTP, cơ quan có thầm quyền tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của Việt Nam áp dụng những quy định của điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên và áp dụng các quy định của BLTTHS. Tuy vậy, sau khi Luật TTTP năm 2007 được ban hành và có hiệu lực, TTTP về hình sự còn được xem xét, tiến hành theo nguyên tắc có đi có lại nếu giữa Việt Nam và nước liên quan không cùng là thành viên của một điều ước quốc tế có liên quan. Do đó, cần thiết phải bổ sung Điều 341 của BLTTHS năm 2003 theo hướng có quy định việc xem xét, tiến hành hợp tác quốc tế trong TTHS theo nguyên tắc có đi có lại. Theo hướng này, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu để hướng dẫn quy định về nguyên tắc có đi có lại để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật.

b. Về các hoạt động hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự

- Điều 342 của BLTTHS năm 2003 chỉ quy định các cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam từ chối thực hiện TTTP trong hai trường hợp: Thứ nhất, là yêu cầu TTTP không phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật Việt Nam; thứ hai, là việc thực hiện yêu cầu TTTP phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia hoặc lợi ích quan trọng khác của Việt Nam Điều luật này chỉ quy định về việc từ chối thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự mà chưa quy định về trường hợp hoãn thực hiện yêu cầu TTTP về hình sự theo quy định của Luật TTTP năm 2007. Bên cạnh đó, còn một số trường hợp khác cơ quan tiến hành tố tụng phải từ chối yêu cầu TTTP, đó là: Việc ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự ,một người về hành vi phạm tội mà người đó đã bị kết án, được tuyên không có tội hoặc được đại xá, đặc xá tại Việt Nam; liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật nhưng không cấu thành tội phạm theo pháp luật Việt Nam.

- Điều 343 của BLTTHS năm 2003 chỉ quy định về yêu cầu dẫn độ đối với người nước ngoài và thực hiện yêu cầu của nước ngoài, chưa quy định về các trường hợp bị dẫn; không truy cứu trách nhiệm hình sự, dẫn độ cho nước thứ ba, hồ sơ, văn bản, tài liệu yêu cầu dẫn độ, các biện pháp ngăn chặn để dẫn độ, thủ tục, thầm quyền xem xét giải quyết yêu cầu dẫn độ, quyết định thi hành dẫn độ, áp giải người bị dẫn độ, dẫn độ tạm thời và dẫn độ lại... Do đó, cần bổ sung các quy định cho phù hợp với Lụật TTTP năm 2007 để đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

- Điều 344 của BLTTHS năm 2003 quy định về các trường hợp để từ chối dẫn độ, tuy nhiên, qua so sánh với quy định của Luật TTTP năm 2007, thấy rằng cần thiết phải bổ sung quy định tương ứng với khoản 1 Điều 33 của Luật TTTP về cơ sở để dẫn độ (gồm cả tội phạm bị áp dụng mức án chung thân, tử hình) và Điều 34 về cơ sở để từ chối dẫn độ (nếu nguời bị yêu cầu dẫn độ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc dẫn độ tới nước thứ ba).

- Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 mới chỉ quy định về việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án và việc giao nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật, tiền liên quan đến vụ án (Điều 345 và Điều 346) nhưng chưa quy định về việc chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù. Vì vậy, cần bổ sung quy định về thủ tục, trình tự, hồ sơ, tài liệu... với nội dung đã được quy định tại Chương V của Luật TTTP năm 2007 về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

2. Quy định về bảo vệ người làm chứng, người bị hại, người giám định, người tố giác tội phạm

Theo quy định tại Điều 8 Luật TTTP năm 2007 thì: “Người làm chứng, người giám định không bị bắt, bị tạm giam, tạm giữ hoặc bị điều trạ, truy tố, xét xử vì những hành vi sau đây trước khi đến Việt Nam:

a) Cung cấp lời khai làm chứng, bản kết luận chuyên môn đối với vụ án mà người đó được triệu tập;

b) Phạm tội ở Việt Nam;

c) Có quan hệ với đối tượng đang bị điều tra, truy tố, xét xử về hình sự tại Việt Nam”.

Đây là lần đầu tiên một luật quy định liên quan đến việc bảo vệ người làm chứng, người giám định khi thực hiện nhiệm vụ với tư cách người tham gia tố tụng của mình tại Việt Nam. Hiện nay, pháp luật Việt Nam cũng đã có một số quy định rải rác trong các luật, pháp lệnh, nghị định liên quan đến việc bảo vệ người làm chứng, bảo vệ nạn nhân, người tố giác tội phạm; cùng đó, một số quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, như Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Công ước về chống tra tấn [19] , Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng cũng quy định về vấn đề này. Điều này cũng đặt ra yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003 theo hướng bảo đảm quyền của người làm chứng, người giám định được miễn truy tố khi tham gia tố tụng mà địa vị pháp lý người làm chứng và người giám định có thể gây bất lợi cho chính người đó.

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 của Việt Nam cũng ghi nhận các quyền của cá nhân được bảo đảm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 bổ sung những quy định về trách nhiệm của các cơ quan tham gia TTHS trong việc bảo vệ người làm chứng, người bị hại với tư cách là người làm chứng và những người khác tham gia TTHS cũng như những người thân của họ. Tuy nhiên, pháp luật TTHS của Vĩệt Nam chưa quy định đầy đủ và cụ thể tạo nên những khó khăn trong việc bảo vệ thoả đáng những người tham gia TTHS bao gồm người làm chứng, người bị hại và những người thân thích của họ, cụ thể là:

Thứ nhất, các quy định đề cập trên đây mang tính nguyên tắc chung hơn là có tính quy định cụ thể. Do vậy, các cơ quan chức năng sẽ gặp khó khăn trong việc áp dụng các quy định này nếu không có hướng dẫn và quy định chi tiết. Chẳng hạn như những đối tượng được bảo vệ (bao gồm sự giải thích đó là người làm chứng, người bị hại và thân nhân của họ), biện pháp bảo vệ (có sự trao đổi hoặc không công khai; giới hạn của sự công khai về nhận dạng, địa chỉ, quy định cụ thể về thủ tục đặc biệt trong việc thu thập chứng cứ, chẳng hạn như kết nối mạng video....

Thứ hai, thủ tục yêu cầu sự bảo vệ, vấn đề tài chính cho việc thực hiện các quy định này,.v.v. Cùng đó, quy định không thống nhất giữa quy định tại khoản 3 Điều 7 của BLTTHS (quy định đối tượng cần được bảo vệ bao gồm người bị hại, người làm chứng và người thân thích của họ) và khoản 3 Điều 55 của BLTTHS (quy định quyền của người làm chứng yêu cầu sự bảo vệ từ các cơ quan có thẩm quyền chỉ trong trường hợp bản thân người đó bị nguy hiểm).

Thứ ba, người bị hại, với tư cách là người làm chứng, bao gồm bản thân họ và người thân thích, người có quan hệ gần gũi với họ không phải là đối tượng của sự bảo vệ tương xứng bởi vì BLTTHS năm 2003 không thừa nhận quyền của họ trong việc yêu cầu sự bảo vệ từ các cơ quan có thẩm quyền khi tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của họ bị đe dọa. Pháp luật cũng không quy định cụ thể các biện pháp bảo vệ đối với những người này tại phiên toà.

Thứ tư, thực tế pháp luật chưa có sự quan tâm đầy đủ đối với việc bảo vệ những người bị hại, người làm chứng thuộc nhóm người có tình trạng đặc biệt, chẳng hạn như trẻ em. Đây là những quy định cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới.

3. Về chuyển giao vụ án hình sự và việc tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự

Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia đề nghị các quốc gia thành viên xem xét khả năng chuyển giao cho nhau vụ án hình sự trong trường hợp các quốc gia đều có thẩm quyền tài phán đối với vụ án đó, để một bên tập trung thực hiện việc truy tố nhằm mục đích cao nhất là vì lợi ích của việc thi hành công lý (Điều 21); Hiệp định TTTP giữa Việt Nam và Liên bang Nga ký ngày 25/8/1998, phê chuẩn ngày 3/6/1999 quy định mỗi Bên ký kết, theo yêu cầu của Bên ký kết kia, tiến hành việc truy tố hình sự theo pháp luật của nước mình, công dân của mình và những người khác thường trú trên lãnh thổ của nước mình, bị xác định là đã thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ của Bên ký kết đó (Điều 58). Điều 59 Hiệp định quy định tương đối cụ thể về văn bản yêu cầu truy tố hình sự, hồ sơ phải gửi kèm theo khi chuyển giao vụ án giữa các Bên. Khi có kết quả truy tố hình sự thì các Bên phải có nghĩa vụ thông báo cho nhau về kết quả đó (Điều 60).

Các hiệp định TTTP nói trên có quy định cụ thể hơn về chuyển giao vụ án hình sự, nhất là có mở ra khả năng chuyển giao vụ án từ hai phía: từ Việt Nam đi các nước ký kết và ngược lại. Tuy nhiên, do số lượng các hiệp định Việt Nam đã ký kết được còn hạn chế (mới chỉ có 24 Hiệp định) nên phạm vi áp dụng việc chuyển giao vụ án hình sự dựa trên các hiệp định này còn hạn hẹp. Hơn nữa, về nguyên tắc chung, tinh thần thể hiện trong các quy định của các Hiệp định TTTP giữa Việt Nam và các nước đều thống nhất với quy định tại Điều 345 của BLTTHS. Nghĩa là, việc uỷ thác hay yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện trong trường hợp công dân hoặc người thường trú trên lãnh thổ của một Bên A thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ của Bên B, Bên A theo yêu cầu của bên B tiến hành truy tố hình sự đối với công dân hoặc người thường trú trên lãnh thổ của mình. Khi đó, vụ án sẽ được chuyển giao từ Bên B sang Bên A

Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam không có điều khoản nào quy định rõ ràng về nguyên tắc chung cũng như mục đích chuyển giao vụ án hình sự giữa Việt Nam và các nước khác. Tại Điều 9 của Luật TTTP năm 2007 quy định việc giao nhận tài liệu, đồ vật và tiền liên quan đến hoạt động TTTP được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam. Các điều: Điều 345 và Điều 346 của BLTTHS năm 2003 cũng chỉ quy định chung.

Để thực hiện tốt quy định này, cần thiết phải bổ sung và có hướng dẫn cụ thể để cơ quan có thẩm quyền có đủ cơ sở pháp lý thực hiện. Do đó, cần nghiên cứu bổ sung một điều luật trong BLTTHS quy định về nguyên tắc, phạm vi áp dụng và mục đích của việc chuyển giao vụ án hình sự. Nên nghiên cứu, xem xét để có thể mở rộng phạm vi áp dụng việc chuyển giao vụ án hình sự nếu thực hiện vì lợi ích của việc thi hành công lý chứ không chỉ thu hẹp trong phạm vi như quy định tại Điều 345 của BLTTHS và các Hiệp định TTTP đã nói ở trên. Hiện nay, các cơ quan hữu quan đang xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự; tuy vậy, để tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và thống nhất, vẫn cần thiết sửa đổi, bổ sung nội dung này trong BLTTHS năm 2003 và các văn bản hướng dẫn Bộ luật này và các điều uớc quốc tế có liên quan; đồng thời, ký kết các hiệp định song phương và đa phương với các quốc gia thành viên Công ước về chuyển giao vụ án hình sự để tạo thuận lợi cho việc thực hiện chuyển giao giữa Việt Nam và các quốc gia đó.

4. Vấn đề thời hạn trong TTHS

Đây cũng là một vấn đề cần có nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn cụ thể. Theo đó, thời gian đợi kết quả thực hiện uỷ thác tư pháp về hình sự, dẫn độ, chuyển giao nguời đang chấp hành hình phạt tù được tính vào thời hạn giải quyết vụ án hình sự, chấp hành án theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hay không cũng cần có nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003 cho phù hợp.

5. Về chứng cứ, hồ sơ, tài liệu chuyển giao            

Tại khoản 3 Điều 29 của Luật TTTP năm 2007 quy định về xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự công dân Việt Nam tại Việt Nam, theo đó, việc điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ án quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam. Cần bổ sung các quy định về chứng cứ, trong đó đặc biệt là tài liệu, chứng thực tài liệu, hồ sơ vụ án hình sự, vật chứng... được các cơ quan tư pháp nước ngoài chuyển cho Việt Nam để cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam thực hiện việc điều tra, truy tố, xét xử người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài.

6. Vấn đề thực hiện ủy thác tư pháp của nước ngoài về điều tra đối với công dân nước ngoài tại Việt Nam

Theo quy định tại Điều 30 của Luật TTTP năm 2007 thì: “Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ ủy thác tư pháp về điều tra đối với công dân nước ngoài đã phạm tội ở nước đó hiện đang cư trú tại Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền của Việt Nam để tiến hành điều tra. Kết quả điều tra được gửi đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao để chuyển cho nước yêu cầu”. Thủ tục, thẩm quyền và trình tự thực hiện ủy thác tư pháp từ phía nước ngoài để điều tra trên lãnh thổ Việt Nam chưa được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2003, vì vậy, cần nghiên cứu bổ sung theo hướng phù hợp với quy định tại Điều 30 nói trên.

7. Về các biện pháp ngăn chặn để xem xét, giải quyết dẫn độ

Thực hiện Điều 41 của Luật TTTP năm 2007 về các biện pháp ngăn chặn để dẫn độ, theo đó khi nhận được yêu cầu chính thức của nước ngoài về việc dẫn độ, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để bảo đảm cho việc xem xét yêu cầu dẫn độ.

Theo pháp luật TTHS Việt Nam, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn phải tuân thủ các quy định chặt chẽ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do luật TTHS quy định. Nội dung Điều 41 của Luật TTTP năm 2007 cũng cần được quy định trong BLTTHS sửa đổi để bảo đảm tính thống nhất.

8. Về tạm giữ, phong toả, tịch thu tài sản, lợi nhuận có được do phạm tội mà có

Pháp luật Việt Nam không có quy định riêng nào về việc tạm giữ tài sản hoặc tịch thu lợi nhuận của người phạm tội theo đề nghị của các quốc gia khác. Mặc dù một số nguyên tắc trong các quy định hiện hành của BLTTHS có thể được giải thích để áp dụng đối với việc hợp tác quốc tế trong tạm giữ và tịch thu tài sản, chẳng hạn như Điều 345 và Điều 346 có quy định về chuyển giao vật chứng của vụ án cho cơ quan có thẩm quyền tương ứng của nước ngoài đối với vụ án người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nếu việc tiến hành tố tụng không thể thực hiện được vì người đó đã ra nước ngoài, mà khái niệm vật chứng theo quy định của Điều 74 BLTTHS thì “Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và nguời phạm tội”. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thiếu cơ sở pháp lý thật sự cho việc thực thi Điều 13 và Điều 14 (khoản 2 đến khoản 4) của Công ước về việc hợp tác quốc tế trong tạm giữ và tịch thu tài sản, lợi nhuận có được do phạm tội mà có theo đề nghị của một quốc gia khác.

Bởi vậy, nếu Việt Nam gia nhập Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia thì cần thiết bổ sung vào BLTTHS các quy định về hợp tác quốc tế trong việc tạm giữ, tịch thu và xử lý lợi nhuận thu được từ tội phạm theo tinh thần Điều 13 và khoản 2 đến khoản 4 Điều 14 của Công uớc này.

9. Kỹ thuật điều tra đặc biệt

Các biện pháp kỹ thuật điều tra đặc biệt có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đấu tranh chống các tội phạm có tổ chức mang tính chất xuyên quốc gia như: Buôn lậu ma tuý, buôn bán người nhằm theo dõi hoạt động của tội phạm, phát hiện và bắt giữ những tên cầm đầu và những tên tham gia phạm tội có tổ chức cũng như để thu thập các chứng cứ.

Điều 20 của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ghi nhận biện pháp vận chuyển hàng hoá có kiểm soát, giám sát bằng các phương tiện, thiết bị điện tử và hoạt động điều tra bí mật khác. Biện pháp vận chuyển hàng hoá có kiểm soát đặc biệt có ích trong trường hợp hàng cấm được nhận dạng hoặc bị chặn trên đường quá cảnh và sau đó được tiếp tục vận chuyển dưới sự giám sát bí mật của cơ quan chức năng để phát hiện người nhận hàng hoặc người chỉ huy việc phân phối hàng thông qua tổ chức tội phạm. Hoạt động điều tra bí mật khác có thể được sử dụng để cho Điều tra viên bí mật hoặc người thâm nhập vào một tổ chức tội phạm để thập chứng cứ phục vụ công tác điều tra tội phạm. Biện pháp giám sát bằng các phương tiện, thiết bị điện tử thường được áp dụng thích hợp hơn khi nhóm tội phạm có sự liên kết rất chặt chẽ mà người bên ngoài không thể nào thâm nhập được hoặc khi việc bố trí người thâm nhập vào tổ chức tội phạm hoặc biện pháp giám sát tỏ ra quá mạo hiểm cho việc điều tra hoặc cho sự an toàn của Điều tra viên. Nói chung, biện pháp giám sát bằng các phương tiện, thiết bị điện tử chịu sự quản lý, kiểm tra nghiêm ngặt của cơ quan chức năng và phải tuân thủ hàng loạt các quy định an toàn để phòng ngừa việc lạm dụng.

Theo qui định tại Điều 20 của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia thì mỗi quốc gia thành viên phải:

- Trong khả năng của mình, quy định biện pháp vận chuyển hàng hoá có kiểm soát là một biện pháp điều tra có hiệu lực trong nước và quốc tế, nếu các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp pháp luật trong nước cho phép và theo các điều kiện được quy định trong pháp luật quốc gia;

- Có khả năng về mặt pháp lý để hợp tác quốc tế đối với việc vận chuyển hàng hóa có kiểm soát trên nguyên tắc có đi có lại, nếu điều đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật trong nước;

- Khi thích hợp, quy định hoạt động đặc tình và việc giám sát bằng các phương tiện, thiết bị điện tử là một biện pháp điều tra có hiệu lực trong nước và quốc tế.

Khoản 1 Điều 20 của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia buộc các quốc gia thành viên phải quy định biện pháp vận chuyển hàng hoá có kiểm soát là một biện pháp điều tra đặc biệt, nếu điều đó không trái với những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật quốc gia. Ngoài ra, khoản 1 Điều 20 của Công ước cũng đặc biệt khuyến khích các quốc gia thành viên sử dụng hoạt động đặc tình và biện pháp giám sát bằng các phương tiện, thiết bị điện tử. Các biện pháp kỹ thuật đặc biệt này có thể là con đường duy nhất giúp cơ quan thi hành pháp luật có thể thu thập được những chứng cứ cần thiết để vô hiệu hoá hoạt động của các nhóm tội phạm có tổ chức mà thông thường là các nhóm tội phạm có tổ chức bí mật.

Pháp luật phòng, chống ma tuý của Việt Nam có các quy định cho phép các cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý được áp dụng các biện pháp nghiệp vụ trinh sát cần thiết để phát hiện tội phạm về ma tuý như: Sử dụng khoa học và công nghệ, phương tiện kỹ thuật giám sát, thu thập thông tin về hoạt động phạm tội ma tuý; bố trí người thâm nhập tìm hiểu hoạt động phạm tội ma tuý để phát hiện thông tin, tài liệu có liên quan đến tội phạm và người phạm tội về ma tuý; thực hiện yêu cầu chuyển giao hàng hoá có kiểm soát của các nước để đấu tranh với các tổ chức tội phạm về ma tuý xuyên quốc gia.

Các biện pháp kỹ thuật điều tra đặc biệt mới được chính thức quy định trong Luật phòng chống ma tuý, còn trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung thì các biện pháp này thuộc về các biện pháp nghiệp vụ trinh sát được quy định trong các văn bản của Chính phủ hoặc quy định của Bộ, ngành có liên quan. Để bảo đảm tính thống nhất của pháp luật, các biện pháp kỹ thuật điều tra đặc biệt mà cơ quan có thẩm quyền áp dụng để khám phá tất cà các loại tội phạm cần phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật nhằm góp phần đấu tranh chống tội phạm nói chung và hợp tác quốc tế trong TTHS có hiệu quả.

[1] Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội. Tr. 120.

[3] Điều 340 BLTTHS năm 2003.

[4] Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và nước Liên bang Cộng hoà XHCN Xô Viết (1981), Hiệp định TTTP và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự.

[5] Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và nước Cộng hòa XHCN Tiệp Khắc (1982), Hiệp định TTTP và pháp lý cơ bản về dân sự và hình sự (hiện nay Cộng hoà Séc và Slô-va-kia kế thừa).

[6] Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Hung-ga-ry (1985), Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự, lao động và hình sự.

[7] Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Bun-ga-ry (1986), Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự.

[8] Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan (1993), Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự.

[9] Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và nước Cộng hòa dân chù nhân dân Lào (1998), Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự.

[10] Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và Liên bang Nga (1998), Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự.

[11] Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1998), Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự và hình sự.

[12] Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và nước Cộng hòa U-crai-na (2000), Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự và hình sự.

[13] Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và nước Mông Cổ (2000), Hiệp định TTTP về các vấn đề dân sự, gia đình hình sự.

[14] Hiệp định TTTP và pháp lý về các vấn đề đề gia đình và hình sự giữa Cộng hoà XHCN Việt Nam hoà Bêlarút (ký ngày 17/4/2000).

[15] Hiệp định giữa Cộng hoà XHCN Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên về TTTP và pháp lý trong các vấn đề dân sự và hình sự (ký ngày 3/5/2002).

[16] Trong thực tiễn, khi nhận được yêu cầu TTTP, nước nhận được yêu cầu không từ chối nhưng “im lặng”, không trả lời yêu cầu; trường hợp này có thể hiểu là từ chối “khéo”.

[17] Xem thêm: “Dẫn độ - những vấn đề lý luận và thực tiễn” - Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2006.

[18] Phần này có tham khảo số liệu trong Báo cáo sơ kết ba năm thực hiện Luật tương trợ tư pháp do Bộ Tư pháp tháng 11/2011.

[19] Tên đầy đủ là: Công ước chống tra tấn và sử dụng các hình thức trừng phạt hay đối xử khác tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (xem thêm tạp chí Thông tin Pháp chế - tháng 12/2008)./.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi