Hoàn thiện hệ thống hình phạt trong Bộ luật Hình sự Việt Nam qua tham khảo Bộ luật Hình sự Trung Quốc

Tiến sĩ Đỗ Đức Hồng Hà

Hệ thống hình phạt trong Bộ luật Hình sự Việt Nam (được quy định từ Điều 28 đến Điều 40) gồm 7 hình phạt chính và 7 hình phạt bổ sung. 7 hình phạt chính là: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân và tử hình. 7 hình phạt bổ sung là: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền; trục xuất. Trong đó, có 2 hình phạt có thể là hình phạt chính, có thể là hình phạt bổ sung là phạt tiền và trục xuất.

Hệ thống hình phạt trong Bộ luật Hình sự Trung Hoa (được quy định từ Điều 32 đến Điều 60) gồm 6 hình phạt chính và 4 hình phạt bổ sung. 6 hình phạt chính là: Trục xuất; quản chế; cải tạo lao động; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình. 4 hình phạt bổ sung là: Phạt tiền; tước các quyền lợi chính trị; tịch thu tài sản; trục xuất. Trong đó, có 1 hình phạt có thể là hình phạt chính, có thể là hình phạt bổ sung là trục xuất.

Nghiên cứu hệ thống hình phạt trong Bộ luật Hình sự Việt Nam và Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, chúng tôi thấy có những điểm giống nhau cơ bản là: 1) đều quy định hình phạt trong một chương riêng của Bộ luật Hình sự; 2) hệ thống hình phạt đều gồm các hình phạt chính và các hình phạt bổ sung; 3) các hình phạt đều được quy định cụ thể phạm vi và điều kiện áp dụng; 4) các hình phạt chính được sắp xếp theo trật tự tăng dần về tính nghiêm khắc, trong đó hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất... Bên cạnh những điểm giống nhau đó, Bộ luật Hình sự Việt Nam và Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có những điểm khác biệt nhất định; đó là:

Thứ nhất, trước khi quy định các loại hình phạt cụ thể, Bộ luật Hình sự Việt Nam có hai điều luật quy định về khái niệm hình phạt và mục đích của hình phạt. Cụ thể là, Điều 26 quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội” và Điều 27 quy định: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”. Những nội dung này không được quy định trong Bộ luật Hình sự Trung Hoa.

Thứ hai, về số lượng hình phạt, Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định đến 12 loại hình phạt (7 hình phạt chính và 7 hình phạt bổ sung; trong đó, có 2 hình phạt có thể là hình phạt chính, có thể là hình phạt bổ sung); trong khi đó Bộ luật Hình sự Trung Hoa chỉ quy định 9 loại hình phạt (6 hình phạt chính và 4 hình phạt bổ sung; trong đó, có 1 hình phạt có thể là hình phạt chính, có thể là hình phạt bổ sung). Sự khác nhau này cho thấy tính phân hoá trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự Việt Nam cao hơn tính phân hoá trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự Trung Hoa. Bởi lẽ, việc quy định nhiều loại hình phạt không những góp phần mở thêm khả năng pháp lý cho Toà án có thể lựa chọn hình phạt phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà còn giúp đạt được tối ưu mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung của hình phạt.

Thứ ba, trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, quản chế được quy định là hình phạt bổ sung, phạt tiền được quy định có thể là hình phạt chính, có thể là hình phạt bổ sung; nhưng trong Bộ luật Hình sự Trung Hoa, quản chế được quy định là hình phạt chính, còn phạt tiền chỉ được quy định là hình phạt bổ sung. Bên cạnh đó, một số loại hình phạt tuy được quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam nhưng không được quy định trong Bộ luật Hình sự Trung Hoa và ngược lại. Cụ thể là: Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ và cấm cư trú. Bộ luật Hình sự Trung Hoa tuy không quy định hình phạt cải tạo không giam giữ, nhưng lại quy định loại hình phạt khác là cải tạo lao động với thời hạn từ 1 tháng đến 6 tháng. Loại hình phạt này theo chúng tôi là phù hợp hơn hình phạt cải tạo không giam giữ, cả về thời gian và giá trị cải tạo. Bởi lẽ, từ 1 tháng đến 6 tháng cải tạo lao động là thời gian không quá ngắn, cũng không quá dài, vừa đủ để cải tạo người phạm tội; giúp họ nhận ra lỗi lầm và có thể từ lao động giúp họ thấy được giá trị của cuộc sống. Ngoài ra, Bộ luật Hình sự Trung Hoa không quy định hình phạt cảnh cáo trong hệ thống hình phạt của mình vì tính trừng trị, răn đe của nó rất thấp, nếu áp dụng hình phạt này sẽ không đạt được mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung. Cũng vì lý do trên mà cảnh cáo tuy được quy định là hình phạt chính trong hệ thống hình phạt Việt Nam nhưng nó hầu như không được áp dụng trong thực tiễn. Do đó, sẽ là hợp lý hơn nếu chúng ta bỏ hình phạt cảnh cáo ra khỏi trong hệ thống hình phạt Việt Nam.

Thứ tư, cách quy định về hình phạt chính và hình phạt bổ sung theo Bộ luật Hình sự của hai nước cũng có sự khác nhau. Theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam, hình phạt chính được tuyên độc lập, hình phạt bổ sung có thể được tuyên kèm theo hình phạt chính. Khoản 3 Điều 28 Bộ luật khẳng định rõ tinh thần này: “Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung”. Khác với cách quy định của Việt Nam, Bộ luật Hình sự Trung Hoa quy định: “Các hình phạt bổ sung có thể được áp dụng độc lập” (Điều 34). Quy định này cho thấy, việc áp dụng hình phạt bổ sung trong Bộ luật Hình sự Trung Hoa không khác gì so với việc áp dụng hình phạt chính. Theo chúng tôi, cách quy định này đã mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt bổ sung, vì theo quy định tại Điều 34 Bộ luật Hình sự Trung Hoa thì người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung ngay cả khi họ không bị áp dụng hình phạt chính. Tuy nhiên, nếu đúng là như vậy thì tên gọi các hình phạt này là hình phạt bổ sung sẽ không chính xác.

Thứ năm, về hình phạt quản chế, Bộ luật Hình sự Việt Nam và Bộ luật Hình sự Trung Hoa tuy đều quy định thời hạn chấp hành hình phạt và nghĩa vụ của người bị quản chế; nhưng ngoài ra, Bộ luật Hình sự Việt Nam còn quy định khái niệm và điều kiện áp dụng hình phạt quản chế: “Quản chế là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định, có sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương. Trong thời gian quản chế, người bị kết án không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công dân theo Điều 39 của Bộ luật này và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Quản chế được áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, người tái phạm nguy hiểm hoặc trong những trường hợp khác do Bộ luật này quy định. Thời hạn quản chế là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù” (Điều 38).

Bộ luật Hình sự Trung Hoa tuy không quy định khái niệm quản chế, điều kiện áp dụng hình phạt quản chế, nhưng lại quy định cơ quan thi hành hình phạt quản chế; thủ tục và thời điểm thi hành hình phạt quản chế; việc khấu trừ thời hạn tạm giam vào thời hạn quản chế: “Thời hạn quản chế là từ 3 tháng đến 2 năm. Bản án quản chế do cơ quan Công an thi hành (Điều 38). Trong thời hạn quản chế, người bị kết án phải tuân chủ những quy định sau đây: 1. Chấp hành pháp luật, pháp quy hành chính, phục tùng việc giám sát; 2. Nếu chưa được cơ quan thi hành phê chuẩn thì không được thực hiện quyền tự do ngôn luận, xuất bản, tụ tập, diễu hành, thị uy; 3. Báo cáo các hoạt động của mình theo quy định của cơ quan thi hành quản chế; 4. Tuân thủ những quy định của cơ quan thi hành quản chế về việc gặp gỡ, tiếp khách; 5. Thay đổi chỗ ở hoặc rời khỏi huyện, thị nơi cư trú phải báo cáo và được cơ quan quản chế đồng ý. Những người bị quản chế khi tham gia lao động được hưởng chế độ làm việc, thù lao như nhau (Điều 39). Sau khi hết thời hạn quản chế, cơ quan thi hành quản chế phải thông báo mãn hạn quản chế cho người bị quản chế, cơ quan và quần chúng liên quan biết (Điều 40). Thời hạn quản chế tính từ ngày tuyên án. Thời gian tạm giam trước khi tuyên án được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt quản chế, cứ 1 ngày tạm giam bằng 2 ngày quản chế (Điều 41)”.

Qua so sánh, chúng tôi thấy, quy định về hình phạt quản chế trong Bộ luật Hình sự Việt Nam có điểm hợp lý hơn (đó là không quy định cơ quan thi hành hình phạt quản chế, thủ tục và thời điểm thi hành hình phạt quản chế, vì đây là phạm vi của luật tố tụng hình sự) và đầy đủ hơn (đó là có quy định khái niệm quản chế, điều kiện áp dụng hình phạt quản chế); nhưng cũng có điểm chưa hợp lý (đó là chưa quy định việc khấu trừ thời hạn tạm giam vào thời hạn quản chế, dẫn đến không bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của người phạm tội, nhất là trong trường hợp họ đã bị tạm giam và sau đó bị xử phạt quản chế).

Thứ sáu, về hình phạt tù có thời hạn, Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định khái niệm hình phạt tù có thời hạn, thời hạn tù có thời hạn và việc khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam vào thời hạn tù: “Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định. Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm (nếu phạm nhiều tội thì đến ba mươi năm). Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù” (Điều 33 và Điều 50).

Bộ luật Hình sự Trung Hoa tuy không quy định khái niệm hình phạt tù và việc khấu trừ thời hạn tạm giữ vào thời hạn tù (chỉ khấu trừ thời hạn tạm giam), nhưng lại có những quy định về hình phạt tù mà Bộ luật Hình sự Việt Nam không có; đó là: Quy định nghĩa vụ phải tham gia lao động và quyền được giáo dục và cải tạo tại Điều 46: “Người phạm tội bị kết án tù có thời hạn hoặc tù chung thân bị giam giữ trong nhà tù hoặc trong trại tù; tất cả những người có khả năng lao động đều phải tham gia lao động, được giáo dục và cải tạo”; quy định hình phạt tử hình có thể được thay bằng hình phạt tù có thời hạn từ 15 năm đến 20 năm tại Điều 50: “Nếu người bị kết án tử hình được hoãn thi hành, không phạm tội do cố ý trong thời gian hoãn thi hành án, thì sau khi đủ 2 năm, hình phạt tử hình được thay bằng tù chung thân; nếu như có biểu hiện hối cải lập công, thì sau khi đủ 2 năm, hình phạt tử hình có thể được thay bằng hình phạt tù có thời hạn từ 15 năm đến 20 năm; nếu có chứng cứ xác đáng cho thấy người bị kết án cố ý phạm tội mới, thì theo phê chuẩn của Toà án nhân dân tối cao, bản án tử hình được thi hành”; quy định cách tính thời hạn chấp hành hình phạt tù tại Điều 47: “Thời hạn tù có thời hạn được tính từ ngày bắt đầu thi hành bản án, thời gian tạm giam trước khi tuyên án được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 1 ngày tạm giam bằng 1 ngày tù”.

Qua so sánh, chúng tôi thấy, quy định về hình phạt tù trong Bộ luật Hình sự Việt Nam có điểm hợp lý hơn (đó là không quy định cách tính thời hạn chấp hành hình phạt tù vì đây là phạm vi của luật tố tụng hình sự) và đầy đủ hơn (đó là có quy định khái niệm hình phạt tù và việc khấu trừ thời hạn tạm giữ vào thời hạn tù); nhưng cũng có điểm chưa hợp lý (đó là chưa quy định nghĩa vụ phải tham gia lao động và quyền được giáo dục và cải tạo, chưa quy định hình phạt tử hình có thể được thay bằng hình phạt tù có thời hạn). Thêm vào đó, nếu trong Bộ luật Hình sự Việt Nam mức tối đa của hình phạt tù có thời hạn là 20 năm (nếu phạm một tội), 30 năm (nếu phạm nhiều tội), thì hình phạt tù có thời hạn theo quy định của Bộ luật Hình sự Trung Hoa có mức tối đa chỉ là 15 năm (nếu phạm một tội), 20 năm (nếu phạm nhiều tội hoặc có sự chuyển đổi từ hình phạt tử hình). Mức phạt tù trong Bộ luật Hình sự Trung Hoa theo chúng tôi là hợp lý và nhân đạo hơn mức phạt tù trong Bộ luật Hình sự Việt Nam. Bởi lẽ, với mức tối đa của hình phạt tù có thời hạn chỉ là 20 năm vừa đủ để trừng trị người phạm tội và răn đe, ngăn ngừa những người không vững vàng trong xã hội, thêm vào đó, nếu Bộ luật Hình sự Việt Nam được sửa đổi theo hướng này sẽ góp phần khắc phục tình trạng quá tải trong các trại giam ở Việt Nam như hiện nay.

Thứ bảy, về hình phạt tử hình, Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định khái niệm hình phạt tử hình, điều kiện áp dụng hình phạt tử hình, đối tượng không bị áp dụng hình phạt tử hình, việc chuyển tử hình thành tù chung thân: “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân. Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân” (Điều 35).

Bộ luật Hình sự Trung Hoa tuy không quy định khái niệm hình phạt tử hình, nhưng cũng quy định điều kiện áp dụng hình phạt tử hình và đối tượng không bị áp dụng hình phạt tử hình. Bộ luật Hình sự Trung Hoa quy định: “không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa đủ 18 tuổi khi phạm tội, đối với phụ nữ có thai khi bị xét xử” (Điều 49). Ngoài ra, Bộ luật Hình sự Trung Hoa còn có quy định điều kiện hoãn thi hành hình phạt tử hình, thủ tục thi hành hình phạt tử hình, việc chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù có thời hạn: “Tử hình chỉ được áp dụng với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Nếu chưa cần thiết phải thi hành án ngay đối với người bị kết án tử hình, có thể tuyên hoãn thi hành án tử hình sau 2 năm ngay tại thời điểm tuyên bản án tử hình. Trừ các bản án tử hình do chính Toà án nhân dân tối cao tuyên theo luật định, tất cả các bản án tử hình phải được gửi lên Toà án nhân dân tối cao phê chuẩn. Toà án nhân dân tối cao có thể quyết định hoặc phê chuẩn bản án tử hình được hoãn thi hành” (Điều 48). Những quy định này của Bộ luật Hình sự Trung Hoa theo chúng tôi là hợp lý và nhân đạo hơn Bộ luật Hình sự Việt Nam. Bởi lẽ, quy định hoãn thi hành hình phạt tử hình và chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù có thời hạn không những hạn chế oan sai, mà còn có tác dụng phòng ngừa riêng, phòng ngừa chung, tăng khả năng, điều kiện để người phạm tội hướng thiện, hoàn lương.

Thứ tám, về hình phạt tiền, Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định hình phạt tiền có thể là hình phạt chính, có thể là hình phạt bổ sung: “1. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định. 2. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma tuý hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này quy định. 3. Mức phạt tiền được quyết định tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá cả, nhưng không được thấp hơn một triệu đồng. 4. Tiền phạt có thể được nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Toà án quyết định trong bản án” (Điều 30). Bộ luật Hình sự Trung Hoa tuy quy định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung nhưng lại cho phép áp dụng độc lập loại hình phạt này. Thêm vào đó, Bộ luật Hình sự Trung Hoa còn quy định biện pháp cưỡng chế đối với người bị kết án trong trường hợp họ không nộp phạt đúng hạn (Điều 53). Đây là điểm khác biệt cơ bản liên quan đến hình phạt phạt tiền giữa Bộ luật Hình sự Việt Nam và Bộ luật Hình sự Trung Hoa. Nếu Bộ luật Hình sự Việt Nam không quy định biện pháp bảo đảm khả năng thực thi của hình phạt phạt tiền thì Bộ luật Hình sự Trung Hoa lại quy định rất cụ thể biện pháp nhằm bảo đảm khả năng thực thi của hình phạt phạt tiền bằng việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong trường hợp người phạm tội không nộp tiền phạt đúng hạn. Đây là điểm tiến bộ mà chúng ta cần tiếp thu khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự.

Thứ chín, Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định khái niệm hình phạt tịch thu tài sản, điều kiện áp dụng hình phạt tịch thu tài sản, phạm vi áp dụng hình phạt tịch thu tài sản: “Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án sung quỹ nhà nước. Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp do Bộ luật này quy định. Khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống” (Điều 40).

Bộ luật Hình sự Trung Hoa tuy không quy định rõ khái niệm hình phạt tịch thu tài sản, nhưng lại quy định rõ phạm vi áp dụng; đó là: “Nếu tịch thu toàn bộ tài sản cần phải giữ lại một khoản chi phí cuộc sống cần thiết cho người phạm tội và người được người phạm tội nuôi dưỡng. Khi tịch thu tài sản, không được tịch thu tài sản thuộc sở hữu của thành viên khác trong gia đình người phạm tội” (Điều 59): “Khi cần phải dùng tài sản bị tịch thu để trả các khoản nợ hợp pháp mà người bị kết án vay trước khi tài sản bị tịch thu, thì các khoản nợ đó được thanh toán theo yêu cầu của các chủ nợ” (Điều 60). Quy định này trong Bộ luật Hình sự Trung Hoa theo chúng tôi là đầy đủ, chặt chẽ và hợp lý hơn quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Những nghiên cứu trên đây cho thấy, hệ thống hình phạt theo Bộ luật Hình sự Việt Nam và hệ thống hình phạt theo Bộ luật Hình sự Trung Hoa, bên cạnh những điểm tương đồng (đều thể hiện chính sách hình sự “kết hợp giáo dục, thuyết phục với cưỡng chế, trấn áp”; đều có hình phạt chính và hình phạt bổ sung; đều quy định hình phạt phạt tiền, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình...) còn có những điểm khác biệt, đó là: a) Bộ luật Hình sự Trung Hoa không phân biệt rõ hệ thống hình phạt chính và hình phạt bổ sung; b) Trong Bộ luật Hình sự Việt Nam có nhiều hình phạt mà Bộ luật Hình sự Trung Hoa không có hoặc không được quy định là hình phạt, đó là: Cảnh cáo, cải tạo không giam giữ và cấm cư trú; c) Có hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam là hình phạt bổ sung (quản chế) nhưng trong Bộ luật Hình sự Trung Hoa nó lại được quy định là hình phạt chính; d) Mức tối thiểu và mức tối đa của hình phạt tù có thời hạn cũng như hình thức và các biện pháp nhằm bảo đảm khả năng thực thi của hình phạt tiền cũng có nhiều điểm khác nhau... và thể hiện tính hợp lý, khoa học, nhân đạo của Bộ luật Hình sự Trung Hoa cao hơn Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Để nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt và mở rộng tính nhân đạo của nền tư pháp, chúng tôi kiến nghị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần sửa đổi, bổ sung một số vấn đề về hình phạt như đã phân tích ở trên. Những kiến nghị này nếu được thực hiện một cách triệt để, với bước đi phù hợp thì chắc chắn nền tư pháp Việt Nam sẽ ngày càng thể hiện rõ nguyên tắc pháp chế, nhân đạo, công bằng và phân hoá trách nhiệm hình sự, thực sự trở thành nền tư pháp của dân, do dân và vì dân./.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi