Thi hành án phạt tù có thời hạn và những giải pháp nâng cao hiệu quả

Nguyễn Văn Nam – Tòa Hành chính, Tòa án nhân dân tối cao

Trong Luật Hình sự thì hình phạt tù có thời hạn là chế tài có ở hầu hết tất cả các điều luật trong phần riêng của Bộ luật Hình sự, ngoại trừ khoản 1  Điều 125 tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác", khoản 1 Điều 161 "Tội trốn thuế, khoản 1 Điều 163 "Tội cho vay nặng lãi" và khoản 1 Điều 171 "Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp" là không sử dụng hình phạt tù có thời hạn trong chế tài. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự của Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 5 số 37/2009 ngày 19/6/2009 đã bỏ hình phạt tử hình ở các Điều 111, 139, 153, 180, 197, 221, 289 và 334. Điều này càng chứng minh hình phạt tù có thời hạn là một trong các hình phạt thể hiện rõ nhất chính sách hình sự và nguyên tắc của Nhà nước đối với người phạm tội, đồng thời ngăn ngừa người phạm tội tiếp tục phạm tội, động viên, khuyến khích người phạm tội chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo, nhanh chóng để trở về hoà nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Hình phạt tù có thời hạn là nhằm tách người phạm tội ra khỏi cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định, khi mà hành vi phạm tội của họ buộc phải tách họ ra khỏi cộng đồng một thời gian để ngăn ngừa tội phạm và giáo dục người phạm tội.

Trong khoa học pháp lý về thi hành án hình sự ở việt Nam, việc nghiên cứu về từng hình phạt cụ thể vẫn chưa được quan tâm, cũng như chưa được nghiên cứu một cách sâu sắc, đầy đủ, có hệ thống và toàn diện. Về pháp luật thi hành án hình sự, thể chế hoá chủ trương và đường lối của Đảng, nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác thi hành án hình sự, ngày 17/6/2010, Quốc hội đã thông qua Luật Thi hành án hình sự năm 2010. Đây là bước đột phá trong cải cách tư pháp, đặc biệt trong lĩnh vực cải cách thi hành án hình sự. Luật Thi hành án hình sự góp phần hoàn thiện và là cơ sở pháp lý cho hoạt động thi hành án hình sự, đáp ứng được các yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp. Tuy nhiên, để Luật thực sự đi vào cuộc sống thì chúng ta vẫn cần phải có những điều chỉnh từng bước cho phù hợp với điều kiện thực tế, có các văn bản hướng dẫn luật một cách đồng bộ và cụ thể đối với từng loại hình phạt, từng vấn đề cụ thể trong công tác thi hành án hình sự. Trong bài viết này, chúng tôi nghiên cứu một số vấn đề cơ bản trong thi hành án phạt tù có thời hạn ở Việt Nam hiện nay.

1. Khái niệm và bản chất của thi hành bản án phạt tù có thời hạn

Để làm sáng tỏ khái niệm thi hành bản án phạt tù có thời hạn, trước hết cần làm rõ khái niệm thi hành án. Theo Đại từ điển tiếng Việt, thi hành là "thực hiện điều đã chính thức quyết định". Như vậy, bản án phạt tù có thời hạn của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thực hiện đúng với nội dung trong bản án trên thực tế.

Về mặt lập pháp, khoản 3 Điều 3 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 giải thích: "Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành người có ích cho xã hội". Từ những phân tích trên có thể hiểu, thi hành bản án phạt tù có thời hạn là việc đưa bản án phạt tù có thời hạn đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế, tức là buộc người bị kết án phạt tù có thời hạn phải chấp hành hình phạt tại trại giam, trại tạm giam trong thời hạn nhất định được quy định trong bản án.

2. Mục đích và ý nghĩa của việc thi hành bản án phạt tù có thời hạn

Thi hành án phạt tù có thời hạn về thực chất là tước một số quyền tự do, giam giữ người bị kết án phạt tù tại trại giam, cách ly người đó khỏi môi trường xã hội bình thường một khoảng thời gian nhất định để thực hiện các mục đích của hình phạt là đảm bảo công lý, công bằng xã hội, cải tạo, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm.

Do đó, việc thi hành án phạt tù có thời hạn không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội, mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Thi hành án phạt tù có thời hạn còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Bên cạnh đó, khi bản án phạt tù có thời hạn được thi hành trên thực tế, đã đảm bảo cho các giai đoạn tố tụng trước đó có ý nghĩa.

3. Cơ sở của thi hành bản án phạt tù có thời hạn

Việc thi hành hình phạt tù có thời hạn phải bảo đảm đầy đủ các điều kiện sau: Bản án phạt tù có thời hạn của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật: Những bản án và quyết định của Toà án tuyên hình phạt tù có thời hạn đã có hiệu lực pháp luật bao gồm: Những bản án và quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm những bản án và quyết định của Toà án cấp phúc thẩm; những quyết định của Toà án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Quyết định thi hành hình phạt tù có thời hạn: Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc uỷ thác cho Toà án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm, Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc uỷ thác cho Toà án khác cùng cấp ra quyết định thi hành

4. Cơ quan thi hành bản án phạt tù có thời hạn.

Hệ thống tổ chức thi hành án hình sự gồm có: Cơ quan quản lý thi hành án hình sự, bao gồm Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an và Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Cơ quan thi hành án phạt tù có thời hạn là cơ quan chuyên trách được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành bản án phạt tù có thời hạn của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đó là: Trại giam thuộc Bộ Công an, trại giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu. Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Cơ quan thi hành án hình sự quân khu và tương đương.

5. Thực trạng công tác thi hành bản án phạt tù có thời hạn

Theo số liệu thống kê của Vụ Thống kê, tổng hợp - Tòa án nhân dân tối cao từ năm 2005 đến năm 2008, tình hình bị cáo bị xét xử với các mức hình phạt.

Năm

Tù từ 3 năm trở xuống

Trên 3 năm đến dưới 7 năm

Trên 7 năm đến 15 năm

Trên 15 năm đến 20 năm

Từ trên 20 năm đến 30 năm

Các loại tái phạm

Nữ

Từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi

Từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi

2005

37623

12620

6028

1020

44

4511

6181

706

4599

2006

43204

13543

6324

1361

70

5091

6208

881

5151

2007

43099

14368

5737

1195

107

4608

7231

657

5666

2008

46063

14171

6273

1237

109

4303

7045

734

6294

(Nguồn: Vụ Thống kê, tổng hợp – Tòa án nhân dân tối cao)

Theo số liệu thống kê, số lượng phạm nhân thi hành án phạt tù có thời hạn tại trại giam Phú Sơn 4 qua các năm như sau:

Năm

Tổng số phạm nhân

2006

4468

2007

4796

2008

5169

2009

5286

6 tháng 2010

4955

(Nguồn: Trại giam Phú Sơn 4 – Thái Nguyên)

Theo số liệu thống kê, chúng ta có thể thấy được tình trạng bị cáo bị xét xử phạt tù có thời hạn, số lượng phạm nhân ngày càng tăng, việc đảm bảo điều kiện cho việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật đối với phạm nhân như ăn, ở, lao động, sinh hoạt cũng là một vấn đề gánh nặng cho các trại giam khi quá tải. Điều này, làm giảm hiệu quả giáo dục phạm nhân nói riêng và thi hành án nói chung. Bên cạnh những thành quả đã đạt được trong công tác thi hành án phạt tù có thời hạn, thì vẫn còn một số vấn đề khó khăn cần khắc phục. Trong thời gian vừa qua, có thể thấy công tác thi hành án phạt tù có thời hạn vẫn gặp phải một số vướng mắc sau:

Thứ nhất, chất lượng giáo dục, cải tạo phạm nhân còn thấp, chương trình giáo dục cải tạo còn nhiều bất cập; hiệu quả dạy nghề chưa thích hợp với nhu cầu lao động xã hộp lao động sản xuất ở trại giam chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp và một số ngành nghề thủ công đơn giản, hiệu quả kinh tế thấp, quản lý phạm nhân khó khăn.

Thứ hai, trên thực tế, nhiều người bị kết án tù có thời hạn, bản án và quyết định phạt tù có thời hạn đã có hiệu lực pháp luật, nhưng họ chưa đi chấp hành hình phạt tù ở trại giam, hoặc được hoãn thi hành án phạt tù có thời hạn không đúng với điều kiện được quy định trong Luật Hình sự.

Thứ ba, hiện nay, người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam ngày càng gia tăng, dẫn đến số phạm nhân là người nước ngoài và mang hộ chiếu nước ngoài đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn trong các trại giam ngày càng tăng, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn việc thi hành hình phạt tù có thời hạn đối với phạm nhân là người nước ngoài và mang hộ chiếu nước ngoài.

Thứ tư, những năm gần đây, người bị nhiễm HIV/AIDS chấp hành trong trại giam ngày càng nhiều và họ còn bị lây nhiễm các căn bệnh khác như lao, giang mai, nghiện hút, một số bị AIDS giai đoạn cuối.

Thứ năm, điều kiện giam giữ, cải tạo phạm nhân chấp hành hình phạt tù có thời hạn tuy được cải thiện, nhưng còn khó khăn, cơ sở vật chất của trại giam chưa được đầu tư đúng mức, cơ sở y tế kinh phí chưa đáp ứng được nhu cầu.

Thứ sáu, điều kiện để xét giảm là thời hạn chấp hành hình phạt và đã quyết tâm cải tạo tốt như tích cực hối lỗi, tích cực lao động, học tập, nghiêm chỉnh chấp hành chế độ nội quy của trại, nhưng không quy định một số điều kiện về việc thực hiện trách nhiệm khác trong bản án đã tuyên.

Thứ bảy, tổ chức biên chế và quyền hạn của cơ quan quản lý và tổ chức chấp hành hình phạt tù còn chưa tương xứng với trách nhiệm, một cán bộ quản giáo phải quản lý rất nhiều phạm nhân so với quy định.

6. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác thi hành án phạt tù có thời hạn

Giải pháp về pháp luật: Luật Thi hành án hình sự đã được ban hành, do đó, việc sớm ban hành các văn bản hướng dẫn như Nghị định, Thông tư hết sức quan trọng để có thể đưa Luật vào thực thi. Ngoài ra, việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành án phạt tù có thời hạn phải chi tiết, cụ thể bao quát tất cả các lĩnh vực trong thi hành án phạt tù có thời hạn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cán bộ thi hành án phạt tù có thời hạn đồng thời cũng bảo đảm quyền và lợi ích của phạm nhân, giải quyết được các vướng mắc trong quá trình thực thi luật. Có như vậy, Luật Thi hành án hình sự năm 2010 mới góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án hình sự nói chung và công tác thi hành án phạt tù nói riêng

Giải pháp về tổ chức cơ quan thi hành bản án phạt tù có thời hạn: Nghị quyết số 49- NQ/TW về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 chỉ rõ mục tiêu cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong lĩnh vực thi hành án hình sự, cần xác định rõ chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp, chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án. Kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án hình sự là một nhiệm vụ trọng yếu để nâng cao hiệu quả thi hành án. Theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự, hiện nay, hệ thống tổ chức thi hành án hình sự gồm cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thỉ hành án hình sự và cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự. Bộ Quốc phòng và Bộ Công an là cơ quan quản lý nhà nước về công tác thi hành án phạt tù. Chức năng quản lý nhà nước về công tác thi hành án phạt tù trong quân đội được Bộ Quốc phòng giao cho hệ thống Cơ quan điều tra thuộc Bộ Quốc phòng. Chức năng quản lý nhà nước về công tác thi hành án phạt tù trong lực lượng Công an nhân dân được Bộ Công an giao cho Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp. Cơ quan này có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Công an quản lý nhà nước về công tác thi hành án phạt tù và tổ chức thi hành án phạt tù trong phạm vi cả nước. Giám đốc Công an cấp tỉnh, Trưởng Công an cấp huyện có trách nhiệm thực hiện một số chức năng quản lý công tác thi hành án phạt tù ở địa phương. Trại giam là nơi chấp hành hình phạt của người bị kết án tù. Căn cứ vào tính chất của tội phạm, mức án của người chấp hành hình phạt tù, trại giam được phân thành các khu giam giữ riêng: Khu giam giữ đối với phạm nhân có mức án tù trên 15 năm, tù chung thân, phạm nhân thuộc loại tái phạm nguy hiểm; Khu giam giữ đối với phạm nhân có mức án tù tử 15 năm trở xuống; phạm nhân có mức án tù trên 15 năm nhưng có kết quả chấp hành án tốt, đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù còn dưới 15 năm. Ngoài ra, còn giam riêng các phạm nhân sau: Phạm nhân nữ; phạm nhân là người chưa thành niên; phạm nhân là người nước ngoài; phạm nhân là người có bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm; phạm nhân có dấu hiệu bị bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình trong thời gian chờ quyết định của Tòa án; phạm nhân thường xuyên vi phạm nội quy, quy chế trại giam. Chức năng thi hành án phạt tù trong lực lượng Công an nhân dân được giao chủ yếu cho trại giam. Một số chức năng khác trong tổ chức thi hành án phạt tù được giao cho các đơn vị nghiệp vụ của Công an cấp tỉnh và Công an cấp huyện. Từ tình hình trên, đặt ra vấn đề thống nhất về mặt tổ chức phải sớm xây dựng được bộ máy quản lý và tổ chức thi hành án hình sự theo  hướng chuyên trách, thống nhất về một đầu mối để xây dựng được chiến lược quy hoạch, đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo hướng chuyên nghiệp hóa, có chế độ, chính sách hợp lý cho cán bộ công tác trong cơ quan quản lý và cơ quan thi hành án phạt tù.

Luật Thi hành án hình sự sẽ là chỗ dựa cho việc tổ chức, xây dựng một hệ thống bộ máy thi hành hình phạt, tránh được tình trạng tổ chức phân tán, chức năng thẩm quyền không rõ ràng của các cơ quan chịu trách nhiệm thi hành án hình sự nói chung và thi hành án phạt tù có thời hạn hiện nay.

Vừa qua, Bộ Công an đã nâng cấp cơ quan quản lý hình phạt tù hiện hành V26 lên thành Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp. Theo chúng tôi, như mô hình hiện nay, tức là Bộ Công an quản lý công tác thi hành án phạt tù có thời hạn là phù hợp với điều kiện hiện tại của Việt Nam. Ưu điểm của phương án này là với truyền thống và kinh nghiệm của mình, Bộ Công an vẫn tiếp tục quản lý lĩnh vực thi hành án phạt tù, chế độ vũ trang không thay đổi, đảm bảo sự thống nhất trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm và lĩnh vực quản lý thống nhất thi hành án. Tuy nhiên, nhược điểm của phương án này là chưa giao được cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án hình sự

Xây dựng hệ thông trại giam có đủ các điều kiện để người phải chấp hành bản án phạt tù tự giáo dục, cải tạo: Hiện nay, trại giam được chia thành các phân khu trại giam tùy thuộc vào tính chất của tội phạm và mức án của họ cũng như việc giam giữ người bị kết án tù là người chưa thành niên hoặc là nữ tại khu vực riêng. Ngoài ra, căn cứ vào tính chất của tội phạm, mức hình phạt, đặc điểm nhân thân của phạm nhân, kết quả chấp hành án, giám thị trại tạm giam quyết định việc phân loại, chuyển khu giam giữ. Vì vậy, Nhà nước cần có kinh phí xây dựng hệ thống trại giam có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo phạm nhân đảm bảo sau khi họ chấp hành xong hình phạt có thể trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, cần phải tăng cường hơn nữa vai trò của trại tạm giam trong việc cải tạo giáo dục người phạm tội, đặc biệt đối với các phạm nhân có mức án thấp, thì việc cải tạo tại trại tạm giam sẽ giảm bớt được các thủ tục trong việc chuyển phạm nhân đi thi hành án tại các trại giam.

Ngoài những giải pháp nêu trên, cần phải xây dựng một cơ chế hợp lý với sự tham gia của chính quyền địa phương và thu hút sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể, các tổ chức xã hội vào hoạt động thi hành án phạt tù có thời hạn, nhất là công tác giúp đỡ người bị kết án phạt tù có thời hạn tái hòa nhập cộng đồng là một vấn đề cần quan tâm, coi đây là một biện pháp hiệu quả trong lĩnh vực cải tạo, giáo dục người bị kết án. Công tác tái hòa nhập cộng đồng là một hoạt động mang tính xã hội hóa cao, đây có thể được coi là khâu cuối cùng nhằm thực hiện một cách trọn vẹn và đầy đủ ý nghĩa của bản án./.

____

Tài liệu tham khảo

1 Bộ Chính trị - Ban Chấp hành Trung ương Đáng Công sản Việt Nam, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002   “vmột số nhlệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới".

2. Bộ Chính trị - Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 48-NQ / TW ngày 24/5/2005 “ về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

3. Bộ Chính trị -  Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 “ về chiến  lược cải cách tư pháp đến năm 2020”.

4. Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

5. "Chủ tịch Hồ Chí Minh nới sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành Tư pháp”  Nxb, Tư pháp, Hà Nội 2005.

6. Vũ Trọng Hách (2006). Hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự ở Việt Nam. Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

7. Đỗ Ngọc Quang (2007), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam (Giáo trình dựng cho hệ cao học luật Chuyên ngành Tội phạm học và điều ra tội phạm), In tại Học viện Cảnh sát nhân dân.

8. Trần Quang Tiệp (2002). Một sô vấn đề về thi hành án hình sư ,Nxb. Công an nhân dân , Hà Nội.  

9. Võ Khánh Vĩnh, Nguyễn Mạnh Kháng (2006),  Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam- Nhưng vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi