Vấn đề chứng minh mục đích phạm tội trong điều tra các tội xâm phạm an ninh quốc gia

NGUYỄN DUY THUÂN
ThS chủ nhiệm bộ môn pháp luật trường ĐH An ninh

1. Mục đích phạm tội là tình tiết cần phải chứng minh trong trường hợp phạm tội do cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội do cố ý trực tiếp là hành động ý chí nên bao giờ cũng do một động cơ nào đó thúc đẩy và nhằm đạt mục đích nhất định. Việc làm rõ mục đích phạm tội giúp các cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá, xác định đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và mức độ nguy hiểm của người phạm tội, tạo cơ sở cho việc cá thể hóa TNHS và hình phạt. Trong trường hợp luật quy định mục đích là dấu hiệu định tội hoặc là tình tiết định khung hình phạt thì việc làm rõ mục đích tạo cơ sở cho việc định tội, định khung đúng.

Đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia (BLHS 1999) mục đích là dấu hiệu bắt buộc trong định tội. Mục đích chống chính quyền là mục đích chung phải có đối với tất cả các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Tuy vậy mục đích chống chính quyền chỉ có ý nghĩa xác định một hành vi cụ thể phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia. Muốn xác định hành vi đó phạm tội gì phải căn cứ vào mục đích cụ thể. Biểu hiện của hành vi phạm tội và mục đích cụ thể giúp ta xác định khách thể trực tiếp của tội phạm. Tất cả các tội xâm phạm an ninh quốc gia đều nhằm chống chính quyền nhưng mục đích cụ thể thì khác nhau và đó là căn cứ để định tội. Chẳng hạn hành vi thành lập tổ chức chống chính quyền, nếu mục đích nhằm lật đổ chính quyền thì phạm tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; nếu nhằm thu thập bí mật Nhà nước cung cấp cho nước ngoài thì phạm tội gián điệp. Hành vi nói xấu Nhà nước, xuyên tạc chế độ XHCN, nếu nhằm gây chia rẽ tín đồ tôn giáo với chính quyền thì phạm tội phá hoại chính sách đoàn kết; nếu nhằm kích động người khác trốn đi nước ngoài thì phạm tội trốn đi nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân.

Phân biệt sự khác nhau và mối quan hệ giữa mục đích chung và mục đích cụ thể có ý nghĩa rất quan trọng trong điều tra nói chung và trong việc chứng minh mục đích phạm tội nói riêng. Mục đích (gồm mục đích chung và mục đích cụ thể) là đối tượng chứng minh, là vấn đề cần phải thu thập chứng cứ để làm rõ. So với các đối tượng chứng minh khác, việc chứng minh mục đích phạm tội trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia là vấn đề rất phức tạp và khó khăn. Mục đích là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm, là diễn biến bên trong của tội phạm nên không thể nhận thức được bằng các giác quan giống như nhận thức mặt khách quan của tội phạm mà phải bằng phân tích tổng hợp, qua hoạt động tư duy để rút ra, xác định. Kết luận về mục đích phạm tội thể hiện đậm nét dấu ấn chủ quan của chủ thể chứng minh. Do đó để kết luận bảo đảm tính khách quan chính xác ngoài kinh nghiệm cần phải chú trọng, nắm vững căn cứ xác định mục đích.

2. Hành vi phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia là hành động ý chí nên hành vi phản ánh mục đích mà người phạm tội nhằm đạt tới. Điều tra viên không thể tìm mục đích của tội phạm trong ý thức người phạm tội mà phải căn cứ vào hành vi để xác định. Đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, có một số tội bản thân hành vi đã thể hiện mục đích chống chính quyền. Với những tội này, khi làm rõ được hành vi coi như mục đích đã được chứng minh. Đối với những tội hành vi khách quan không phản ánh mục đích chống chính quyền, nhà làm luật đã ghi rõ dấu hiệu mục đích ngay trong điều luật: “…nhằm chống chính quyền”, “…nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” hoặc “…nhằm gây phương hại cho an ninh lãnh thổ cúa nước CHXHCN Việt Nam”. Với những tội này việc chứng minh, làm rõ mục đích phạm tội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong định tội.

Trước đây người ta cho rằng để xác định mục đích phản cách mạng của bị can phải căn cứ vào hành vi và nhân thân của họ. Quan điểm này hiện nay vẫn được nhiều người coi là quan điểm truyền thống và được ghi nhận trong một số giáo trình của các trường. Theo chúng tôi quan điểm trên vẫn đúng nhưng nếu hiểu về hành vi và nhân thân một cách giản đơn thì sẽ dẫn đến sai lầm trong nhận thức và áp dụng luật.

3. Thực tiễn hoạt động tố tụng và thực tiễn đấu tranh chống các tội xâm phạm an ninh quốc gia của nước ta trong hơn nửa thế kỷ qua đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong điều tra tội phạm.

a) Riêng về việc chứng minh mục đích tội phạm, theo chúng tôi có hai bài học cần lưu ý:

- Bài học thứ nhất là quá nhấn mạnh khía cạnh nhân thân nên dẫn đến suy diễn trong kết luận, đánh giá và do đó định tội sai. Những người thuộc trường phái này không chỉ là chủ thể chứng minh mà có thể là người tham gia tố tụng và những người mà chức trách, nhiệm vụ của họ liên quan đến việc nhận định, đánh giá về tội phạm.

Trường phái nhân thân được thể hiện ở hai phương diện buộc tội và gỡ tội. Vì nhân thân xấu nên dễ bị quy là chống chính quyền và ngược lại không thể coi là chống chính quyền được vì có nhân thân tốt. Trước đây có một người bị quy là phản cách mạng vì trụ sở cơ quan, nơi anh ta làm việc bị cháy không rõ nguyên nhân, gia đình thuộc thành phần bóc lột, bản thân anh này từng quen biết cơ quan tình báo nước ngoài. Một thời gian dài sau đó cơ quan có trách nhiệm đủ cơ sở kết luận người này là cộng tác viên của cơ quan tình báo cách mạng. Sau khi nước nhà thống nhất, có một số vụ án đối tượng bị khởi tố, truy tố thậm chí bị xét xử về tội xâm phạm an ninh quốc gia nhưng nhiều người vẫn cho rằng họ không thể là phần tử phản cách mạng, không thể quy kết họ về tội xâm phạm an ninh quốc gia vì lý lịch gia đình tốt; bị can, bị cáo lớn lên trong chế độ mới, quá khứ trong sạch không tì vết… Mặc dù khác nhau ở phương diện buộc tội và gỡ tội nhưng điểm giống nhau là đều từ nhân thân, coi nhân thân là căn cứ chủ yếu để xác định mục đích.

- Bài học thứ hai là trong thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm thường chú trọng làm rõ mặt khách quan của tội phạm và sau khi làm rõ các dấu hiệu trong mặt khách quan mới quay lại “tìm” mục đích chống chính quyền. Thực tế cho thấy không ít vụ án do bị can không thừa nhận mục đích chống chính quyền và do cơ hội tìm chứng cứ, tài liệu chứng minh mục đích đã qua nên phải xử lý về tội danh khác hoặc “xếp hồ sơ”.

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm an ninh quốc gia việc chứng minh mục đích phạm tội phải chú ý yêu cầu là phải chứng minh, làm rõ cả mục đích chung và mục đích cụ thể. Hành vi và mục đích chung giúp ta xác định khách thể loại của tội phạm còn mục đích cụ thể giúp xác định khách thể trực tiếp. Ngoài việc nắm vững yêu cầu nêu trên, vấn đề rất quan trọng chi phối phương pháp chứng minh và kết quả chứng minh là căn cứ đánh giá, xác định mục đích. Dựa vào hành vi và nhân thân để rút ra mục đích như đã trình bày trên là không sai. Tuy vậy đây là những căn cứ chung, khái quát nên chỉ dựa vào hai căn cứ trên thì chưa đủ và dễ gây lúng túng trong chỉ đạo thực tiễn.

b) Thực tiễn đấu tranh chống tội phạm cho thấy để có thể chứng minh mục đích trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia phải xem xét, đánh giá một cách tổng hợp tất cả các yếu tố, trong đó tập trung vào những vấn đề sau:

- Hành vi và diễn biến hành vi khách quan. Việc làm rõ hành vi là yêu cầu quan trọng và bắt buộc. Tuy vậy, trong chứng minh mục đích nhất là mục đích cụ thể việc làm rõ toàn bộ diễn biến của hành vi, có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì diễn biến của hành vi phản ánh lý trí, ý chí, nhận thức thái độ chủ quan của can phạm.

- Nhận thức và thái độ của can phạm đối với hành vi và hậu quả do hành vi đó gây ra hoặc có thể gây ra. Trước hết phải làm rõ nhận thức của can phạm đối với hành vi và hậu quả. Phải thu thập chứng cứ để xác định được họ có biết việc làm của mình và hậu quả của việc làm đó là nguy hại đến an ninh quốc gia tức là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho Nhà nước, cho chế độ hay không. Song song với việc làm rõ nhận thức, phải làm rõ thái độ (ý chí) của can phạm. Thái độ, ý đồ của can phạm ít khi được bộc lộ mà thường được che giấu một cách rất tinh vi. Trong chứng minh, nhất là trong điều tra khó có thể hỏi thẳng đối tượng về âm mưu, ý đồ, thái độ chống đối của họ. Thông thường câu hỏi này được giải đáp trên cơ sở trả lời được hàng loạt các câu hỏi cụ thể khác. Muốn tháo một tấm lưới không có cách nào khác là phải kiên trì tháo từng mắt lưới. Thực tiễn đấu tranh chống tội phạm cho thấy nhiều trường hợp mặc dù can phạm cho rằng hành vi của mình không phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia mà chỉ vì mục đích kinh tế hoặc là sự đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền… nhưng khi cơ quan điều tra có đủ cơ sở để chứng minh cho họ biết việc làm của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự điều chỉnh liên quan trực tiếp đến sự tồn tại của chế độ mà họ vẫn cứ làm thì họ không còn lý lẽ để biện minh rằng họ không chống chính quyền.

- Nhân thân của bị can, bị cáo. Nhân thân không phản ánh trực tiếp mục đích, nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét, đánh giá những yếu tố định hướng, thúc đẩy hành vi từ đó hiểu được thái độ chính trị, mục đích. Theo Xmiecnốp “Những mục đích thúc đẩy con người hành động không phải từ đâu đến, không ai biết và tự dưng lại xuất hiện trong ý thức, mà hình thành có tính quy luật, xem như là kết quả của những mối quan hệ với thực tế khách quan hình thành trong cuộc đời của người ấy trước đây và là kết quả phản ánh những đối tượng và hiện tượng đang tác động trực tiếp đến người ấy trong thời gian ấy”1.

- Tình hình chính trị xã hội tại thời điểm xảy ra tội phạm. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia là loại tội phạm chính trị nên hành vi xâm phạm an ninh quốc gia thường có sự liên quan chịu sự chi phối nhất định của tình hình chính trị trong nước, khu vực và thế giới. Quan điểm chính trị, ý thức chủ quan của một người thường được thể hiện qua thái độ của họ đối với các sự kiện chính trị. Xử sự của con người tuy không phải là kết quả trực tiếp của riêng điều kiện kinh tế – xã hội nhưng chịu sự tác động của điều kiện kinh tế – xã hội, hoàn cảnh chính trị “Tất cả những xử sự của con người đều là kết quả của sự tác động qua lại giữa điều kiện khách quan bên ngoài cuộc sống xã hội và điều kiện chủ quan bên trong của chủ thể. Các điều kiện kinh tế, xã hội quy định xử sự của con người nhưng phải thông qua lăng kính chủ quan của lợi ích, nhu cầu”2.

Trên đây là những căn cứ chủ yếu trong việc xem xét, đánh giá mục đích trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Tuy vậy đây là vấn đề không đơn giản. Thực tế cho thấy để kết luận một hành vi được thực hiện với mục đích chống chính quyền, cơ quan điều tra phải tốn nhiều thời gian, công sức, phải dựa vào rất nhiều nguồn tài liệu kể cả tài liệu trinh sát, phải xem xét đánh giá một cách toàn diện tất cả các tình tiết, khía cạnh liên quan.

1 A.A.Xmiecnốp, Tâm lý học, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1975, tr. 66.

2 Trường ĐH Luật Hà Nội, Luật Hình sự Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, 1997, tr. 22.

ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ KHPL SỐ 1 /2004

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi