Các tội đưa và nhận hối lộ của Luật hình sự Hoa Kỳ trong sự so sánh với Luật Hình sự Việt Nam
TS. Trần Hữu Tráng- Khoa Luật hình sự, Trường Đại học Luật Hà nội

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (United State) là một đất nước rộng lớn đứng thứ ba trên thế giới với tổng diện tích 9.629,091km2 và dân số ước tính đến năm 2010 khoảng 297.976.000 người [1] sinh sống ở 50 tiểu bang. Hệ thống chính quyền được tổ chức trên cơ sở Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ được thông qua năm 1787. Theo đó, Hoa Kỳ là chính quyền liên bang, có hệ thống tổ chức chính quyền và hệ thống pháp luật hết sức phức tạp. Quyền lập pháp không chỉ thuộc về cơ quan lập pháp của chính quyền liên bang mà cũng thuộc về cơ quan lập pháp của chính quyền các tiểu bang. Chính vì vậy, ờ Hoa Kỳ, hệ thống pháp luật liên bang tồn tại song song với hệ thống pháp luật của các tiểu bang. Nghiên cứu các quy định của hệ thống pháp luật Hoa Kỳ vì vậy không thể chỉ nghiên cứu các quy định của pháp luật liên bang mà còn phải nghiên cứu các quy định của hệ thống pháp luật của các tiểu bang. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi nghiên cứu về tội đưa và nhận hối lộ được quy định trong BLHS của liên bang cũng như trong BLHS của một số tiểu bang ở Hoa Kỳ trong sự so sánh với tội nhận và đưa hối lộ trong BLHS Việt Nam.

1. Chủ thể của tội phạm

Các tội nhận và đưa hối lộ được quy định trong chương 11, phần I, tiểu mục 18: Tội phạm và tố tụng hình sự của Bộ tổng luật Hoa Kỳ [2] . Chương 11 có tên gọi: Nhận hối lộ, đưa hối lộ và xung đột lợi ích [3] . Chương này có 27 điều (từ điều 201 đến điều 207) trong đó các điều 220 - 222 được đánh số lại bằng các điều 215-217 và Điều 223 đã bị bãi bỏ. Như chúng ta đã biết đưa và nhận hối lộ là những hành vi có liên quan mật thiết đến việc sử dụng và lợi dụng chức vụ, quyền hạn của công chức nhà nước. Chính vì vậy, luật hình sự của bất kì quốc gia nào cũng đều cố gắng làm rõ trước hết nội hàm của khái niệm viên chức nhà nước.

Điều 201 BLHS Hoa Kỳ có tên gọi "Hối lộ viên chức nhà nước và nhân chứng". Tuy nhiên điều luật không mô tả ngay các dấu hiệu về hành vi phạm tội mà khoản a tập trung làm rõ các khái niệm pháp lí trong đó có khái niệm “Viên chức nhà nước” (public official) tại điểm 1 và 2 của  khoản a. Trước hết, điểm 1 khoản a Điều 201 chỉ ra phạm vi cụ thể những người của cơ quan lập pháp thuộc phạm vi khái niệm viên chức nhà nước. Đó là các thành viên Quốc hội, các đại biểu không có quyền bỏ phiếu tại Hạ nghị viện của Quốc hội (delegate) cũng như các ủy viên thường trú của Hạ nghị viện (resident commissioner) được bầu từ các nước thuộc khối thịnh vượng chung (Commonwealth). Tiếp đó, điều luật đề cập nhóm người làm việc trong các cơ quan hành pháp. Đây là các đối tượng chịu sự điều chỉnh của Bộ luật tổ chức chính phủ và nhân viên chính phủ [4] . Theo điểm 1 khoản a Điều 201, bên cạnh những người trong cơ quan lập pháp được coi là viên chức chính phủ (public official), những người trong các cơ quan hành pháp cũng thuộc nội hàm khái niệm trên. Đó chính là các công chức (officer) hoặc các nhân viên nhà nước (employee). Bên cạnh đó, điều luật cũng đề cập những người làm việc cho, hoặc đại diện cho Hoa Kỳ hoặc đại diện cho bất kì bộ phận, cơ quan, ngành nào của Chính phủ, kể cả của quận Columbia để thực hiện bất kì chức năng nào cùa nhà nước. Đặc biệt điều luật cũng chỉ rõ hội thẩm (a juror) cũng thuộc phạm vi của khái niệm viên chức nhà nước.

Điểm 2 khoản 2 của điều luật làm rõ cơ sở hình thành viên chức nhà nước. Theo đó, viên chức được hình thành thông qua hai hình thức là chỉ định (nominate) và bổ nhiệm (appoit).

Như vậy, điều luật đã dành khoản đầu tiên để giải quyết những vấn đề cơ bản nhất trong các dấu hiệu cùa tội đưa và nhận hối lộ - một trong các tội phạm điển hình của nhóm tội phạm về tham nhũng, đó là vấn đề chủ thể của tội phạm. Chính vì vậy, các BLHS của các tiểu bang, khi quy định về các tội phạm đưa và nhận hối lộ không cần thiết phải đề cập vấn đề này nữa.

So với BLHS Hoa Kỳ, BLHS Việt Nam không quy định chi tiết, cụ thể phạm vi những người mà theo luật hình sự Việt Nam là “Người có chức vụ”. Điều 277 BLHS Việt Nam định nghĩa: “Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ”. Với khái niệm này luật hình sự Việt Nam phải dẫn chiếu sang Luật cán bộ, công chức để xác định cụ thể các trường hợp thuộc nội hàm của khái niệm “người có chức vụ”. Tuy nhiên quan điểm người có chức vụ theo luật hành chính cũng khác so với luật hình sự vì vậy gây khó khăn cho việc áp dụng thống nhất pháp luật.

2. Đối tượng của tội phạm

BLHS Hoa Kỳ không định nghĩa một cách cụ thể đối tượng (lợi ích) của tội phạm. Điều luật chỉ quy định đối tượng của tội phạm là bất kì vật có giá trị nào (anything of value). Mặc dù vậy, BLHS của các tiểu bang lại đề cập cụ thể và chi tiết những đối tượng của tội phạm.

Theo BLHS của tiểu bang Florida, đối tượng hối lộ là bất kì lợi ích nào (any benefit). Khái niệm “lợi ích” được quy định rất chi tiết, rõ ràng tại Điều 838.014 BLHS. Theo đó, “lợi ích” chính là những ích lợi (gain), những thuận lợi (advantage) hoặc bất kì điều gì được quan tâm, bao gồm tiền hoa hồng (commission), quà tặng (gift), tiền thưởng (gratuity), tài sản (property), lợi nhuận kinh doanh (commercial interest) hoặc bất kì vật nào khác đem lại lợi ích kinh tế (any other thing of economic value) mà không được sự cho phép của pháp luật [5] . BLHS của tiểu bang Utah chi coi những lợi ích tiền bạc (pecuniary benefit) mới là đối tượng của các tội phạm hối lộ. Điểm a khoản 4 Điều 76-8-101 phần 101 Chương 8 BLHS Utah định nghĩa: “Lợi ích tiền bạc là những lợi ích dưới các hình thức tiền, tài sán, lợi nhuận kinh doanh hoặc những thứ khác xuất phát từ lợi ích kinh tế” [6] . Dựa trên quy định này, đối với mỗi trường hợp phạm tội cụ thể, người áp dụng pháp luật sẽ dựa trên giá trị cụ thể của vật hối lộ để xác định loại tội [7] . Theo đó, giá trị của lợi ích đưa và nhận hối lộ sẽ là căn cứ quan trọng để xác định loại tội. Ví dụ, nếu hành vi đưa hối lộ (Điều 76-8-103) lợi ích có giá trị ít hơn 1.000 USD thì sẽ thuộc trọng tội mức độ thứ ba. Trường hợp đưa hối lộ (Điều 76- 8-103) mà của hối lộ có giá trị từ 1.000 USD trở lên sẽ thuộc trọng tội mức độ thứ hai [8] . BLHS của tiểu bang Washington lại quy định rất rõ đối tượng tội phạm của tội đưa và nhận hối lộ chỉ có thể là bất kì lợi ích tiền bạc nào (any pecuniary benefit). “Lợi ích tiền bạc” được hiểu là những lợi ích vật chất có thể quy ra tiền được [9] .

Như vậy có thể thấy luật hình sự của Hoa Kỳ chỉ coi lợi ích vật chất là đối tượng tội phạm của các tội đưa và nhận hối lộ. Các lợi ích về tinh thần, tình cảm không phải là đối tượng tội phạm của các tội này. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với quy định của luật hình sự Việt Nam. Theo Điều 279 BLHS Việt Nam quy định về tội nhận hối lộ thì đối tượng của tội phạm là "tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kì hình thức nào…”. Luật hình sự Việt cũng không coi các lợi ích tinh thần là đối tượng của các tội phạm này.

3. Các dạng hành vi đưa và nhận hối lộ

Đưa và nhận Hối lộ luôn là hai mặt gắn bó mật thiết với nhau dựa trên việc lợi dụng chức vụ của nhà nước vì vụ lợi. Chính vì vậy, trong BLHS Hoa Kỳ, hành vi đưa và nhận hối lộ được quy định chung trong cùng một điều luật là Điều 201 với tên gọi “Hối lộ viên chức nhà nước và nhân chứng”. Nghiên cứu điểm 1 khoản (b) Điều 201 BLHS Hoa Kỳ cho thấy hành vi hối lộ có thể được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp đưa cho viên chức nhà nước hoặc có thể đưa cho những cá nhân tổ chức khác miễn là có sự chấp thuận của viên chức đó. Điều luật chỉ rõ các dạng hành vi “đưa hối lộ” bao gồm các hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa, đề xuất đưa hay hứa hẹn đưa bất kỳ lợi ích vật chất nào cho viên chức nhà nước hoặc người được bầu là công chức hoặc đề xuất hay hứa hẹn với viên chức nhà nước hoặc người được bầu là công chức là đưa bất kì lợi ích vật chất nào cho cá nhân hoặc tổ chức khác. Như vậy, điều luật không chỉ chỉ rõ các dạng hành vi đưa hối lộ mà còn chỉ rõ người nhận của hối lộ. Theo đó, người nhận của hối lộ không chỉ là chính viên chức nhà nước đó mà còn có thể là bất kì cá nhân, tổ chức nào khác.

Các hành vi này chỉ cấu thành tội đưa hối lộ khi nó nhằm vào một trong ba mục đích sau đây:

- Để gây ảnh hưởng đến bất kì hoạt động công vụ nào.

- Để gây ảnh hưởng đến công chức hoặc người được bầu là công chức nhà nước để cam kết hoặc hỗ trợ việc thực hiện cam kết hoặc thông đồng với hoặc cho phép bất cứ sự gian lận nào hoặc tạo cơ hội cho việc thực hiện bất kì sự gian lận nào trong nhà nước Hoa Kỳ.

- Để tác động đến các viên chức chính phủ hoặc những người đã được bầu là công chức nhà nước để họ làm hoặc không làm bất cứ hành vi nào qua đó vi phạm nghĩa vụ hợp pháp của quan chức hoặc của người đó [10] .

Như vậy ở đây có thể thấy giữa người đưa và nhận hối lộ luôn tồn tại sự thoả thuận với nhau: Người đưa hối lộ sẽ đưa (trực tiếp hoặc gián tiếp) một lợi ích vật chất. Lợi ích vật chất này có thể đưa cho chính viên chức chính phủ hoặc có thể đưa cho một cá nhân, tổ chức khác. Đổi lại thì viên chức nhà nước đó phải chịu ảnh hưưởng của người đưa hối lộ, họ phải thực hiện hoặc không thực hiện một công vụ nào đó dưới ảnh hưởng (mong muốn) của người đưa hối lộ. Việc này rõ ràng đã vi phạm nghĩa vụ công chức vì người công chức luôn phải có nghĩa vụ thực thi công vụ một cách khách quan, trong sạch, vì lợi ích của cộng đồng, vì lợi ích của nhân dân.

Điểm 2 khoản (b) Điều 201 BLHS Hoa Kỳ quy định về các trường hợp nhận hối lộ. Theo đó, hành vi nhận hối lộ là hành vi của những viên chức chính phủ hoặc những người được bầu là công chức nhà nước đã thực hiện các hành vi: Trực tiếp hoặc gián tiếp đòi hỏi, yêu cầu, nhận, chấp nhận, đồng ý nhận hoặc đồng ý chấp nhận bất kì một lợi ích vật chất nào cho cá nhân mình hoặc cho một cá nhân hay tổ chức khác để đổi lại việc viên chức đó phải:

- Chịu ảnh hưởng trong việc thực hiện bất kì hoạt động công vụ nào.

- Dưới ảnh hưởng của việc nhận hối lộ mà cam kết hoặc hỗ trợ việc thực hiện cam kết hoặc thông đồng với hoặc cho phép bất cứ sự gian lận nào hoặc tạo cơ hội cho việc thực hiện bất kì sự gian lận nào trong nhà nước Hoa Kỳ.

- Bị tác động để làm hoặc không làm bất cứ hành vi nào qua đó vi phạm nghĩa vụ hợp pháp của mình [11] .

Quy định này cho thấy rõ mối quan hệ mật thiết giữa đưa và nhận hối lộ. Đây là hai mặt luôn gắn bó mật thiết với nhau vì vậy các quy định về các hành vi đưa và nhận hối lộ được các nhà lập pháp xây dựng theo mô hình hoàn toàn đối xứng với nhau.

Ngoài trường hợp đưa và nhận hối lộ của viên chức chính phủ, điểm 3 và điểm 4 của khoản (b) Điều 201 cũng quy định về trường hợp đưa và nhận hối lộ nhân chứng. Xuất phát từ vai trò vô cùng quan trọng của nhân chứng tại các phiên toà cũng như các phiên điều trần của Quốc hội, đặc biệt là các nhân chứng gốc. Vì vậy, tuy những người này không phải là viên chức chính phủ nhưng do tầm quan trọng trong lời khai cũng như việc làm chứng của họ nên có nhiểu người tìm cách hối lộ những người này hoặc chính những người này tìm cách đòi hối lộ. Chính vì vậy, điểm 3 khoản (b) Điều 201 BLHS Hoa Kỳ đã quy định các trường hợp người trực tiếp hoặc gián tiếp hối lộ bằng cách đưa, đề xuất hoặc hứa hẹn bất cứ điều gì có giá trị cho bất kì nhân chứng nào hoặc đề xuất hoặc hứa hẹn với các nhân chứng là sẽ đưa bất cứ vật gì có giá trị cho một người hoặc tổ chức khác, với chủ định gây ảnh hưởng đến các lời khai có tuyên thệ hay có xác nhận của nhân chứng gốc này trong phiên toà, trong xét xử, hoặc trong các giai đoạn tố tụng khác, trước bất kì toà án nào, hoặc bất cứ ủy ban nào của Hạ viện hoặc của cả hai viện của Quốc hội, hoặc bất kì cơ quan, ủy ban, hoặc công chức có thẩm quyền theo luật pháp của Hoa Kỳ để xem xét bằng chứng hoặc lấy lời khai hoặc tác động để người đó vắng mặt [12] .

Tương tự như vậy, điểm 4 quy định về hành vi của nhân chứng trực tiếp hoặc gián tiếp đòi hỏi, yêu cầu, nhận, chấp nhận hoặc đồng ý nhận hoặc đồng ý chấp nhận bất cứ thứ gì có giá trị cho cá nhân mình hoặc cho bất kì cá nhân hoặc tổ chức nào khác để thực hiện các hành vi có lợi cho người đưa hối lộ như đã đề cập ở trên.

Bên cạnh các quy định này, các khoản khác cùa Điều 201 BLHS Hoa Kỳ cũng quy định các trường hợp đưa và nhận hối lộ thuộc các trường hợp khác. Điểm 1 khoản c quy định về các hành vi đưa và nhận hối lộ của viên chức nhà nước như sự trả công cho việc thực thi công vụ của họ và điểm 2 và điểm 3 khoản c quy định về các trường hợp đưa và nhận hối lộ của nhân chứng vì sự vắng mặt không ra làm chứng của họ.

Ngoài các quy định này, tại Chương này còn có một số điều luật quy định về các hành vi đưa và nhận hối lộ trong một số lĩnh vực như Điều 224 quy định về “Hối lộ trong thi đấu thể thao”, Điều 226 quy định về “Hối lộ gây ảnh hường đến an ninh cảng”. Đây là các lĩnh vực có nhiều đặc thù vì vậy được các nhà lập pháp Hoa Kỳ tách ra thành các trường hợp riêng biệt với quy định cụ thể rõ ràng tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật được thuận lợi.

Trên cơ sở quy định của BLHS liên bang, BLHS các tiểu bang có những quy định cụ thể về các tội đưa và nhận hối lộ. BLHS tiểu bang Washington quy định tội đưa và nhận hối lộ tại khoản 9A.68.010 Chương 9A. Trong đó điểm a khoản 1 Điều 9A.68.010 quy định về tội đưa hối lộ, còn điểm b khoản 1 điều 9A.68.010 quy định tội nhận hối lộ. Theo điểm a khoản 1 Điều 9A.68.010 thì hành vi đưa hối lộ là hành vi của một người đã đề xuất tặng hoặc đồng ý tặng bất kì lợi ích tiền bạc nào cho viên chức nhà nước để người này thực hiện các hoạt động có liên quan đến việc thực hiện bầu cử viên chức nhà nước, đến việc cho ý kiến, ra bản án, ban hành quyết định hoặc hoạt động khác trong khả năng công vụ của người đó nhằm mục đích để đảm bảo kết quả cụ thể trong vấn đề cụ thể nào đó [13] . Điểm b của Điều 9A.68.010 BLHS tiểu bang Washington quy định về tội nhận hối lộ của viên chức nhà nước. Theo đó, viên chức nào trong thực thi công vụ mà yêu cầu, chấp nhận hoặc đồng ý chấp nhận bất kì lợi ích tiền bạc nào trong một sự đồng ý hoặc chấp thuận rằng mình sẽ bầu, đưa ý kiến, ra bản án, ban hành quyết định hoặc các hoạt động khác nhằm đảm bảo hoặc tìm cách đảm bảo kết quả cụ thể trong vấn đề cụ thể. Quy định này cho thấy rõ kĩ thuật xây dựng các cấu thành tội phạm đưa và nhận hối lộ rất tương xứng với nhau. Có thể thấy kĩ thuật xây dựng cấu thành tội phạm cùa các nhà lập pháp tiều bang Washington khá đơn giản hơn các tiểu bang khác và chỉ có một điều luật quy định về tội đưa và nhận hối lộ.

Trái ngược với quy định về tội đưa và nhận hối lộ của tiểu bang Washington, các quy định về tội đưa và nhận hối lộ của tiểu bang New York khá phức tạp bao gồm 11 điều quy định về các trường hợp đưa và nhận hối lộ. Các điều 200.00, 200.03, 200.04 quy định về ba trường hợp đưa hối lộ tương đương với ba mức độ nghiêm trọng khác nhau của hành vi phạm tội. Điều 200.00 quy định về trường hợp đưa hối lộ thuộc cấp độ thứ ba, trong đó quy định hành vi của người tặng, đề xuất hoặc đồng ý tặng lợi ích cho viên chức nhà nước để người này bầu, đưa ra ý kiến, ra bản án, ra quyết định hoặc thực hiện quyết định có liên quan đến việc đưa hối lộ. Đưa hối lộ cấp độ thứ ba là trọng tội loại D. Điều 200.03 quy định trường hợp đưa hối lộ thuộc cấp độ thứ hai. Theo đó, người tặng, đề xuất hoặc đồng ý tặng lợi ích không vượt quá 10 ngàn USD cho viên chức nhà nước để người này bầu, đưa ra ý kiến, ra bản án, ra quyết định hoặc thực hiện quyết định có liên quan đến việc đưa hối lộ. Đưa hối lộ cấp độ thứ hai là trọng tội loại C. Điều 200.04 quy định trường hợp đưa hối lộ thuộc cấp độ thứ nhất. Trong đó, người tặng, đề xuất hoặc đồng ý tặng để người này bầu, đưa ra ý kiến, ra bản án, ra quyết định hoặc thực hiện quyết định tác động đến quá trình điều tra, truy nã, bắt giữ, truy tố hoặc giam giữ người nào đó phạm trọng tội loại A. Đưa hối lộ cấp độ thứ nhất là trọng tội loại B [14] . Các điều 200.10, 200.11, 200.12 BLHS tiểu bang New York quy định các trường hợp viên chức nhà nước yêu cầu, chấp nhận hoặc đồng ý chấp nhận lợi ích vật chất để thực hiện các hoạt động tương đương như các trường hợp của các điều 200.00, 200.03 và 200.04 [15] . Ngoài các điều luật này, một số điều luật khác quy định về các trường họp đưa và nhận hối lộ khác với các tính chất hoặc ít nghiêm trọng hơn hoặc nghiêm trọng hơn nhiều. Nghiên cứu các quy định về các tội phạm của BLHS tiểu bang New York có  thể thấy các quy định rất cụ thể và chi tiết. Các nhà lập pháp cũng luôn xây dựng các điều luật tương xứng đối với các hành vi đưa và nhận hối lộ.

Cũng theo khuynh hướng sử dụng kĩ thuật lập pháp phức tạp, các nhà lập pháp tiểu bang Utah quy định hành vi đưa và nhận hối lộ khá phức tạp. Điều 76-8-103 BLHS Utah quy định về tội đưa hối lộ và đề xuất hối lộ. Điều luật quy định các hành vi đưa hối lộ và đề xuất hối lộ bao gồm: hứa hẹn, đề xuất, đồng ý đưa hoặc đưa trực tiếp hoặc gián tiếp bất kì một lợi ích nào cho người khác với mục đích hoặc ý định gây ảnh hưởng đến một hoạt động, quyết định, ý kiến, đề xuất, bản án, phiếu bầu, việc bổ nhiệm hoặc việc tự quyết của công chức, viên chức các đảng phái hoặc cử tri [16] . Hành vi nhận hối lộ được quy định tại Điều 76-8-105 với các hành vi: đòi, yêu cầu, chấp nhận hoặc nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bất kì lợi ích nào trong sự thừa nhận hoặc sự đồng thuận rằng mục đích hoặc ý định là gây ảnh hưởng đến một hoạt động, quyết định, ý kiến, đề xuất, bản án, phiếu bầu, việc bổ nhiệm hoặc việc tự quyết của công chức, viên chức các đảng phái hoặc cử tri [17] . Ngoài khoản cơ bản này thì khoản 2 của các điều 76-8-103 và 76-8- 105 BLHS Utah quy định các trường hợp mà hành vi không bị truy cứu về các tội đưa và nhận hối lộ. Khoản 3 của các điều trên lại quy định về phân loại tội đưa và nhận hối lộ. Theo đó nếu lợi ích đưa và nhận hối lộ (của hối lộ) từ 1000 USD trờ xuống thì thuộc trọng tội mức độ thứ ba. Các trường hợp lợi ích đưa và nhận hối lộ lớn hơn 1000 USD thì thuộc trọng tội mức độ thứ hai [18] .

Khác với các BLHS của liên bang cũng như của tiểu bang New York và tiểu bang Utah, BLHS của tiểu bang Texas lại quy định khá đơn giản về các tội đưa và nhận hối lộ. Các quy định này thậm chí đơn giản hơn nhiều so với các quy định của BLHS tiểu bang Washington. Tội đưa và nhận hối lộ không được quy định thành các điều luật riêng mà được quy định chung trong một điều luật, thậm chí nhà làm luật còn quy định hai tội phạm trong cùng một điều khoản đan xen với nhau như hai mặt không thể tách rời cùa một hiện tượng. Đây là kĩ thuật lập pháp vô cùng độc đáo. Theo Điều 36.02 BLHS của tiểu bang Texas thì hành vi đưa và nhận hối lộ là hành vi của người biết rõ và chủ ý mà đề xuất, tặng hoặc đồng ý tặng cho người khác (trường hợp đưa hối lộ) hoặc yêu cầu, chấp nhận hoặc đồng ý chấp nhận từ người khác (hành vi nhận hối lộ) lợi ích như là sự cân nhắc, xem xét trong quyết định, trong ý kiến, trong bầu cử hoặc các công việc khác của công chức (người nhận lợi ích). Có thể thấy khác với BLHS liên bang quy định khá phức tạp của hối lộ có thể đưa trực tiếp hoặc gián tiếp cho viên chức nhà nước hoặc cũng có thể đưa cho cá nhân hoặc tổ chức khác. Điều luật về hối lộ của tiểu bang Texas chỉ quy định của hối lộ đưa cho người khác. Với quy định này, người khác có thể hiểu là chính viên chức thực hiện các hành vi dưới sự chịu ảnh hưởng của hành vi hối lộ mà cũng có thể là bất kì cá nhân, tổ chức nào khác. Quy định này có thể không cụ thể nhưng lại mang tính đơn giàn hơn nhiều so với quy định trong BLHS của liên bang.

Kĩ thuật lập pháp độc đáo này cũng được các nhà lập pháp tiểu bang Florida vận dụng khi quy định các hành vi đưa và nhận hối lộ chung trong cùng một điều khoản. Khoản 1 Điều 838.015 BLHS tiểu bang Florida quy định hành vi đưa, nhận hối lộ là các hành vi: đưa, đề xuất hoặc hứa hẹn với bất ki công chức nào hoặc bất kì công chức nào đòi, yêu cầu, chấp nhận hoặc đồng ý chấp nhận cho mình hoặc cho người khác tiền bạc hoặc lợi ích khác mà không được luật pháp cho phép (trường hợp nhận hối lộ) với ý định hoặc mục đích gây ảnh hưởng đến việc thực hiện bất kì hoạt động hoặc nhiệm vụ nào của công chức mà xâm phạm nghĩa vụ công hoặc trong việc thực thi nghĩa vụ công [19] . Một điểm khá thú vị là các nhà lập pháp tiểu bang Florida gọi các trường hợp này là hối lộ mang tính tham nhũng (corruptly) để phân biệt với những trường hợp hối lộ quy định trong các điều luật khác như: hối lộ trong các các trận đẩu thể thao (Điều 838.12 BLHS Florida), nhận hối lộ trong hoạt động thương mại (Điều 838.15 BLHS Florida) hay tội đưa hối lộ trong hoạt động thương mại (Điều 838.16). Quy định này còn giúp cho việc xác định nội hàm khái niệm tham nhũng trong luật hình sự tiểu bang Florida.

Như vậy có thể thấy rõ ràng hai xu hướng cơ bản trong kĩ thuật lập pháp của các luật gia Hoa Kỳ về các tội đưa và nhận hối lộ. Các nhà lập pháp của liên bang và của các tiểu bang như New York và Utah thì thiên về xu hướng quy định khá phức tạp các tội phạm đưa và nhận hối lộ. Các nhà lập pháp của các bang như Texas và Florida thì ngược lại, lại thiên về xu hướng quy định khá đơn giản các tội phạm này.

So với quy định của BLHS Hoa Kỳ và BLHS các tiểu bang, BLHS Việt Nam quy định tội nhận và đưa hối lộ ở hai điều luật khác nhau (Điều 279 tội nhận hối lộ và điều 289 tội đưa hối lộ). Trong khi Điều 279 mô tả rất chi tiết các dạng hành vi phạm tội, đó là hành vi: “lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác...” thì trong tội đưa hối lộ (Điều 289), nhà làm luật lại không mô tà cụ thể hành vi phạm tội. Điều này cho thấy sự bất hợp lí trong kĩ thuật lập pháp cũng như gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật. Hơn nữa BLHS Việt Nam không quy định rõ các trường hợp đưa (hoặc nhận) lợi ích vật chất cho người thứ ba. Điều này cũng gây khó khăn cho thực tiễn xét xử khi thiếu căn cứ pháp lí để áp dụng trong thực tiễn [20] .

Nghiên cứu các quy định về các tội đưa và nhận hối lộ trong BLHS Hoa Kỳ và các tiểu bang cho chúng ta thấy được sự phong phú, đa dạng cũng như nét đặc thù trong kĩ thuật lập của các luật gia Hoa Kỳ. Đây là những kinh nghiệm vô cùng quý báu giúp chúng ta hoàn thiện các quy định về tội đưa và nhận hối lộ nói riêng cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung để tăng cường hiệu quả điều chỉnh của pháp luật Việt Nam./.

 

[1] Nguồn: http://www.nationsencyclopedia.com/economies/Americas/United-States-of-America.html

[2] Xem: Bộ tổng luật Hoa Kỳ, nguồn: http://www.law. cornell.edu/uscode/

[3] Nguyên văn: "Bribery, graft, and conflicts of interest”. Nguồn; Http://www.law.cornell.edu/uscode/htmluscode18/usc_sup_01_l8_10_I.html

[4]  Xem:   Government Organization and Employees, nguồn: http://www.law.conell.edu/uscode/htmluscode05/usc_sup_01 _5.html

[5]  Xem: Điều 838.014, Chương 838, tiểu mục 46, Bộ tổng luật tiều bang Florida. Nguồn: http://www.leg.state.fl.us/statutes/index.cfm?App_mode=Dìsplay_Index&Title_Request=XLVI#TitleXLVI

[6] Xem:    điểm a khoản 4 Điều 76-8-101 Chương 8 BLHS Utah thuộc tiểu mục 76 Bộ tổng luật tiểu bang Utah. Nguồn: http://www.le.state.ut.us/~code/TITLE76/TITLE76.htm

[7] BLHS tiểu bang Utah chia tội phạm thành ba loại: Các trọng tội (felonies), các tội ít nghiêm trọng (misdemeanors) và các vi phạm (infractions). Trong đó các trọng tội lại được chia thành 4 loại: Các trọng tội tử hình (capital felonies), các trọng tội mức độ thứ nhất (felonies of first degree), các trọng tội mức độ thứ hai (felonies of second degree) và các trọng tội mức độ thứ ba (felonies of third degree). Các tội ít nghiêm trọng cũng được chia thành 3 mức độ A, B và C. Các vi phạm thì không phân loại. Xem Điều 76-3-102 và các điều từ 76-3-103 đến 76-3-105 Chương 3 BLHS tiểu bang Utah. Nguồn: http://www.le.state.ut.us/~code/ TITLE76/TITLE76.htm

[8] Xem:    Khoản 3 Điều 76-8-103 chưong 8 BLHS Utah thuộc tiểu mục 76 Bộ tồng luật tiểu bang Utah. Nguồn: http://www.le.state.ut.us/~code/ TITLE76/TITLE76.htm

[9] Xem:    Khoản 1 Điều 9A.68.010 chương 9A BLHS tiểu bang Washington. Nguồn: http://apps.leg.wa.Gov/rcw/default.aspx

[10] Xem:  Điểm 1 khoản (b) Điều 201 Chi BLHS Hoa Kỳ, nguồn: http://www.hw.cor r uscode/18/usc_sup_01_l 8.html

[11] Xem:  Điểm 2 khoản (b) Điều 201 Chương 11 BLHS Hoa Kỳ, nguồn: http://www.law.cornell.edu/uscode/18/usc_sup_01_18.html

[12] .Xem: Điểm 3 khoàn (b) Điều 201 Chương 11 BLHS Hoa Kỳ, nguồn: http://www.law.cornell.edu/uscode/18/usc_sup_01_18.html

[13] Xem:  Điểm a khoàn 1 Điều 9A.68.010 Chương 9A BLHS tiểu bang Washington. Nguồn: http://apps.leg.wa.gov/rcw/default.aspx

[14] BLHS tiểu bang New York có sự phân chia tội phạm khá phức tạp. Tội phạm được chia thành trọng tội (felony) và tội ít nghiêm trọng (misdemeanour) (khoản 5 Điều 10 BLHS New York). Trọng tội chia thành 7 loại theo thứ tự tính chất nguy hiểm giảm dần là trọng tội loại A, trọng tội loại B, trọng tội lọi C, trọng tội loại D, trọng tội loại E. Tội ít nghiêm trọng lại được chia thành ba loại là tội ít nghiêm loại A, tội ít nghiêm trọng loại B và tội ít nghiêm trọng không phân loại. Xem điều 50 BLHS tiểu bang New York, nguồn: http://public.leginfo.state.ny.us/LAWSSEAF.cgi

[15] Xem: Từ Điều 200.00 đến Điều 200.55 BLHS tiểu bang New York, nguồn: http://public.leginfo.state.ny.us/LAWSSEAF.cgi

[16] Xem:  Điều 76-8-103 BLHS Utah. Nguồn: http://www.le.state.ut.us/~code/ TITLE76/TITLE76.htm

[17] Xem:  Điều 76-8-105 BLHS Utah. Nguồn: http://www.le.state.ut.us/~code/ TITLE76/TITLE76.htm

[18] Xem:  các khoản 2 và 3 của các điều 76-8-103 76-8-105 BLHS Utah. Nguồn: http://www.le.stat e.ut ~code/TITLE76/TITLE76.htm

[19]  Xem: Khoản 1 Điều 838.015 BLHS tiểu bang Florida. Nguồn: http://www.leg.state.fl.us/st atutes dex.cfm?App_mode=Display_Index&Title_Reques XLVI#TitleXLVI

[20]  Về vấn đề này xin xem thêm: Trần Hữu Tráng “Hoàn thiện quy định về các tội nhận và đưa hối lộ” Tạp chí luật học, số 3/2009, tr. 67 - 74.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi