Đánh giá chứng cứ trong việc xét phê chuẩn hoặc hủy bỏ các quyết định khởi tố bị can của Kiểm sát viên đối với các vụ án hình sự

Lương Hải Yến- Phòng QLKH và TTTL, Trường ĐT, BDNV kiểm sát

Qua thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự cho thấy chế định chứng cứ đóng vai trò, rất quan trọng nhằm chứng minh tội phạm. Việc áp dụng và thực hiện đúng chế định này sẽ bảo đảm cho Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hiện tốt nhiệm vụ, chức năng của mình, không để lọt tội phạm, không để oan sai đối với người vô tội, bảo vệ được lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Tuy nhiên, việc đánh giá chứng cứ của một số Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự nói chung, trong việc xét phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can nói riêng vẫn còn nhiều tồn tại, vướng mắc... dẫn đến tình trạng thời hạn phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra còn để kéo dài, phải điều tra bổ sung, hủy án vì thiếu chứng cứ, thậm chí phải đình chỉ điều tra bị can vì không phạm tội … Trong phạm vi bài viết này tác giả đề cập đến một số vấn đề về hoạt động đánh giá chứng cứ  của Kiểm sát viên trong việc xét phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can trong các vụ án hình sự của Kiểm sát viên để bạn đọc cùng tham khảo…

Quyết định khởi tố bị can trong các vụ án hình sự là việc quyết định bằng văn bản của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can đối với một con người khi có căn cứ cho rằng họ đã thực hiện hành vi phạm tội. Quyết định khởi tố bị can là cơ sở pháp lý để áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết và tiến hành các biện pháp điều tra đối với người đó nhằm làm rõ tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của người đó gây ra.

  Theo qui định tại khoản 1 Điều 126 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) thì khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội , cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can. Quyết định này là cơ sở cho việc điều tra một cách toàn diện, đầy đủ đối với người phạm tội. Nếu quyết định khởi tố bị can không chính xác, không đúng luật sẽ gây khó khăn cho việc điều tra xác định sự thật của vụ án, xâm phạm đến các quyền lợi ích hợp pháp của công dân...

 Tại khoản 4, Điều 126 BLTTHS năm 2003 đã qui  định: ‘‘...Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố bị can và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn việc khởi tố. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định việc phê chuẩn hoặc ra quyết định hủy bỏ, thay đổi quyết định khởi tố bị can gửi về cho CQĐT...’’. Quy định này thể hiện rõ vai trò của VKSND đó là để quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra có hiệu lực pháp luật thì quyết định đó phải được Viện kiểm sát phê chuẩn và chỉ có VKSND mới có thẩm quyền xét và quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can .

Theo chúng tôi để việc xét phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can đối với các vụ án hình sự có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, Kiểm sát viên cần thực hiện tốt những yêu cầu sau đây:

-  Việc thu thập, tổng hợp đánh giá chứng cứ theo trình tự, thủ tục do BLTTHS qui định của các cơ quan tiến hành tố tụng là nhằm chứng minh một con người có thực hiện hành vi phạm tội hay không ? Phạm tội gì ? được quy định tại điều nào, khoản nào, điểm nào, trong Bộ luật hình sự ? Nhân thân của bị can; Tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; Hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; có hay không các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự hoặc miễn trách nhiệm hình sự… Vì vậy, khi nghiên cứu đánh giá chứng cứ để xem xét phê chuẩn hoặc hủy  bỏ các quyết định khởi tố bị can trong các vụ án hình sự, ngoài các yếu tố cần xem xét như  dấu hiệu pháp lý , yếu tố cấu thành tội phạm, phương thức thủ đoạn của từng loại tội phạm, luật áp dụng... thì kiểm sát viên cần nắm chắc và nghiên cứu kỹ các chứng cứ của vụ án hình sự.

- Kỹ năng nghiên cứu, đánh giá chứng cứ của Kiểm sát viên nhằm đề xuất việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đảm bảo chính xác, khách quan, không làm oan hoặc bỏ lọt tội phạm. Vì vậy Kiểm sát viên không chỉ căn cứ vào lời nhận tội của bị can trong biên bản hỏi cung bị can (trong trường hợp bị can nhận tội) để làm chứng cứ kết tội mà còn phải xem xét, đối chiếu với các nguồn chứng cứ cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, vật chứng và các tài liệu khác...; có phương pháp đánh giá từng chứng cứ để tìm ra chứng cứ có giá trị chứng minh các tình tiết của vụ án và tổng hợp các chứng cứ trong mối liên hệ với nhau một cách logic, khách quan nhằm làm sáng tỏ toàn bộ sự thật của vụ án. Mỗi chứng cứ  thu thập được từ các nguồn chứng cứ phải mang đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ đó là khách quan, có mối liên quan đến nhau phù hợp với diễn biến của vụ án và hợp pháp ((về cả chủ thể thu thập và trình tự thu thập ). Chứng cứ trong vụ án hình sự được xác định bằng : Vật chứng; Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên  đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Kết luận giám định; biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.

Vật chứng là nguồn chứng cứ quan trọng nhất trong quá trình chứng  minh vụ án hình sự. Vật chứng thu được trong các vụ án hình sự bao gồm tài sản như xe ôtô, xe máy, tiền...; Giấy tờ như biên bản nhận tiền, bản cam kết, hợp đồng kinh tế...; Vũ khí, hung khí, phương tiện gây án; Đồ vật như quần áo, giầy dép của bị hại, bị can.... là vật mang những thông tin xác định sự kiện đã xảy ra có liên quan đến vụ án hình sự. Vật chứng còn phải được đối chiếu với các nguồn chứng cứ khác mới khẳng định được mối liên hệ giữa vật chứng với người bị hại, đối tượng phạm tội .Ví dụ : Tại hiện trường vụ án, CQĐT thu giữ được 01 con dao có dính vết máu bên cạnh xác của nạn nhân X. Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm tử thi, kết luận giám định, kết luận : Cơ chế hình thành vết đâm trên cơ thể nạn nhân phù hợp với con dao thu được tại hiện trường, mẫu máu thu được trên con dao với mẫu máu của nạn nhân ...

Nội dung của các biên bản ghi lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ; biên bản hỏi cung bị can; biên bản ghi lời khai của người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan …có thể chứa đựng sự thật của vụ án. Khi nghiên cứu các nguồn chứng cứ này Kiểm sát viên cần quan tâm đến tâm lý khai báo của họ. Trên thực tế, tâm lý khai báo của bị can thường quanh co, khai nhận không đầy đủ để trốn tránh hoặc giảm nhẹ tội; người bị hại khai báo với ý thức chủ quan theo hướng có lợi cho mình và quy kết đối với bị can...nên dễ dẫn đến không khách quan, chính xác. Vì vậy khi nghiên cứu các biên bản này đòi hỏi Kiểm sát viên phải có cách phân tích logic, nhạy bén, đánh giá từng lời khai bằng cách nhìn tổng thể,  tìm ra mâu thuẫn giữa lời khai của các bên tham gia tố tụng hoặc mâu thuẫn từ lời khai của chính họ. Đồng thời tìm ra điểm đồng nhất mang tính khách quan, liên quan phù hợp với với các chứng cứ, diễn biến của vụ án. Tránh chỉ coi trọng lời khai của người bị hại, người làm chứng, người liên quan mà không xem xét kỹ đến lời khai của bị can và ngược lại. Khi thấy nghi ngờ một tình tiết nào đó trong hồ sơ vụ án, cần xem xét, kiểm tra lý lẽ qua chính lời khai của  họ, đối chiếu với các chứng cứ khác, đặt mỗi chứng cứ tìm được từ các nguồn chứng cứ trong mối liên hệ với nhau.

  Các biên bản hoạt động điều tra như biên bản khám nghiệm hiện trường,  biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản đối chất, nhận dạng, biên bản xác minh…của CQĐT cũng là nguồn chứng cứ được thiết lập bởi các cơ quan tiến hành tố tụng và được lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Các biên bản trên được coi là chứng cứ khi chúng được lập theo trình tự, qui định  của BLTTHS với nội dung mang tính khách quan, liên quan và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Ví dụ : Kết quả nhận dạng cho thấy đối tượng bị nhận dạng chính là đối tượng người bị hại đã tố cáo có hành vi lừa đảo, phù hợp với lời khai của chính đối tượng phạm tội, nhân chứng; người liên quan, vật chứng,... trong vụ án.

Kết luận giám định, kết luận định giá tài sản là nguồn chứng cứ được sử dụng để chứng minh những tình tiết liên quan đến vụ án . Kết luận định giá tài sản,  kết luận giám định được coi là chứng cứ gián tiếp có trong hồ sơ vụ án vì kết luận giám định, kết luận định giá có thể thay đổi được trong trường hợp Cơ quan tiến hành tố tụng không đồng ý với các kết luận trên. Tuy nhiên, trên thực tế kết luận giám định, kết luận định giá trong các vụ án hình sự lại có giá trị chứng minh rất cao và là cơ sở pháp lý kết luận hành vi phạm tội, buộc tội, gỡ tội đối với bị can. Kết luận giám định, kết luận định giá chỉ được coi là chứng cứ khi nó phản ánh đầy đủ rõ ràng, chính xác nội dung cần giám định, định giá và do chủ thể được quy định tiến hành. Trên thực tế vấn đề trưng cầu giám định, định giá  trong một số vụ án hình sự  là việc Cơ quan điều tra buộc phải làm trước khi ra quyết định khởi tố bị can ( trong những vụ án làm giả tài liệu, con dấu, chữ ký; những vụ án chiếm đoạt tài sản : trộm cắp tài sản;  lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản...).Tuy nhiên, tùy từng vụ án cụ thể , căn cứ vào cấu thành của  các điều luật trong Bộ luật hình sự;  căn cứ vào các nguồn chứng cứ đã thu thập; căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án  Kiểm sát viên có thể  yêu cầu hoặc không yêu cầu Cơ quan điều tra( Điều tra viên) tiến hành trưng cầu giám định, định giá tài sản mà vẫn có đủ chứng cứ để phê chuẩn quyết định khỏi tố bị can.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị can Kiểm sát viên đề xuất lãnh đạo phê chuẩn quyết định khởi tố bị can. Trong trường hợp thấy chưa đủ căn cứ để khởi tố bị can, hoặc  xét thấy bị can đã phạm vào một tội danh khác tội danh Cơ quan điều tra đã khởi tố thì tùy theo từng trường hợp cụ thể, Kiểm sát viên có thể yêu cầu cơ quan điều tra thu thập, bổ xung thêm tài liệu củng cố chứng cứ làm rõ hành vi phạm tội của bị can, thay đổi bổ xung quyết định khởi tố bị can; hoặc Kiểm sát viên có thể tự mình trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra như hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan...nhằm làm rõ các tình tiết của vụ án để có căn cứ đưa ra các quyết định tố tụng .

Như vậy, để  Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ các quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra được kịp thời chính xác, đảm bảo đúng người, đúng tội, tránh oan, sai bỏ lọt tội phạm. Mỗi Kiểm sát viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ nói chung cũng như lý luận về chứng cứ, phương pháp đánh giá chứng cứ chứng minh sự thật của vụ án nói riêng. Đây cũng là một trong những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong  hoạt động kiểm sát điều tra nhằm đáp ứng  yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay./.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi