Một số giải pháp tháo gỡ vướng mắc, bất cập trong giải quyết và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm giết người

Ths.Lê Minh Long - Trưởng phòng 1A, VKSND TP.Hà Nội

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự thì mối quan hệ giữa  Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong quá trình điều tra  các vụ án hình sự là mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao mà pháp luật quy định bắt buộc cả 02 cơ quan phải tuân thủ nghiêm chỉnh. Đây là mối quan hệ biện chứng ( vừa có sự phối hợp, vừa chế ước lẫn nhau), đan xen với nhau, bổ sung cho nhau, nhưng lại không loại trừ, hạn chế lẫn nhau ( quan hệ phối hợp là cơ bản). Mối quan hệ này thể hiện những nét riêng biệt của tố tụng hình sự. Trong công tác tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì mối quan hệ này được xác lập từ khi tiếp nhân, xác minh tố giác, tin báo đến khi Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện các yêu cầu điều tra, áp dụng biện pháp ngăn chặn… hủy bỏ các quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện yêu cầu và các quyết định của Viện kiểm sát. Nếu không đồng ý, Cơ quan điều tra vấn phải thực hiện nhưng có quyền kiến nghị đến Viện kiếm sát cấp trên.

Trong phạm vi bài viết. qua thực tiễn thấy một số vướng mắc. bất cập về mối quan hệ giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát trong quá trình cứ lý tố giác, tin báo về tội phạm giết người, tác giả muôn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này.

Theo quy định của Bộ luật Hình sự, tội phạm giết người là tội phạm trực tiếp xâm phạm khách thể quan trọng được pháp luật bảo vệ, đó là quyền sống của con người. Trong những năm qua, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thực hiện tốt hoạt động tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đối với loại tội phạm này. Việc thu thập tải liệu, chứng cứ, xác minh tố giác, tin báo, khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng chứng minh tội phạm, áp dụng hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn và quyết định việc khởi tố vụ án, đảm bảo đúng trình tự pháp luật. Đối với  vện kiểm sát đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát chặt chẽ việc phân loại, xử lý tội phạm giết người, khởi tố hoặc không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra, tạo điều kiện thực hiện tốt hoạt động điều tra, truy tố và xét xử đối với loại tội phạm này, nhằm chống bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên. bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại, bất cập, cụ thể là:

Thứ nhất, quá trình điều tra và xử lý một số vụ án giết người. Cơ quan Cảnh sát điều tra vẫn chưa thực hiện tốt mối quan hệ với Viện kiểm sát, chưa nghiêm túc thực hiện đúng quy trình tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm. Điển hình có vụ việc, sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo có vụ giết người xay ra, phân công cán bộ thụ lý, giải quyết nhưng Cơ quan điều tra không gửi đến Viện kiềm sát đế kiểm sát việc giải quyết. Thậm chí có một số vụ việc chết không rõ nguyên nhân do không xác định được tung tích nạn nhân, sau khi tiến hành xác minh Cơ quan điều tra không có kết luận hoặc có kết luận nhưng không gửi đến Viện kiềm sát để thực hiện hoạt động kiểm sát. Đối với Viện kiểm sát hoạt động kiểm sát một số vụ việc còn mang tính hình thức, bị động, chỉ dừng lại ở việc nắm số liệu và kết quả giải quyết. Hoạt động kiểm sát chủ yếu thông qua kiểm sát việc khám nghiệm, kiểm sát việc bắt giữ, nghiên cứu hồ sơ phức tạp do Cơ quan điều tra chuyển đến để trao đổi, thống nhất đường lối giải quyết.

Thứ hai, một số vụ án giết người, khi xảy ra vụ án, Cơ quan điều tra không tổ chức khám nghiệm hiện trường, hoặc có tổ chức khám nghiệm nhưng không thông báo cho Viện kiểm sát biết đế thực hiện kiểm sát nên không đảm bảo thủ tục pháp lý có nhiều thiếu sót làm mất đi những dấu vết, vật chứng mang dấu vết tội phạm sau này không thể khắc phục được. Điển hình là vụ án Tràn Thị Lệ H ở tỉnh Bạc Liêu, bị khởi tố và điều tra, truy tố về tội giết người.. Cơ quan tiến hành tố tụng 2 cấp đã xét xử đối với Trần Thị Lệ H tuyên phạt 07 năm tù về tội giết người nhưng bị cáo vẫn kêu oan. Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã xét xử vả ra quyết định giám đốc thâm tuyên hủy án sơ thẩm và phúc thẩm để điều tra lại theo quy định của pháp luật, yêu cầu làm rõ nạn nhân là bà Hại bị ngộ độc bằng loại thuốc sâu gì, thuốc lấy ở đâu chiếc ca đựng thuốc sâu là của ai . . . , nhưng do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không phối hợp ngay từ khi khám nghiệm hiện trường nên đã đế thất tạc vật chứng quan trọng của vụ án, vụ án xảy ra đã lâu: không thể khám nghiệm lại hiện trường được. Do vậy, không thể làm rõ được yêu cầu của Quyết định giám đốc thẩm dẫn đến hậu quả không thể tiếp tục truy tố bị can ra Toà để xét xử lại.

Thứ ba, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình khám nghiệm hiện trường khám nghiệm tử thi. Kiểm sát viên chưa kịp thời đưa ra những yêu cầu điêu tra đê làm rõ tình tiết vụ án, hoặc Điều tra viên không nghiêm túc thực hiện các yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên. Ví dụ như vụ Huỳnh Văn N phạm tội giết người, cướp tài sản xảy ra tại Đồng Nai vụ giết người tại nhà ông Trương Ngọc Minh xảy ra tại thành phố Hồ Chí Minh. Hạn chế lớn nhất trong 2 vụ án nảy là Kiểm sát viên không đề ra được yêu cầu điều tra để thu thập chứng cứ, không chỉ ra được cần khám xét cái gì, không kiểm sát biên bản khám nghiệm hiện trường . . . Do vậy, khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên lập biên bản không thể hiện được vị trí, khoảng cách giữa các vật chứng, không mô tả đầy đủ dấu vết tại hiện trường, vẽ sơ đồ sơ sài, không đủ thành phần tham gia khám nghiệm ký tên mà Kiểm sát viên vẫn không phát hiện ra. Hậu quả là cả hai vụ án đều bị Toà án nhân dân xét xử tuyên bị cáo không phạm tội.

Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên là do hệ thống pháp luật ở nước ta vẫn,còn chồng chéo, bất cập, chưa thống nhất, chưa quy định cụ thể. đầy đủ và rõ ràng ranh giới, chức trách, nhiệm vụ được giao và phương pháp. cách thức thực hiện giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của mối quan hệ giữa 2 cơ quan. Điều tra viên và Kiểm sát viên chưa thực hiện đầy đủ chức trách nhiệm vụ được giao, chưa có tâm huyết với nghề nghiệp dẫn đến sự phối hợp thiếu chặt chẽ, không dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành để hỗ trợ cho nhau trong quá trình giải quyết vụ án; đâu đó vẫn còn hiện tượng "quyền anh, quyền tôi", tuỳ tiện lấn sân nhau dẫn đến bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội . . .

Tự thực trạng và những vướng mắc: bất cập tồn tại, thiếu sót nêu trên chúng tôi thấy, để nâng cao chất lượng công tác này cần có một số giải pháp cụ thể như sau:

Một là, nâng cao nhận thức của Điều tra viên, Kiểm sát viên về vai trò, tầm quan trọng của mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và V ai kiểm sát trong.hoạt động tiếp nhận, xử lý tố giác, tín báo về tội phạm nói chung và tội phạm giết người nói riêng. Kiểm sát viên, Điều tra viên phải nhận thức đúng đắn trách nhiệm và nghĩa vụ của mình là phái tuân thủ nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát; cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của chính bản thân mình được pháp luật quy định phải nắm chắc những kiến thức pháp luật, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng trong từng hoạt động điều tra, kiểm sát điều tra, để đảm bảo mọi tội phạm đều phải được điều tra và xử lý kịp thời.

Hai là, quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ tiếp nhận và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm giết người, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng phải tuân thủ đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự về chức năng, nhiệm vụ, quyền bạn của mình. Thông tư liên tịch số 05/TTLT ngày 07/9/2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng ban hành về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003. Điều tra viên và Kiểm sát viên phải nắm chắc đặc điểm hình sự, những dấu hiệu và các yếu tố cấu thành tội phạm giết người; nắm chắc và tuân thủ đúng quy trình và kỹ năng khám nghiệm. kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi để thu thập đầy đủ các dấu vết, vật chứng chứng minh tội phạm.

Ba là, sửa đổi, bổ sung một số điều quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự nhằm xây dựng và hoàn thiện những chế định về chức trách. nhiệm vụ được giao của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân để giải quyết mối quan hệ giữa hai cơ quan trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đối với tội phạm nói chung và tội giết người nói riêng. Điều l03 Bộ luật Tố tụng Hình sự đã phân định rõ ràng Cơ quan điêu tra có nhiệm vụ tiếp nhận giải quyết tố giác: tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát những hoạt động tiếp nhận và giải quyết của Cơ quan diều tra Nhưng điều luật này vần chưa quy định cụ thể về trách nhiệm của Cơ quan điều tra phải làm gì để thực hiện các yêu cầu kiểm sát của Viện kiểm sát nên cũng có ảnh hưởng không tích cực đến mối quan hệ giữa hai cơ quan. Theo chúng tôi, trong khi Bộ luật Tố tụng Hình sự chưa được sửa đổi, bổ sung, Liên ngành Tư pháp luật Trung ương cần quan tâm xây dựng và sớm ban hành quy chế quy định về mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra vụ án, truy tố và xét xử các vụ án hình sự. Trong đó, bao hàm cả nội dung quy định về mối quan hệ giữa Cơ quan cánh sát điều tra và Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm giết người. Cần quy định cụ thể về trách nhiệm của Cơ quan điều tra phải làm gì để thực hiện các yêu cầu kiểm sát của Viện kiểm sát như: Thực hiện việc cung cấp hồ sơ, tài liệu xác minh, tiếp thu và thực hiện những yêu cầu xác minh, việc định hướng xác minh của Viện kiểm sát...

Khoản 2 Điều l03 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định thời hạn giải quyết tố giác: tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là 20 ngày và tối đa là 2 tháng là chưa phù hợp. Có nhiều vụ án giết người cần có kết luận của các cơ quan tư pháp như trường hợp cần phải trưng cầu giám định cơ chế hình thành thương tích trên thi thê nạn nhân, dấu vết sinh học, cơ học... năng lực chịu trách nhiệm hình sự của đối tượng gây án. Những Pháp lệnh giám định tư pháp số 24/2004/PL- UBTVQH11 ngày 29/09/2004 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội chưa quy định rõ về thời hạn giám định. Mặt khác có nhiều trường hợp thời gian giám định phải kéo dài hơn - tháng thì Cơ quan chuyên môn mới có đủ điều kiện kết luận giám định. Do vậy, cần quy định thời hạn giải quyết dài hơn là đối với trường hợp đơn giản là 30 ngày và đối với trường hợp phức tạp là ba tháng. Như vậy, khoản 2 của điều luật cần sửa như sau: “Trong thời hạn 30 ngày… nhưng không quá ba tháng”.

Khoản 4 Điều 103 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra. Để đảm bảo và tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng của mình và tăng cường hiệu quả của mối quan hệ giữa hai Cơ quan trong quá trình giải quyết vụ án giết người, Bộ luật Tố tụng Hình sự cần quy định những biện pháp mà Viện kiểm sát có thể sử dụng như yêu cầu vào sổ quản lý tình hình; đề ra yêu cầu xác minh làm rõ vấn đề; yêu cầu cung cấp tại liệu xác minh; hỏi người có liên quan đến tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị yêu cầu khởi tố và khoản 3 của điều luật cần quy định thời hạn cụ thể hoặc bổ sung thêm từ “ngay” sau cụm từ “… phải được gửi…”.

Bốn là, quan thực tiễn kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm giết người cho thấy diễn biến tình hình tội phạm giết người, kẻ phạm tội thường sử dụng phương thức thủ đoạn tinh vi, xảo quyết, phương tiện khoa học kỹ thuật để gây án. Tuy nhiên, những điều kiện về cơ sở vật chất, phương tiện khoa học kỹ thuật phục vụ, hỗ trợ công tác điều tra và kiểm sát điều tra ( trang thiết bị, phương tiện, vũ khí…) để phục vụ việc xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, bắt giữ, điều tra còn hạn chế. Vì vậy, Nhà nước ta cần quan tâm tạo điều kiện tăng cường hỗ trợ kinh phí cho hai cơ quan này để thực hiện tốt chức năng đấu tranh phòng, chống tội phạm giết người.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi