Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng THQCT&KSĐT, KSXX sơ thẩm các vụ án hình sự nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để điểu tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

Những năm qua, các cơ quan tiến hành tố tụng các cấp đã có nhiều giải pháp để hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, vì vậy tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung giảm qua từng năm. Tuy nhiên, việc giảm tỷ lệ này chưa bền vững và chưa đồng đều ở các đơn vị; một số nguyên nhân dẫn đến việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung đã được thông báo, rút kinh nghiệm, song vi phạm thiếu sót còn lặp lại, chưa được khắc phục; một số đơn vị tỷ lệ trả hồ sơ còn cao so với bình quân chung trên toàn quốc; một số vụ án có thiếu sót, vi phạm trong quá trình khởi tố, điều tra mặc dù đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng sau đó vẫn phải đình chỉ; đa số các quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung là có căn cứ và cần thiết, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại các vụ án bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung không có căn cứ làm cho việc giải quyết vụ án bị kéo dài, có vụ gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng.

 Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến một số vấn đề về thực trạng việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung và một số kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Trong thời gian từ ngày 01/12/2009  đến 30/11/2010, Viện kiểm sát các cấp đã trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung là 1.207 vụ trên tổng số 54.487 vụ do Cơ quan điều tra đã kết thúc điều tra đề nghị truy tố, chiếm tỷ lệ 2,20%. So với năm 2009, giảm 1,44%.

Viện kiểm sát và Toà án các cấp trả hồ sơ để điều tra bổ sung chủ yếu từ các lý do cụ thể sau:

Thứ nhất, trả hồ sơ để điều tra bổ sung do còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án như: Chưa thu thập đầy đủ chứng cứ xác định hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nên đã phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung; chưa thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến phần bồi thường dân sự và thủ tục uỷ quyền tham gia tố tụng của đại diện các bị hại đã tử vong trong vụ án; không lấy lời khai nhân chứng, bị hại; chưa lấy lời khai của tất cả những người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; chưa đủ chứng cứ kết luận hành vi phạm tội; chưa xác minh nguồn gốc hung khí, loại hung khí đã sử dụng hoặc không thu giữ hung khí gây án của bị can trong vụ án; trả hồ sơ để tiến hành thực nghiệm điều tra nhằm củng cố chứng cứ, khắc phục mâu thuẫn trong hồ sơ; trả hồ sơ yêu cầu xác định lại hiện trường vụ án, xác định tên của người bị hại; lời khai của các bị can có mâu thuẫn nhưng chưa tiến hành đối chất theo qui định của pháp luật; thiếu chứng cứ để xác định ý thức chiếm đoạt tài sản của bị can; chưa xác định nhân thân, quốc tịch bị can; chưa xác định tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm; chưa xác định được chính xác tên, tuổi của người bị hại, bị can.

Thứ hai,trả hổ sơ để điều tra bổ sung do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sư thể hiện các dạng chủ yếu sau: Vi phạm, thiếu sót trong việc lập biên bản bắt quả tang; biên bản khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông không có sự tham gia của Điều tra viên, Kiểm sát viên; vi phạm trong việc lấy lời khai của người tham gia tố tụng; không mời luật sư, người bào chữa trong các trường hợp pháp luật quy định; định giá tài sản chiếm đoạt không đúng quy định pháp luật; xử lý vật chứng không đúng quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự vi phạm trong việc giám hộ; không trưng cầu giám định đối với các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định theo quy định tại khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự; truy tố theo trình tự rút gọn đối với vụ án không đủ điều kiện, vi phạm Điều 319 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Thứ ba, trả hồ sơ đế điều tra bổ sung do có căn cứ đế cho rằng bị can, bị cáo phạm một tội khác hoặc có người đồng phạm khác, thể hiện các dạng như sau: Yêu cầu thay đổi tội danh vì cho rằng bị can phạm một tội khác với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố; yêu cầu khởi tố bổ sung vì cho rằng còn bỏ lọt người phạm tội và hành vi phạm tội; yêu cầu điều tra bổ sung để xác định tình tiết định khung hình phạt. Ngoài ra, một số vụ án toà án trả hồ sơ để yêu cầu truy tố người đồng phạm khác vì cho rằng còn bỏ lọt người phạm tội.

Thứ tư, trả hồ sơ để điều tra bổ sung vì lý do khác: Trong thực tiễn, tại phiên toà xét xử vụ án khi phát sinh tình tiết mới tại phiên toà, thì Hội đồng xét xử quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung; trả hồ sơ do thiếu tài liệu phản ánh quá trình tố tụng; trả hồ sơ vì Viện kiêm sát chưa đình chỉ sinh hoạt Đảng đối với bi can là đảng viên trước khi truy tố ra Toà. Ngoài ra. có nhiều trường hợp trả hồ sơ để chuyển án, tách, nhập vụ án; một số trường hợp khác do nguyên nhân khách quan như chờ kết quả giám định, cần thêm thời hạn điều tra vì vụ án quá phức tạp, vụ án có đông người tham gia hoặc địa bàn phạm tội rộng trên nhiều địa phương.

Nguyên nhân, trách nhiệm dẫn đến việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, có nhiều nguyên nhân, tuy nhiên, chúng tôi chỉ đi sâu phân tích, đánh giá nguyên nhân xuất phát từ hoạt động của ngành Kiểm sát.

* Về nguyên nhân chủ quan 

- Năng lực, trình độ của một số Kiểm sát viên còn hạn chế khi được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiềm sát điều tra vụ án do đó, trong quá trình kiểm sát điều tra vụ án còn lúng túng, chưa bám sát được tiến độ điều tra, không kịp thời Phát hiện những chứng cứ còn thiếu hoặc phát hiện những vi phạm trong quá trình thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra kịp thời.

- Tinh thần trách nhiệm của kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra vụ án, có trường hợp chưa làm hết trách nhiệm; một số trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung với lý do như: Trưng cầu giám định trong trường hợp theo quy định pháp luật bắt buộc phải trưng cầu giám định nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện mà Kiểm sát viên không phát hiện kịp thời để ban hành yêu cầu điều tra hoặc việc xác định những vấn đề quan trọng về nhân thân của bị can, bị cáo hoặc độ tuổi của bi hại trong một số loại án... đây là lỗi chủ quan của Kiểm sát viên.

- Một số đơn vị phân công Kiểm sát viên kiểm sát điều tra vụ án chưa phù hợp với trình độ, năng lực và kinh nghiệm; Lãnh đạo Viện trực tiếp chỉ đạo giải quyết án chưa sâu sát hoạt động của Kiểm sát viên kiểm sát điều tra, thiếu kiểm tra tiến độ nên hiệu quả chỉ đạo còn hạn chế và không kịp thời, do vậy, vi phạm, thiếu sót trong hoạt động điều tra chậm được khắc phục. Việc triển khai thực hiện chuyên đề nghiệp vụ còn mang tính hình thức, kém hiệu quả; kiểm tra, xử lý vi phạm không nghiêm, thiếu tác dụng giáo dục. Hàng năm, qua thực hiện chuyên đề, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ 1c đều nêu những vi phạm điển hình, cần rút kinh nghiệm, tuy nhiên, những thiếu sót vi phạm này vẫn bị lặp lại ở một số đơn vị địa phương.

* Về nguyên nhân khách quan

- Tính chất thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, quy mô phạm tội mở rộng, có nhiều bị can tham gia và hành vi phạm tội xảy ra ở nhiều địa phương, gây khó khăn cho việc thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm; lợi dụng chính sách mở cửa, hội nhập của nước ta, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện, nhiều thủ đoạn phạm tội mới được thực hiện, nhiều vụ án liên quan đến các hoạt động kinh tế, chuyên ngành rất phức tạp hoặc có liên quan đến nước ngoài... trong khi hoạt động giám định ở các lĩnh vực chuyên ngành chưa đồng bộ, chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn.

 - Quan điểm đánh giá về chứng cứ, tội danh, đường lối xử lý còn thiếu thống nhất giữa những người tiến hành tố tụng và giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là đối với nhữmg vụ án lớn phức tạp.

- Quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự có nhiều vấn đề còn bất cập so với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời; công tác hướng dẫn, giải thích pháp luật của cơ quan có thẩm quyền chưa được thực hiện thường xuyên và đồng bộ, dẫn đến việc áp dụng pháp luật thiếu thống nhất, nhất là đối với các quy đinh của Bộ luật Hình sự về một số nhóm tội phạm về kinh tế, sở hữu, môi trường...

- Hoạt động bổ trợ tư pháp nhìn chung chưa theo kịp đòi hỏi của hoạt động tố tụng về căn cứ pháp lý, trình tự, thủ tục, thời gian...; bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa hoạt động tiến hành tố tụng với các hoạt động bổ trợ tư pháp, như: Giám định, bào chữa, trợ giúp... còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự.

* Về trách nhiệm trong việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung

Trách nhiệm dẫn đến việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng các cấp. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ đi sâu phân tích và làm rõ trách nhiệm của ngành kiểm sát.

- Trách nhiệm trước hết là, Kiểm sát viên được phân công thụ lý vụ án chưa chủ động, tích cực kiểm sát điều tra ngay từ đầu; chưa nắm chắc tiến độ, kết quả điều tra và việc lập hồ sơ vụ án trong suốt quá trình điều tra để đề ra yêu cầu điều tra toàn diện, kịp thời, sát, đúng với thực tế vụ án; có trường hợp tuy đã có yêu cầu điều tra nhưng không theo dõi, giám sát chặt chẽ để bảo đảm việc thực hiện yêu cầu điều tra nghiêm túc, có chất lượng. Đa số các trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung đều do Kiểm sát viên sau khi vụ án kết thúc điều tra mới nghiên cứu hồ sơ và phát hiện ra các vấn đề cần điều tra bố sung. Đối với một số vụ án lớn phức tạp, có nhiều bị can; những vụ án có quan điểm khác nhau về đánh giá chứng cứ, tội danh hoặc tính chất thủ đoạn phạm tội... nhưng Kiểm sát viên đã không báo cáo đề xuất xin ý kiến chỉ đạo kịp thời để khắc phục khó khăn vướng mắc trong quá trình giải quyết án

- Thứ hai là trách nhiệm của kiểm sát viên, Lãnh đạo Viện trong chỉ đạo kiểm sát điều tra đối với các vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung; một số Viện kiểm sát đã không kiểm điểm nghiêm túc, tìm ra nguyên nhân chủ quan và khách quan của việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhằm có biện pháp khắc phục.

Để góp phần nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, chúng tôi xin nêu một số kinh nghiệm sau:

 Một là, nâng cao ý thức trách nhiệm, năng lực và trình độ của Kiểm sát viên; lựa chọn phân công kiểm sát viên kiểm sát điều tra phù hợp; lưu ý khi phân công các kiểm sát viên chưa có kinh nghiệm (như mới bổ nhiệm hoặc luân chuyển từ khâu công tác khác sang... ), Lãnh đạo viện chỉ đạo giải quyết án cần quan tâm sâu sát hơn để hạn chế vi phạm, thiếu sót, đối với các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận quan tâm... cần phân công Kiểm sát viên có năng lực và kinh nghiệm trực tiếp thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra ngay từ khi Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bi can.

Hai là, Kiểm sát viên được phân công phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, tài liệu để kiểm sát chặt chẽ việc phê chuẩn và chủ động đề ra yêu cầu điều tra. Phải bám sát tiến độ điều tra, đề ra yêu cầu điều tra nhằm khắc phục kịp thời những thiếu sót về chứng cứ hoặc vi phạm tố tụng. Quá trình điều tra cần phối hợp với Cơ quan điều tra để tiến hành sơ kết việc điều tra khi cần thiết. Trước khi kết thúc điều tra vụ án, Kiểm sát viên phải phối hợp chặt chẽ với Điều tra viên rà soát lại toàn bộ chứng cứ buộc tội chứng cứ gỡ tội và các thủ tục tố tụng đối với vụ án, bị can; khi cần thiết có thể trực tiếp cùng với Điều tra viên hỏi bản cung tổng hợp để đánh giá đầy đủ tính chất; mức độ phạm tội của từng bị can trong vụ án. Đồng thời, khắc phục những thiếu sót, sơ hở trong việc thu thập chứng cứ, tài liệu để kết luận hành vi phạm tội của các bị can trong vụ án. Sau khi kết thúc điều tra, Kiểm sát viên tiếp tục nghiên cứu kỹ hồ sơ, phát hiện kịp thời những mâu thuẫn trong vụ án; thực hiện việc phúc cung tổng hợp đối với từng bị can, nhất là đối với những bị can phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, chối tội, phản cung hoặc có mâu thuẫn giữa các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án để từ đó đề xuất đường lối xử lý vụ án, bị can có căn cứ và thận trọng.

Ba là, thực hiện nghiêm túc chuyên đề "Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng". Thường xuyên quán triệt chuyên đề đến từng cán bộ, Kiểm sát viên. Đối với từng vụ án bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung cần nghiêm túc kiểm điểm làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm cá chân (Kiểm sát viên, Lãnh đạo Viện chỉ đạo); định kỳ hàng tháng, trên cơ sở báo cáo của phòng nghiệp vụ, Viện kiểm sát quận, huyện (kèm theo quyết định trả hồ sơ, biên bản họp, bản kiểm điểm), Viện kiểm sát tỉnh, thành phố (giao cho một phòng nghiệp vụ) tổng hợp, phân tích nguyên nhân, trách nhiệm đối với từng vụ việc cụ thể, ra thông báo bằng văn bản nhằm kịp thời rút kinh nghiệm chung trong toàn đơn vị và coi đây là một căn cứ bình xét thi đua cuối năm (kinh nghiệm của Viện kiểm sát thành phố Hải Phòng, Viện kiểm sát tỉnh Hà tĩnh). Viện kiểm sát chỉ ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu có căn cứ pháp luật và cần thiết đối với việc giải quyết vụ án. Trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải yêu cầu toàn bộ những vấn đề cần phải điều tra bổ sung, cần xem xét tính khả thi của yêu cầu điều tra bổ sung và kiểm sát chặt chẽ kết quả thực hiện của cơ quan điều tra, khắc phục việc trả đi trả lại nhiều lần hoặc việc toà án lại tiếp tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Việc trả sơ để điều tra bổ sung được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT ngày 27/8/2010 của Liên ngành Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Công an "Hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bố sung".

Bốn là, Kiểm sát viên khi kiểm sát một số hoạt động điều tra của Điều tra viên hoặc đối với một số loại án cụ thể, cần lưu ý:

+ Vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố tụng được rút ra ở trên, như: Vi phạm, thiếu sót trong việc lập biên bản bắt quả tang; biên bản hiện trường không có Điều tra viên, Kiểm sát viên tham gia; trong việc lấy lời khai của người tham gia tố tụng không có sự tham gia của điều tra viên được phân công điều tra vụ án; không mời luật sư, người bào chữa trong các trường hợp pháp luật bắt buộc theo quy định tại Khoản 2 Điều 57 Bộ luật Tố tụng Hình sự; không trưng cầu giám định trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định theo quy định tại Khoản 3 Điều 55 Bộ luật Tố tụng Hình sự; định giá tài sản chiếm đoạt không đúng quy định, xử lý vật chứng không đúng quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự vi phạm trong việc giám hộ; truy tố theo trình tự rút gọn khi không đủ điều kiện... Kiểm sát viên cần kiểm sát chặt chẽ quá trình điều tra; lập hồ sơ của Điều tra viên nhằm kịp thời phát hiện vi phạm, thiếu sót để khắc phục.

+ Trong thực tiễn, một số Điều tra viên không trực tiếp đi xác minh lý lịch bị can tại nơi cư trú mà dựa trên lời khai của bị can để ghi lý lịch sau đó xin xác nhận (hoặc xác nhận trước ghi sau), dẫn đến sai sót thông tin về nhân thân hoặc bỏ sót tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.Vì vậy khi kiểm sát điều tra đối với vụ án mà bị can cư trú hoặc phạm tội tại nhiều địa phương khác nhau thì kiểm sát viên phải kiểm tra thận trọng, tỉ mỉ để hạn chế và loại trừ sai sót.

++ Hiện nay, việc giám định tư pháp phục vụ cho việc giải quyết vụ án hình sự tốn kém về thời gian và tiền bạc, như giám định tài chính, giám định tâm thần đối với bị can... dẫn đến trường hợp mặc dù quá trình điều tra qua tiếp xúc với bị can hoặc người nhà bị can, Điều tra viên biết trường hợp này cần thiết phải giám định tâm thần cho bị can, tuy nhiên ngại khó khăn, tốn kém nên không trưng cầu giám định; Điều tra viên không thông báo, Kiểm sát viên chỉ nghiên cứu hồ sơ, không tiếp xúc với bị can sẽ không phát hiện được. Để hạn chế tình trạng này, trong yêu cầu điều tra cần làm rõ có nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của bị can không (có tiền sử bệnh tật có biểu hiện không bình thường về thần kinh hoặc phạm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của người khác như giết người cố ý gây thương tích...).

+Đối với vụ án có đông người tham gia hoặc liên quan, Kiểm sát viên cần thận trọng đánh giá chứng cứ để cùng điều tra viên xác định diện khởi tố; cần thận trọng khi phê chuẩn khởi tố bị can đối với các tội phạm có cấu thành tội phạm có dấu hiệu ly lai như: Giết người với cố ý gây thương tích...; nhận hối lộ với lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; cưỡng đoạt tài sản với cướp tài sản...; lừa đảo chiếm đoạt tài sản với lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản... hoặc các tội phạm có tính liên quan như nhóm các tội có tính chất chiêm đoạt tài sản với tội chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; tội che giấu tội phạm, không tố giác tội phạm với tội phạm đã khởi tố theo quy định của pháp luật; giết người hoặc cố ý gây thương tích với gây rối trật tự công cộng hoặc huỷ hoại tài sản... nhằm hạn chế trường hợp trả hồ sơ để khởi tố thêm người đồng phạm, bổ sung thêm tội danh hoặc thay đổi tội danh đã khởi tố.

+ Trong một số vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, phạm tội không quả tang; việc xác định hiện trường gặp khó khăn do hiện trường bị xáo trộn hoặc thay đổi; không có nhân chứng hoặc không tìm được nhân chứng; không thu giữ được vật chứng...thì Kiểm sát viên cần đặc biệt thận trọng trong quá trình kiểm sát điều tra.

+Trong quá trình giải quyết vụ án có khó khăn, vướng mắc về đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, phương hướng điều tra tiếp, đường lối xử lý hoặc sự nhận thức khác nhau về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật thì Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán cần kịp thời báo cáo xin ý kiến của lãnh đạo Liên ngành tư pháp cùng cấp để thống nhất giải quyết; trường hợp không thống nhất được thì báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Liên ngành Tư pháp cấp trên.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi