Một số vấn đề về hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về thủ tục xét xử sơ thẩm

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Độ

1.  Cơ sở của việc hoàn thiện thủ tục xét xử sơ thẩm

Hoàn thiện thủ tục tố tụng hình sự nói chung, thủ tục xét xử sơ thẩm nói riêng là một phần rất quan trọng và cấp thiết trong công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng Nhà pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay ở nước ta. Tư tưởng đổi mới thủ tục tố tụng hình sự theo hướng dân chủ, bình đẳng, bảo đảm đê người tham gia tố tụng có điều kiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong tố tụng hình sự, tăng cường tranh tụng được thể hiện cụ thể trong các Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp đến năm 2020.

Thực hiện tinh thần cải cách tư pháp của Đảng chúng ta đang tiên hành nghiên cứu đổi mới mô hình tố tụng hình sự nhằm bảo đảm thực hiện có hiệu quả và chất lượng hơn của hoạt động tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Xu hướng của việc đổi mới được xác định theo Nghị quyết số 48-NQ/1W ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị là "Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đằng, công khai  minh bạch chặt chẽ nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng để phán quết bản án coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp”. Nghị quyết số 49-NQ/TW cũng nêu rõ: "Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai dân chủ nghiêm minh: nâng cao chất lượng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp ". Quá trình đổi mới cũng phải xuất phát từ thực tiễn tố tụng hình sự Việt Nam, duy trì và phát huy những ưu điểm vốn có của mô hình tố tụng thầm vấn; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc những hạt nhân hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng phù hợp với truyền thống văn hóa, điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể ở nước ta. Thực tiễn tố tụng cũng cho thấy rằng, một số quy định của pháp luật tố tụng hiện hành còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến các nguyên tắc tố tụng; gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng; làm hạn chế hiệu quả tham gia hoạt động tố tụng hình sự nói chung, phiên tòa hình sự nói riêng. Như vậy, hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) về thủ tục xét xử sơ thẩm là hết sức cần thiết và cấp bách. Theo chúng tôi, việc hoàn thiện thủ tục xét xử sơ thẩm cần đáp ứng các yêu cầu sau đây:

Một là, phải thể hiện đầy đủ các nguyên tắc tố tụng hình sự, đặc biệt là các nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án, nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, nguyên tắc bảo đảm sự bình đẳng trước Toà án, nguyên tắc tranh tụng; xuất phát từ bản chất, vai trò của phiên tòa hình sự sơ thẩm.

Hai là, trên cơ sở phân định rõ ràng các chức năng buộc tội, bào chữa xét xử trong xét xử vụ án hình sự, đồng thời, các quy định cũng phải được quy định trên cơ sở địa vị pháp lý của người tiến hành, người tham gia tố tụng trong vụ án;

Ba là, nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đối với công dân nói chung, người tham gia tố tụng nói riêng, đặc biệt là bị cáo;

Bốn là, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của các quy định chúng ta có thể tham khảo pháp luật tố tụng hình sự của các nước nhưng không thể không xuất phát từ điều kiện cụ thể của Việt Nam, nhất là khả năng bảo đảm vật chất, trình độ chuyên môn của người tiến hành tố tụng, ý thức pháp luật. . .

2. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục xét xử sơ thẩm và những bất cập

2. 1. Các quy định về giai đoạn chuẩn bị xét xử

Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm bắt đầu từ ngày Tòa án thụ lý vụ án hình sự và kết thúc khi Thẩm phán được phân công Chủ tọa phiên tòa ra một trong số các quyết định tại khoản 2 Điều 176 của BLTTHS. Đây là giai đoạn Tòa án giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 176 của BLTTHS thì những công việc cần thiết cho việc mở phiên tòa bao gồm: Nghiên cứu hồ sơ vụ án để ra một trong số các quyết định tại khoản 2; áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; giải quyết việc Viện kiểm sát rút quyết định truy tố; triệu tập những.người cần xét hỏi đến phiên tòa, giao các quyết định của Tòa án và tiến hành công tác chuẩn bị cơ sở vật chất cho việc xét xử.

Có thể thấy rằng, ngoại trừ các trường hợp người bị hại rút yêu cầu khởi tố trước khi mở phiên tòa (khoản 2 Điều 105 của BLTTHS) và trường hợp Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố, việc BTTHS quy định cho phép Thẩm phán ra các quyết định như trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ vụ án khi có căn cứ quy định tại các điểm 3, 4, 5, 6, 7 Điều 107 của BLTTHS là không phù hợp với nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Tại Điều 17 của BLTTHS quy định: "Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số có nghĩa là đòi hỏi phải có sự xem xét, quyết định của cả tập thể đối với các quyết định có ý nghĩa giải quyết toàn bộ nội dung vụ án (trừ các vụ án được áp dụng theo thủ tục rút gọn). Trong án đó, việc thẩm phán ra các quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo khoản 1 Điều 1 79, ra quyết định đinh chỉ vụ án khi có căn cứ quy định tại các điểm 3, 4, 5. 6 và 7 Điều 107 của BLTTHS lại là quyết định làm chấm dứt vụ án tại Tòa án. Để ra được một trong số các quyết định này, đòi hỏi Thẩm phán phải nghiên cứu sâu về mặt nội dung vụ án và quyết định mang tính chất cá nhân Ngoài ra. việc Thẩm phán ra các quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong thời gian vừa qua có nhiều trường hợp không được Viện kiểm sát chấp nhận hoặc Viện kiểm sát không thể đáp ứng do không đúng căn cứ hoặc yêu cầu điều tra không khả thi, dẫn đến kéo dài  thời gian tố tụng.

Điều 177 của BLTTHS (tương tự như vậy là các khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 80) không cho phép Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam mà giao nhiệm vụ này cho Chánh án, Phó Chánh án Tòa án là chưa hợp lý. Thực tế cho thấy, mọi công việc tiên hành nghiên cứu hồ sơ vụ án, nghiên cứu về sự cần thiết phải áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đều do Thẩm phán nghiên cứu. sau đó đề xuất với Chánh án hoặc Phó Chánh án ký quyết định. Hơn ai hết, Thẩm phán mới là người hiểu rõ sự cần thiết này và trên thực tế. họ mới và người phải chịu trách nhiệm cá nhân cho việc tham mưu với cấp trên ra quyết định. Do đó, cần sửa đổi quy định cửa BLTTHS cho phép Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thấm quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam.

2.2. Các quy định về giai đoạn xét xử sơ thẩm

2. 2. 1. Các quy đinh về sự có mặt của những người tham gia tố tụng:

Sự có mặt của người tham gia tố tụng một mặt giúp cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án; mặt khác, đảm bảo cho họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong vụ án. Tuy nhiên BLTTHS quy định sự có mặt của kiểm sát viên, bị cáo là bắt buộc (trừ một số trường hợp luật định); còn sự có mặt của những người tham gia tố tụng khác thì mang tính tùy nghi. Ví dụ. theo các Điều: Điều 191 , Điều 192 và Điều 193 của BLTTHS, khi người tham gia tố tụng được triệu tập vắng mặt thì tùy trường hợp mà Toà án có quyền quyết định tiếp tục hay hoãn phiên tòa. Điều này có thể dẫn đến sự thiếu khách quan trong xét xử của Toà án, khi trên thực tế ở một số phiên tòa. Toà án chỉ công bố các lỗi khai "thuận chiều", phù hợp với đánh giá của Hội đồng xét xử. còn các lời khai khác thường không được công bố.

2.2.2. Về giới hạn của việc xét xử

Theo quy Định tại Điều 196 của BLTTHS, "Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử. Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà  Viện kiểm sát đã truy tố ". Quy định này chưa thật hợp lý, khoa học, mâu thuẫn với nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án và yêu cầu của cải cách tư pháp như Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra là "việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa"

Với quy định trên, nêu tại phiên toà, tòa án thấy bị cáo phạm tội khác nặng hơn và Kiểm sát viên cũng thừa nhận điều đó thì Tòa án cũng không thể kết tội bị cáo theo tội nặng hơn tội đã được  viện kiểm sát truy tố trong cáo trạng. Đây là điều bất hợp lý. Theo chúng tôi, việc Tòa án đưa ra xét xử và việc Tòa án quyết định là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau, không thể ràng buộc Tòa án phải phán quyết về tội danh mà viện kiểm sát đã truy tố khi định tội. Do đó, rất cần thiết phải sửa đổi Điều 196 của BLTTS theo hướng Tòa án chỉ xét xử bị cáo và hành vi mà Viện kiểm sát truy tố; Tòa án được quyền định tội và quyết định hình phạt đối với bị cáo theo kết qủa tranh tụng tại phiên tòa.

2. 2. 3. Các quy định cụ thể về thủ tục phiên tòa

Về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa

Theo quy định cửa BLTTHS, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa được bắt đầu từ việc Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng, xét hỏi những người tham gia tố tụng, công bố các tài liệu, lời khai, xem xét vật chứng và xem xét tại chỗ. Thủ tục xét hỏi được quy định như vậy là cơ bản đầy đủ để nhằm bảo đảm cho việc xác định đầy đủ sự thật khách quan của vụ án. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy vẫn còn những bất cập, đặc biệt là trong bối cảnh cải cách tư pháp, tăng cường tranh tụng, phân định rõ các chức năng buộc tội, bào chữa. xét xử trong tố tụng hình sự và thực hiện các nguyên tắc tố tụng bảo đảm quyền tố tụng của các bên và quyền bình đẳng của các bên tham gia tố tụng trước Toà án.

Về quyền xét hỏi: Theo quy định tại Chương XX của BLTTHS thì chỉ có Hội đồng xét xử Kiểm sát viên, người bào chữa,. người bảo vệ quyền lợi của đương sự có quyền hỏi. Những người tham gia phiên tòa chỉ có quyền đề nghị với Chủ tọa phên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Tuy nhiên, các quy định này thể hiện chưa thật rõ ràng dẫn đến cách hiểu là người tham gia tố tụng theo nghĩa vụ để bảo vệ công lý (người làm chứng, người giám định. người phiên dịch) cũng có quyền đề nghị. Theo chúng tôi, chỉ người có quyền lợi ích liên quan đến vụ án mới có quyền được đề nghị xét hỏi và cũng chỉ những người đó mới có quyền tranh luận để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. Thậm chí cần phải đi xa hơn trong vấn đề này, cần cho phép người tham gia tố tụng có quyền trực tiếp xét hỏi về các tình tiết liên quan đến quyền. lợi ích của mình. Mặt khác, theo quy định tại Điều 209 của BLTTHS thì có thể hiểu rằng, những người tham gia tố tụng chỉ có quyền đề nghị với Chủ tọa phiên tòa xét hỏi thêm đối với bị cáo chứ không có quyền đề nghị hỏi thêm những người tham gia tố tụng khác, đặc biệt là người làm chứng.

Về trình tự xét hỏi: Điều 207 của BLTTHS quy định trách nhiệm của Hội đồng xét xử xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án, quy định những người thực hiện việc xét hỏi theo trình tự Chủ tọa phiên tòa hỏi trước, sau đó đến Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Trong quá trình xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét các vật chứng có liên quan trong vụ án. Đặc biệt. theo điều luật thì người tham gia tố tụng không có quyền xét hỏi mà chỉ được đề nghị Chủ tọa phiên tòa hỏi thêm. Bộ luật tố tụng hình sự cũng không quy định trình tự được xét hỏi. Xung quanh các quy định của Điều 207 của BLTTHS về trình tự xét hỏi đang có những ý kiến tranh luận khác nhau.

Thứ nhất, có ý kiến cho rằng, trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay, trách nhiệm buộc tội thuộc về Viện kiểm sát và vì vậy, trách nhiệm xác định các tình tiết của vụ án phải thuộc về Viện kiểm sát. Từ đó, nhiệm vụ xét hỏi phải được giao cho Kiểm sát viên thực hiện là chủ yếu để bảo vệ sự buộc tội của mình đối với bị cáo.

Chúng tôi cho rằng cần xuất phát từ cơ chế tố tụng để giải quyết vấn đề tranh luận này.

Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội, căn cứ làm phát sinh vụ án hình sự là bản cáo trạng của Viện kiểm sát; cho nên, tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hiện việc xét hỏi đề bảo vệ sự buộc tội đó. Người bào chữa và bị cáo thực hiện chức năng gỡ tội, nên họ được thực hiện việc xét hỏi để bào chữa cho bị cáo. Toà án chỉ xét xử và ra phán quyết trong phạm vi giới hạn của sự buộc tội đó. Vì vậy, trách nhiệm xác định các tình tiết buộc tội thuộc về Viện kiểm sát; trách nhiệm xác định các tình tiết gỡ tội thuộc về người bào chữa bị cáo; trách nhiệm xác định đầy đủ, khách quan các tình tiết buộc tội cũng như gỡ tội thuộc về Tòa án. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là Hội đồng xét xử chủ động xét hỏi để làm rõ các tình tiết của vụ án. mà Chủ tọa điều khiển để các chủ thể khác hỏi và Hội đồng xét xử xét hỏi sau cùng để xác định rõ thêm và đầy đủ các tình tiết của vụ án nhằm phục vụ cho việc ra phán quyết. Theo cơ chế tố tụng thì để tồn tại vụ án hình sự, trước hết phải có sự buộc tội, sau đó là sự gỡ tội (bào chữa) và cuối cùng là Toà án phán xét trên cơ sở sự buộc tội và gỡ tội đó. Trình tự xét hỏi, trình tự tranh luận phải được thực hiện theo trình tự thực hiện chức năng tố tụng đó. Vì vậy, chúng tôi cho rằng trình tự xét hỏi hợp lý sẽ là Kiểm sát viên xét hỏi trước tiếp theo là người bào chữa và Hội đồng xét xử xét hỏi sau cùng và chỉ xét hỏi về các tình tiết chưa được làm sáng tỏ. Chúng tôi cũng cho rằng, quy định bị cáo không được quyền hỏi là chưa hợp lý, hạn chế quyền bào chữa của họ, đặc biệt là các trường hợp bị cáo không có người bào chữa.

Thứ hai, do BLTTHS không quy định trình tự được xét hỏi, cho nên cũng đang có ý kiến khác nhau về trình tự xét hỏi đối với người được xét hỏi. Chúng tôi cho rằng, bị cáo là người bị buộc tội và việc buộc tội bị cáo là căn cứ làm phát sinh phiên tòa. Bị cáo là nhân vật trung tâm của việc xét xử là người có nguy cơ cao nhất liên quan đến quyền lợi ích họ pháp do phán quyết của Toà án. Do đó, bị cáo phải là người đầu tiên được tỏ thái độ của mình đối với bản cáo trạng buộc tội và khoản 2 Điều 209 của BLTTHS đã thể hiện rõ điều này, sau đó mới đến những người tham gia tố tụng khác.

Về thủ tục tranh luận

Theo quy định tại Điều 217 và Điều 218 của BLTTHS, việc tranh luận tại phiên tòa được mở đầu bằng việc Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, sau đó là người bào chữa, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người bảo vệ quyền lợi cho những người đó. Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì người bị hại phát biểu lời buộc tội, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo về tội gì, khung hình phạt ra sao, đề nghị hình phạt như thế nào... mà không nhất thiết phải phân tích, đánh giá chứng cứ.

Theo chúng tôi, có thể không cần phân biệt giai đoạn xét hỏi và giai đoạn tranh luận trong thủ tục phiên tòa. Quy định hiện hành chỉ phù hợp với các vụ án nhỏ, tiến hành xét xử trong thời gian ngắn. Đối với các vụ án lớn, có nhiều bị cáo, nhiều hành vi; thời gian xét xử tiến hành trong nhiều ngày . . . thì quy định xét hỏi xong mới tranh luận là không hợp lý; kết quả xét hỏi có thể bị lãng quên khi tranh luận. Vấn đề rút quyết định truy tố tại phiên tòa cũng đang còn có ý kiến tranh luận khác nhau và vướng mắc trong thực tiễn xét xử:

- Khi Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về một tội nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án. Quy định này có thể .được hiểu rằng trong trường hợp này, Hội đồng xét xử vẫn ra phán quyết về toàn bộ vụ án, kể cả phần quyết định truy tố bị rút;

- Khi Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố, thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến về việc rút truy tố đó. Khi nghị án, nếu Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo không phạm tội thì ra bản án tuyên bố bị cáo không phạm tội; nếu Hội đồng xét xử thấy bị cáo có tội thì tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên xem xét lại quyết định rút truy tố của Viện kiểm sát cấp dưới (Điều 222 của BLTTHS).

Chúng tôi cho rằng, quy định tại Điều 221 và Điều 222 của BLTTHS là chưa hợp lý từ góc độ thực hiện các chức năng tố tụng trong xét xử vụ án hình sự. Giải quyết vấn đề này phải xuất phát từ bản chất của hoạt động xét xử, chức năng tố tụng trong hoạt động xét xử và giới hạn của việc xét xử. Tòa án chỉ thực hiện việc xét xử trên cơ sở quyết định truy tố của Viện kiểm sát; khi Viện kiểm sát không truy tố hoặc rút quyết định truy tố bất kỳ thời điểm nào trước khi toà án ra bản án thì toà án không có quyền xét xử về hành vi đã bị rút truy tố đó.

Về nghị án và tuyên án

Điều 222 quy định về thủ tục nghị án chung (khoản l), nghị án trong trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố (khoản 2), căn cứ nghị án (khoản 3) và về biên bản nghị án (khoản 4). Xung quanh những vấn đề này, cho thấy có một số điểm sau đây cần được nghiên cứu:

Thứ nhất, có ý kiến cho rằng, Điều 222 của BLTTHS không quy định ai là người chủ tọa, duy trì việc nghị án nên vướng mắc trong thực tiễn. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng nghị án là một phần của phiên tòa, cho nên thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa cũng là chủ tọa duy trì cuộc họp nghị án.

Cũng có ý kiến cho rằng, theo quy định của điều luật thì khi thảo luận giải quyết về từng vấn đề của vụ án để biểu quyết, Chủ tọa phiên tòa phát biểu ý kiến và biểu quyết sau cùng để bảo đảm nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Chúng tôi cho rằng, cách hiểu trên đã vượt ra ngoài phạm vi quy đinh của điêu luật Khoản 1 Điều 222 có BLTTHS chỉ quy định: “Thẩm phán biểu quyết sau cùng", chứ không quy định Thầm phán phải phát biểu sau cùng. Là người trực tiếp nghiên cứu làm chủ hồ sơ vụ án, có vai trò chủ động trong giai đoạn xét hỏi, lại có trình độ chuyên môn vững, có kinh nghiệm xét xử, Thẩm phán phải là người đưa ra vấn đề và phát biểu ý kiến của mình để hội đồng xét xử cùng thảo luận, quyết định. Tuy nhiên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không được áp đặt Thẩm phán khác và Hội thẩm biểu quyết theo ý mình và là người phải biểu quyết sau cùng;

Thứ hai, khoản 1 Điều 222 của BLTTHS chưa quy định đầy đủ thủ tục của phiên họp nghị án: Chưa quy định rõ ai là người đưa ra vấn đề để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định; quy định này chỉ phù hợp với Hội đồng xét xử gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm. còn trường hợp Hội đồng xét xử gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm thì chưa được đề cập;

Thứ ba, khoản 4 Điều 222 của BLTTHS chưa có quy định ai là người ghi biên bản nghị án. Thực tiễn xét xử cho thấy, trong tuyệt đại đa số các trường hợp, Chủ tọa phiên tòa đồng thời đảm nhiệm việc ghi biên bản nghị án như là một điều đương nhiên;

Thứ tư, Điều 226 của BLTTHS quy định Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của hội đồng xét xử thực hiện việc tuyên án bằng cách đọc bản án. Điều luật không quy định đọc toàn văn hay đọc một phần nào đó của bản án. Thực tiễn cho thấy, các Toà án nước ta tuyên án bằng cách đọc nguyên văn toàn bộ bản án. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, khi tuyên án, Toà án chỉ cần đọc toàn bộ phần quyết định của bản án. Pháp luật tổ tụng hình sự đa số các nước cũng quy định chỉ tuyên phần quyết định của Hội đồng xét xử.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục xét xử sơ thẩm

Căn cứ vào các yêu cầu của cải cách tư pháp phân tích những bất cập của BLTTHS hiện hành, chúng tôi có một số kiến nghị nhằm hoàn thiện BLTTHS về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như sau:

3. 1. Hoàn thiện các quy định chung về thủ tục xét xử sơ thẩm

- Hoàn thiện Điều 9 của BLTTHS về nguyên tắc suy đoán không có tội theo hướng: "Một người được coi là không có tội cho đến khi tội phạm của họ được chứng minh bằng bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật".

- Hoàn thiện Điều 10 của BLTTHS về nguyên tắc xác định sự thật của vụ án theo hướng: 1.Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; 2.Tòa án xác định khách quan. toàn diện, đầy đủ sự thật khách quan của vụ án khi ra phán quyết; 3. Trách nhiệm của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát, Tòa án bảo đảm cho người bào chữa, bị can, bị cáo chứng minh không có tội.

- Hoàn thiện các quy định khác theo hướng bảo đảm tối đa sự có mặt của người tham gia tố tụng. Quy định hạn chế quyền tùy nghi và điều kiện xét xử vắng mặt không chỉ đối với bị cáo mà cả những người tham gia tố tụng khác.

3. 2. Hoàn thiện các quy định về thủ tục chuẩn bị xét xử và quy định chứng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa

- Sửa đổi khoản 2 Điều 176 của BLTTH theo hướng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chỉ ra một trong ba quyết định: 1. Đưa vụ án ra xét xử; 2. Tạm đình chỉ vụ án; 3. Đình chỉ vụ án khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ truy tố.

- Bỏ Điều 179 của BLTTHS theo hướng bỏ thẩm quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; hoàn thiện Điều 180 theo hướng chỉ quy định việc tạm đình chỉ vụ án Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ vụ án phải do Hội đồng xét xử quyết định tập thể khi nghị án.

- Hoàn thiện khoản 2 Điều 187 cửa BLTTHS theo hướng: Tòa án chỉ vắng mặt bị cáo trong trường hợp bị cáo trốn tránh và việc truy nã không có kết quả và trường hợp bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa ’ .

- Hoàn thiện các quy định về sự có mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa theo hướng: Người tham gia tố tụng vắng mặt có lý do chính đáng và người tham gia tố tụng có liên quan yêu cầu thì phải hoãn phiên tòa; những trường hợp khác do Hội đồng xét xử quyết định.

- Sửa đổi Điều 195, Điều 221 của BLTTHS theo hướng: 1. Kiểm sát viên có thể rút quyết định truy tố vào bất kỳ thời điểm nào của phiên tòa; 2. Khi xem sát viên rút một phần quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử chỉ xét xử phần quyết định truy tố không bị rút; 3. Khi Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử đình chỉ vụ án. Chuyển khoản 5 Điều 211 sang Điều 198 và bổ sung trách nhiệm của Hội đồng xét xử không chỉ đối với người làm chứng, mà cả đối với người tham gia phiên tỏa khác.

3. 3. Hoàn thiện các quy đinh về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa

- Hoàn thiện khoản 2 Điều 207 của BLTTHS về trình tự xét hỏi theo hướng: Khi xét hỏi từng người, kiểm sát viên hỏi trước, đến người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người tham gia tố tụng có quyền, lợi ích liên quan có quyền đề nghị Chủ tọa phiên tòa được hỏi; các thành viên Hội đồng xét xử chỉ xét hỏi thêm về những tình tiết mà mình cho rằng chưa rõ ràng, chưa được xét hỏi đầy đủ hoặc có mâu thuẫn

Bổ sung một khoản vào Điều 207, quy định về trình tự được xét hỏi theo hướng khi xét hỏi từng người, bị cáo được hỏi trước rồi sau đó là những người tham gia tố tụng khác; người xét hỏi có thể đồng thời xét hỏi nhiều người khác nhau và kết hợp xem xét tài liệu. vật chứng với trình tự hợp lý.

- Bổ sung một khoản vào Điều 20 quy định về quyền tham gia hỏi những người tham gia tố tụng của bị cáo; quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được đề nghị xét hỏi người tham gia tố tụng khác.

3.4. Về tranh luận tại phiên tòa

 Hoàn thiện Điều 217 của BLTTHS về trình tự phát biểu khi tranh luận theo hướng: Đầu tiên là Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, tiếp theo người bị hại (hoặc người bảo vệ quyền lợi của người bị hại) trình bày lời buộc tội hoặc ý hến của mình sau đó là bị cáo (và/hoặc người bào chữa) trình bày lời bào chữa và sau cùng là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến và án (hoặc người bảo vệ quyền lợi của họ).

Hoàn thiện Điều 218 theo hướng: Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng phải đối đáp, tranh luận về tất cả những vấn đề mà Tòa án phải xem xét và giải quyết trong bản án.

 3. 5. Về nghị án và tuyên án

Bổ sung vào khoản 1 Điều 222 của BLTTHS về nghị án một ý: Chủ tọa phiên tòa điều khiển phiên họp nghị án và có trách nhiệm đưa ra các vấn đề để Hội đồng xét xử thảo luận, quyết định;

- Bổ sung khoản 4 Điều 222 của BLTTHS một ý là: Khi nghị án, chủ tọa phiên tòa phân công một thành viên Hội đồng xét xử  ghi biên bản nghị án;

- Hoàn thiện Điều 226 của BLTTHS theo hướng: Khi tuyên án, một thành viên của Hội đồng xét xử đọc nguyên văn toàn bộ bản án.

___________________

(*) cũng có ý kiến cho rằng trong trường hợp này. Hội đồng xét xử tuyên bị cáo vô tội. Quan điểm này không đúng vì khi quyết định truy tố (cáo mạng) đã bị rút thì Hội đồng xét xử không còn căn cứ đê xét xử nên phải đình chi; hơn nữa. khi Viện kiểm sát không truy tố, không buộc tội tự Tòa Án không thể tuyên không có tội.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi