Mô hình tố tụng hình sự Italia

I. TỔNG QUAN VỀ HỆ THÔNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ITALIA

Nước Ý là đất nước theo truyền thống luật dân sự, tuy nhiên, việc thực hiện Luật tố tụng hình sự bắt đầu từ năm 1988 đã dẫn đến sự thay đổi lớn từ hệ thống tư pháp hình sự thẩm vấn truyền thống với việc bổ sung nhiều nhân tố tranh tụng trở thành một hệ thống pha trộn với quan điểm là hệ thống xét xử tranh tụng sẽ thực thi một cách tốt nhất những nguyên tắc xét xử bằng miệng và công khai một cách dân chủ.

Những thay đổi của Bộ luật năm 1988 có 3 điểm cơ bản. Điểm thứ nhất là những thay đổi nhằm cấu trúc lại bản chất của điều tra hình sự. Điểm thứ hai là những cải tổ để các phiên toà hình sự phù hợp hơn với các nguyên tắc xét xử bằng miệng, trực tiếp và công khai có tính chất dân chủ. Theo nguyên tắc này, việc kiểm tra để tham gia phiên toà công khai bằng hình thức trực tiếp và kiểm tra chéo được tiến hành bởi Công tố viên, luật sư biện hộ và luật sư cho bên dân sự. Trách nhiệm xuất trình chứng cứ tại toà được trao cho các bên. Hồ sơ đúp được quy định trong Luật năm 1988 hạn chế rõ ràng những tài liệu nào có thể được Thẩm phán sử dụng tại phiên toà. Khi các bên xuất trình chứng cứ và lời khai tại toà thì những tài liệu chứng cứ này trở thành hồ sơ thứ hai và nộp lại cho Tòa án. Điểm thứ ba của cải tổ bao gồm chuyển hồ sơ tới toà một cách nhanh chóng, bỏ qua giai đoạn xem xét trước khi xét xử và cho phép vụ án được giải quyết ngay tại giai đoạn xem xét trước khi xét xử, không bắt buộc phải có phiên toà xét xử.

Cùng với việc ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Italia đã chính thức chuyển đổi mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn sang mô hình tố tụng hình sự tranh tụng dựa trên những nguyên tắc về sự bình đẳng giữa Công tố viên và bên bị cáo cũng như nguyên tắc tạo lập chứng cứ trước khi Thẩm phán mở phiên toà. Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng, đã có không ít những vấn đề bất cập từ việc chuyển đổi hệ thống. Có quan điểm cho rằng, ở một khía cạnh nào đó, hệ thống này đã tạo điều kiện cho các băng đảng tội phạm có tổ chức ở nước này quyền được bảo vệ tốt hơn. Từ tình hình trên, Italia đã sửa đổi Điều 111 của Hiến pháp vào năm 1999 với tinh thần chỉ chấp nhận những nguyên tắc cơ bản của tố tụng tranh tụng, chủ yếu là quyền trình bày các chứng cứ trước Tòa án với sự hiện diện của hai bên và bảo đảm quyền của bị cáo đối với việc bảo vệ chứng cứ họ đưa ra. Hiện nay, Italia được coi là nước có mô hình tố tụng kết hợp giữa thẩm vấn và tranh tụng. Thẩm vấn được áp dụng trong giai đoạn trước khi xét xử như các nguyên tắc trong điều tra, quyền hạn của Công tố viên so với luật sư... Tranh tụng chủ yếu được áp dụng ở giai đoạn xét xử với những nguyên tắc về chứng cứ và sự bình đẳng giữa bên công tố và luật sư trước toà.

Về trách nhiệm chứng minh và cách thức chứng minh trong tố tụng hình sự: pháp luật hiện hành của Italia quy định các bên chịu trách nhiệm cho quá trình xét xử và chứng cứ xuất trình tại phiên toà. Các bên trình bày chứng cứ bằng miệng hơn là bằng văn bản tóm tắt tại phiên toà được mở công khai. Thẩm phán chủ toạ và các thành viên hội đồng xét xử nhận hồ sơ xét xử chứa ít thông tin một cách đáng kể so với hồ sơ điều tra của Công tố viên. Hệ thống xét xử mới thừa nhận nguyên tắc xét xử trực tiếp và cho rằng những người xét xử quyết định vấn đề trên cơ sở chứng cứ được xuất trình tại toà.

Hiến pháp Italia khẳng định những nguyên tắc của một phiên toà công bằng. Cụ thể, Điều 111 sửa đổi khẳng định rằng chứng cứ trong vụ án hình sự phải được trình bày trước các bên và một Thẩm phán không thiên vị. Điều này đảm bảo phiên toà giữ vị trí trung tâm trong tố tụng hình sự. Thêm vào đó, Điều 111 cho phép bị cáo có quyền đối với người buộc tội. Điều luật này quy định rằng tội phạm không thể được chứng minh bằng những lời khai bên buộc tội khi bị cáo hoặc luật sư của họ chưa kiểm tra chéo đối người này. Những trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc này là việc sử dụng những lời khai ngoài phiên toà khi bị can đồng ý, khi có hành vi trái luật của nhân chứng đã được chứng minh hoặc có được chứng cứ tại phỉên tòa là điều không thể thực hiện được.

Để tăng cường tính hiệu quả của quyền đối chất, pháp luật quy định các đồng phạm có thể bị buộc làm nhân chứng, vì vậy quyền giữ im lặng về tội phạm của bị cáo đã bị loại trừ trong một số trường hợp đặc biệt. Điều khoản này đảm bảo việc kiểm tra chéo và duy trì quyền đối chất.

Công tố viên và luật sư của bên dân sự và của bị cáo được nêu những vấn đề họ dự định chứng minh và chứng cứ mà họ sẽ sử dụng để củng cố cho luận điểm của mình. Bị cáo có quyền được khai báo tại bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình xét xử khi những lời khai này không gây ảnh hưởng lớn đến phiên toà xét xử. Lời khai được trình bày trực tiếp và được kiểm tra chéo bởi các bên, mặc dù Thẩm phán chủ toạ có thể hỏi nhân chứng [i] . Pháp luật không cho phép những câu hỏi gợi ý trong kiểm tra trực tiếp. Việc trình bày chứng cứ chủ yếu do các bên thực hiện. Thẩm phán chủ tọa phiên toà có thể cắt ngang để bảo đảm các câu hỏi phù hợp, câu trả lời chính xác và việc thẩm vấn được tiến hành với tính chất tôn trọng quyền cá nhân. Hơn nữa, Thẩm phán chủ toạ được quyền cân nhắc các nguồn chứng cứ bổ sung nếu thấy cần thiết. Tòa án Hiến pháp xác định rằng các thủ tục tranh tụng không thay thế mục đích của phiên toà là tìm ra sự thật khách quan. Hơn thế, mục đích này luôn tồn tại và Thẩm phán chịu trách nhiệm đảm bảo rằng sự thật khách quan sẽ được phát hiện tại phiên toà.

Xu hướng của nước Ý là ưu tiên mô hình tranh tụng, bao gồm tăng cường quyền của bị cáo được đối mặt với các nhân chứng và cung cấp những kết quả điều tra với mục đích bảo vệ bị cáo, hơn là cho phép người bào chữa yêu cầu Công tố viên tiến hành điều tra thêm.

Hệ thống nguyên tắc TTHS của Italia cũng thể hiện nền TTHS thẩm vấn cơ bản bổ sung một số nguyên tắc của tố tụng tranh tụng. Bên cạnh các nguyên tắc tài phán độc lập áp dụng để bố trí cho các Thẩm phán không chuyên nghiệp tham gia vào tiến trình tố tụng hình sự (Điều 108), nguyên tắc truy tố hợp pháp, nguyên tắc truy tố là bắt buộc (Điều 112), tố tụng hình sự Italia quy định nguyên tắc quyền độc lập và tự quyết của Thẩm phán (Điều 101 và Điều 104), nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 27). Một sổ nguyên tắc quan trọng thể hiện đặc trưng của mô hình TTHS Italia thể hiện ở các vấn đề về đưa chứng cứ và đánh giá chứng cứ, bí mật điều tra, sự chuyển đổi hồ sơ vụ án.

Về vấn đề chứng cứ, Luật tố tụng hình sự quy định quyền bình đắng giữa các bên trong việc đưa ra chứng cứ (Công tố viên và các bên cá nhân), Thẩm phán phải tiếp nhận các chứng cứ đó trừ những chứng cứ bị pháp luật cấm, những chứng cứ rõ ràng là không cần thiết hoặc chứng cứ không thích hợp. Chứng cứ phải được các bên tham gia tố tụng trình bày trước mặt Thẩm phán. Trong quyết định của mình, Thẩm phán phải đưa ra những lý do cho cả kết quả thu được từ chứng cứ và tiêu chuẩn được chấp nhận trong việc đánh giá giá trị của chứng cứ. Thẩm phán không được dựa trên những chứng cứ được thu thập một cách bất hợp pháp hoặc chứng cứ trái pháp luật (như thu thập được bằng những biện pháp gian dối của thám tử hoặc chuyên gia giám định ma túy) nhưng Thẩm phán có thể bị thuyết phục bởi những chứng cứ đạt được một cách hợp pháp.

Đối với sự tồn tại của hồ sơ vụ án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, trước Bộ luật tố tụng hình sự 1988, các kết quả của quá trinh thẩm vấn sơ bộ được tập hợp trong hồ sơ truy tố và được đệ trình lên Thẩm phán Tòa án trước khi xét xử. Phiên toà xét xử phải trên cơ sở những hướng dẫn cơ bản của hồ sơ này và những yếu tố trong hồ sơ truy tố cùa Công tố viên cấu thành các bằng chứng phục vụ cho việc truy tố. Bộ luật tố tụng hình sự 1988 đã bãi bỏ hệ thống này và đòi hỏi tất cả các bằng chứng phải được trình bày trước Tòa án, trước Thẩm phán xét xử (là người phải ước lượng và đánh giả chúng trên cơ sở sáng kiến của các bên và sự đổi chất giữa họ). Hồ sơ truy tố không được phép dùng trong giai đoạn xét xử mà chi được sử dụng trong giai đoạn xét xử sơ bộ, giai đoạn quyết định có tiến hành xét xử vụ án hay không. Tuy nhiên, nếu người phạm tội bị buộc tội và xét xử thì hồ sơ truy tố có thể không được chuyển giao cho Thẩm phán xét xử, đó là trường hợp sử dụng hồ sơ truy tổ để giải quyết vụ án theo một trong những thủ tục đặc biệt như thủ tục rút gọn, thủ tục pattagiamento và các lệnh hình với sự đồng ý của bị cáo. Nguyên tắc tất cả các chứng cứ phải được đưa ra trong giai đoạn xét xử cũng có thể bị loại trừ bởi Thẩm phán (nguyên tắc incidente probatorio).

Trong quá trình giải quyết vụ án, cơ quan công tố và Công tố viên đóng vai trò quan trọng. TTHS Italia quy định nguyên tắc "mặc nhiên” truy tố xuất phát từ quan điểm Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ cộng đồng chống lại tội phạm và độc quyền truy tố đối với các vụ án hình sự, coi truy tố hình sự là một nhiệm vụ công, do vậy cần loại trừ việc truy tố hình sự bởi các bên cá nhân, ngăn chặn tư tố. Công tố viên có nhiệm vụ mặc nhiên truy tố kề cả khi không có sự tố cáo và thậm chí, việc truy tố là trái với ý muốn của nạn nhân trừ một số tội phạm được pháp luật quy định chỉ có thể bị truy tố theo khiếu nại của nạn nhân, hoặc theo sự uỷ quyền của Quốc hội (Điều 68 Hiến pháp) hoặc theo yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền. Khiếu nại của người bị hại được uỷ quyền cho Công tố viên để truy tố (sự ủy quyền này không phải là nghĩa vụ).

Tuy nhiên việc truy tố phải hợp pháp. Công tô viên có nhiệm vụ truy tố vụ án ra trước Tòa án theo Điều 122 Hiến pháp khi có đủ cơ sở nghi ngờ một người đã thực hiện

hành vi phạm tội. Quyết định này được đưa ra sau khi điều tra sơ bộ và công tố viên cho rằng điều đó là cần thiết. Pháp luật tố tụng hình sự của Italia không cho phép áp dụng "nguyên tắc cơ may" cho phép công tố viên bãi bỏ lời buộc tội theo quyền tự quyết của mình và không cho phép mặc cả thú tội. Tuy nhiên, trên thực tế nguyên tắc cơ may là một yếu tố phát triển của hệ thống tư pháp hình sự của Italia bởi vì công tố viên không có thời gian để giải quyết tất cả các tội phạm được báo cáo lên và do đó chỉ chọn điều tra những vụ án về phương diện xã hội có vẻ thích hợp hơn. Các thoả thuận giữa công tố viên và bị cáo có thể được cho phép trong một giới hạn nhất định. Sự áp dụng "nguyên tắc cơ may" có thể có ích nhằm làm giảm lượng công việc quá tải của thẩm phán và công tố viên nhưng điều đó mang lại những rủi ro có thể mở ra những khe hở để lạm dụng. Những vụ án hình sự khác đuợc giải quyết bằng cách đình chỉ, bãi bỏ, đình chỉ về giới hạn thời gian hoặc áp dụng các biện pháp khoan dung (ân xá).

II. CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG

1. Cơ quan tiến hành tố tụng

a. Toà án: Hệ thống Toà án của Italia gồm: Toà án Hiến pháp và hệ thống toà án tư pháp. Hệ thống Toà án tư pháp chia thành 5 lĩnh vực: hình sự, dân sự, thuế, hành chính và kiểm toán.

Hệ thống toà án về hình sự gồm có các toà án do thẩm phán không chuyên đảm nhiệm (xét xử những vụ việc tranh chấp đơn giản và những vụ án vi cảnh nhằm mục đích bảo đảm trật tự ở địa phương), Toà án sơ thẩm, Toà án khu vực (phúc thẩm) và Toà phá án tối cao. Đối với những vụ án xét xử sơ thẩm thì do một thẩm phán chủ trì (những vụ án nhỏ) hoặc một hội đồng thẩm phán chủ trì (đối với những vụ án phức tạp hơn). Tổng số có 26 toà án phúc thẩm và 165 toà án sơ thẩm trên toàn lãnh thổ Italia.

b. Cơ quan Công tố: Italia không tổ chức Cơ quan Công tố độc lập theo cấp hành chính, mà cơ quan này nằm ngay trong Toà án các cấp và Cơ quan Công tố chịu trách nhiệm chính trong hoạt động điều tra và chỉ đạo điều tra. Các Văn phòng Công tố nhà nước được tổ chức tại Toà án các cấp. Tại Toà án tối cao có Tổng công tố viên trưởng, tại Toà án cấp phúc thẩm và sơ thẩm có các Văn phòng Công tố nhà nước. Công tố viên là người chỉ đạo toàn bộ hoạt động điều tra, chỉ đạo lực lượng cảnh sát tư pháp trong hoạt động điều tra. Hoạt động của Công tố viên mang tính độc lập cao và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình. Công tố viên là người quyết định truy tố người phạm tội ra toà và có trách nhiệm đưa các chứng cứ tài liệu chứng minh hành vi phạm tội, người phạm tội tại phiên toà.

Bộ Tư pháp, ngoài chức năng quản lý hành chính nhà nước trong một số lĩnh vực, còn có chức năng quản lý hành chính đối với Toà án và cơ quan Công tố, chủ yếu là cung cấp về cơ sở vật chất và giám sát hoạt động chi tiêu tài chính. Bộ Tư pháp còn có chức năng quản lý nhà nước đối với các trại giam, bao gồm cả bộ phận cải tạo phạm nhân, lực lượng cảnh sát tư pháp bảo vệ trại giam.

c. Cơ quan cảnh sát, lực lượng cảnh sát được tổ chức ở nhiều bộ ngành khác nhau, bao gồm lực lượng Cảnh sát quốc gia thuộc Bộ Nội vụ, Cảnh sát cơ động thuộc Bộ Quốc phòng, Cảnh sát kinh tế thuộc Bộ Tài chính, Cảnh sát kiểm lâm, môi trường thuộc Bộ Nông Lâm và Cảnh sát tư pháp thuộc Bộ Tư pháp. Các lực lượng cảnh sát này có nhiệm vụ giữ gìn trật tự xã hội, phát hiện bắt giữ tội phạm và thực thi các nhiệm vụ điều tra theo sự chỉ đạo của Công tố viên.

Một trong những nguyên tắc tư pháp được Italia đề cao đó là nguyên tắc “độc lập và tự quản” của hệ thống tư pháp. Theo Hiến pháp Italia, cơ quan tư pháp là cơ quan tự quản, độc lập với cơ quan lập pháp và hành pháp. Việc tự quản của hệ thống tư pháp được thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức. Độc lập tư pháp với hành pháp thể hiện ở việc cơ quan hành pháp không can thiệp vào công của toà án và công tố.

d. Hội đồng tối cao pháp viện không phải là cơ quan tiến hành tụng nhưng có vai trò và vị trí biệt quan trọng trong hệ thống cơ quan tư pháp, với nhiệm vụ bảo đảm tính độc lập tư pháp. Điều 105 Hiến pháp Italia trao quyền quản lý thẩm phán và công tố viên cho một cơ quan tự quản là Hội đồng tối pháp viện. Mặc dù có tên gọi khác nhau song đây là mô hình tổ chức xuất hiện rất nhiều ở các nước Châu Âu. Hội đồng tối cao pháp viện có trách nhiệm tuyển dụng, chuyển đổi giữa thẩm phán sang làm nhiệm công tố viên và ngược lại, phát triển nghề nghiệp và áp dụng biện pháp kỷ luật đối với thẩm phán và công tố viên. Hiện nay, Hội đồng tối cao pháp viện có 33 thành viên, trong đó có 3 vị trí đương nhiên: vị trí tịch Chủ Hội đồng là Tổng thống, 2 thành viên đương nhiên khác là Chánh án Toà phá án tối cao và Tổng công tố viên trưởng của Toà phá án tối cao. 30 thành viên còn lại do bầu cử: 10 người do Nghị viện bầu trong phiên họp chung từ các giáo sư luật và luật sư có ít nhất 15 năm kinh nghiệm, 20 người còn lại được bầu chọn từ thẩm phán và công tố viên ở các cấp toà án. Tại cấp địa phương có Hội đồng tư pháp vùng làm nhiệm vụ tư vấn cho Hội đồng tối cao pháp viện về những vấn đề liên quan đến việc đánh giá thẩm phán, công tố viên để bổ nhiệm, tuyển chọn, đào tạo và kỷ luật. Họ cũng có trách nhiệm cung cấp thông tin về quá trình công tác của thẩm phán, công tố viên khi được Hội đồng tối cao pháp viện yêu cầu.

2. Người tiến hành tố tụng

Trong mô hình tố tụng mới, thẩm phán được đề cao vai trò giữ gìn công lý và sự công bằng qua việc tăng thẩm quyền trong các giai đoạn tố tụng, kể cả các quyền trong giai đoạn điều tra, thu thập chứng cứ, cũng như trong giai đoạn xét xử vụ án. Công tố viên được giao trách nhiệm điều tra vụ án, chỉ đạo cảnh sát trong hoạt động điều tra nhằm xác định sự thật khách quan. Nhiệm vụ quan trọng và cơ bản nhất của công tố viên là thực hành quyền công tố tại phiên toà xét xử. Nguyên tắc độc lập tư pháp với lập pháp thể hiện thông qua việc thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật. Nguyên tắc độc lập và tự quản cũng được áp dụng với công tố viên trong phạm vi thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình.

Mô hình tố tụng ở Italia hạn chế phạm vi tuỳ nghi của cảnh sát theo hướng có thời hạn nghiêm khắc. Ví dụ, quy định thời hạn 48 giờ cảnh sát thông báo về tội phạm và chuyển chứng cứ cho công tố viên được sửa đổi là yêu cầu cảnh sát thông báo cho công tố viên “không chậm trễ”. Thêm vào đó, hoạt động điều tra mà cảnh sát có thể thực hiện cũng bị giới hạn, đặc biệt khi họ đã thông báo tội phạm cho công tố viên. Sau khi nhận được thông báo, công tố viên điều hành việc điều tra cùng với sự giúp đỡ của cảnh sát bằng cách tham gia cùng nhóm với cảnh sát để điều hành những hoạt động điều tra nhất định mà cảnh sát không thể thực hiện nếu không có nhóm điều tra này. Mặc dù công tố viên điều hành hoạt động điều tra ngay từ ban đầu và pháp luật quy định công tố viên là một bên tại phiên toà xét xử, Công tố viên Ý vẫn phải có trách nhiệm điều tra các điều kiện và hoàn cảnh mà có thể gỡ tội hoặc có lợi cho bị cáo.

III. LUẬT SƯ BÀO CHỮA

Hiến pháp Ý tuyên bố rằng “mỗi một người đều có quyền phòng vệ không thể bị xâm phạm trong từng giai đoạn của bất kỳ thủ tục tố tụng pháp lý nào.”

Nhằm đạt được mục tiêu của hệ thống phiên toà tranh tụng và đảm bảo sự phù hợp với nguyên tắc hiến pháp mới về tính hợp lý, Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự năm 2000 đã quy định về quyền điều tra của luật sư bào chữa. Quy định về tính hợp lý bổ sung Điều 111(2) Hiến pháp như sau: “mỗi phiên toà cần bảo đảm cho mỗi bên có vị trí công bằng trong việc đưa ra chứng cứ hoặc chứng cứ đối lập trước một thẩm phán không thiên vị”. Luật năm 2000 cũng bổ sung quy định về điều tra của luật sư bào chữa là một cố gắng để bảo đảm rằng các bên “được trang bị công bằng”.

Pháp luật Italia cho phép luật sư bào chữa được quyền tự mình tiến hành điều tra và được tham gia vào các giai đoạn tố tụng hình sự để bào chữa cho người bị tình nghi, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Quyền điều tra của luật sư bào chữa: Bộ luật tố tụng hình sự quy định chi tiết luật sư bào chữa [ii] phải tiến hành điều tra như thế nào và áp dụng những yêu cầu cụ thể cho những hoạt động này. Ví dụ, luật sư bào chữa có thể gặp gỡ và thu thập thông tin của bất kỳ ai có thông tin hữu ích cho cuộc điều tra. Khi luật sư bào chữa gặp gỡ một cách không chính thức với một người, thì phải giới thiệu mình là luật sư bào chữa và phạm vi của cuộc nói chuyện là gì; luật sư có ý định thảo luận vấn đề một cách không chính thức hay không hoặc luật sư có định tìm kiếm tài liệu hoặc lời khai chính thức không; người được hỏi phải tiết lộ cho luật sư biết họ có phải là người bị tình nghi hoặc bị cáo của cùng tội phạm hoặc của tội phạm khác có liên quan hay không; người được hỏi có quyền không trả lời [iii] . Họ không được tiết lộ những câu hỏi của cảnh sát hoặc công tố viên, cũng như những câu trả lời đã đưa ra [iv] .

Trước khi luật sư bào chữa thu thập thông tin từ người bị tình nghi hoặc bị cáo trong cùng giai đoạn tụng, một giai đoạn tố tụng có liên quan, hoặc một tội phạm có liên quan, luật sư phải gửi thông báo cho luật sư của người đó trong thời hạn 24 giờ và luật sư của người đó phải có mặt. Các lời khai hoặc thông tin khác có được bằng cách vi phạm những nguyên này có thể không được sử dụng và thẩm phán phải hướng dẫn luật sư bào chữa về những quy định về quyền và nghĩa vụ phù hợp.

Luật sư bào chữa cũng có quyền thu thập các tài liệu do các nhân viên nhà nước quản lý, đi vào những địa điểm và tiếp cận các đồ vật với mục đích hình thành các cuộc kiểm tra kỹ thuật và khi cần thiết có thể tiếp cận cả những địa điểm không được sử dụng vào mục đích công cộng.

Điều quan trọng nhất là luật sư được phép lập hồ sơ bào chữa, nhờ vậy mà luật sư bào chữa có thể trình bày các kểt quả điều tra của mình trực tiếp với toà án. Trước khi có những thay đổi này, hồ sơ của công tố viên được coi là nơi tiếp nhận bất cứ thông tin nào do luật sư cung cấp.

Quyền bào chữa trong từng giai đoạn tố tụng: Luật sư được tham gia vào quá trình tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự như sau: Trong hoạt động kiểm tra người, Cảnh sát phải thông báo cho người bị kiểm tra về quyền có luật sư có mặt. Luật sư bào chữa phải được thông báo ít nhất trong thời hạn 24 giờ trước khi tiến hành kiểm tra, trừ trường hợp cảnh sát tiến hành kiểm tra trong những tình huống khẩn cấp. Luật sư được quyền có mặt trong quá trình khám xét của nhân viên tư pháp. Ngay sau khi bị bắt và bị giữ, người bị tình nghi có quyền hội ý với luật sư biện hộ trừ khi công tố viên ban hành lệnh tạm ngừng quyền này trong 5 ngày sau khi bắt hoặc giữ [v] . Luật sư bào chữa phải có mặt trong quá trình thẩm vấn và trong phiên xem xét trước khi xét xử.

Luật pháp quy định hai loại lời khai được phép thu thập khi vắng mặt luật sư. Loại đầu tiên là những lời khai tại hiện trường tội phạm hoặc ngay sau khi phát hiện tội phạm và cảnh sát đặt câu hỏi trực tiếp cần thiết cho tiến trình điều tra. Việc trả lời những câu hỏi như vậy có thể không được viết thành văn bản hoặc không được sử dụng (thậm chí là để buộc tội) trừ khi luật sư bào chữa có mặt. Loại thứ hai là những lời khai tự nguyện do người bị tình nghi khai sau khi cảnh sát đã đưa ra lời khuyên là anh ta có quyền có luật sư. Những lời khai này không được sử dụng tại phiên toà như là một phần trong hồ sơ chính của công tố viên, trừ khi vì mục đích buộc tội. Những lời khai này có thể được sử dụng cho mục đích điều tra như việc đánh giá liệu có nên áp dụng các biện pháp phòng ngừa hoặc liệu có nên ban hành lệnh khám xét. Những lời khai này cũng có thể được sử dụng trong các thủ tục đặc biệt.

Pháp luật cấm các biện pháp hoặc kỹ thuật mang tính xâm phạm  “quyền tự do định đoạt” hoặc làm suy giảm, thay thế cho khả năng nhớ và đánh giá thực tế, thậm chí cả khi bị cáo đồng ý với những biện pháp này. Những biện pháp bị cấm gồm thôi miên, sử dụng thuốc, hứa hẹn hoặc đe doạ.

Tại phiên xem xét trước khi xét xử, bị cáo có thể yêu cầu được thẩm vấn. Việc thẩm vấn này được điều chỉnh bởi các nguyên tắc được đặt ra trước đó là cấm những biện pháp và kỹ thuật nhất định, quy định bị cáo được thông báo về quyền giữ im lặng và quyền có luật sư chỉ định. Khi một người trở thành bị cáo, thì cả cảnh sát cũng như công tố viên chỉ được phép hỏi hoặc thẩm vấn người đó trong quá trình thẩm vấn tại toà như phiên xem xét trước khi xét xử hoặc tại phiên toà xét xử chính thức.

Pháp luật Italia đảm bảo cho bị cáo được xét xử bởi một thẩm phán không có định kiến đối với vụ án đó. Ví dụ, khi thẩm phán tham gia vào việc đưa ra một quyết định tại một giai đoạn của tố tụng thì thẩm phán đó không được tham gia với vai trò là thẩm phán trong cùng một vụ án ở giai đoạn khác của tố tụng. Thẩm phán không được tham gia phiên toà xét xử khi thẩm phán đó đã ban hành quyết định tại phiên xem xét trước khi xét xử về việc mở phiên toà trực tiếp đưa ra việc kết tội bằng quyết định hình sự hoặc một quyết định về đơn kháng án chống lại một bản án bác đơn. Mỗi một khiếu nại về thẩm quyền xét xử của thẩm phán được giải quyết một thẩm phán khác và nếu tiếp tục khiếu nại thì vấn đề phải được chuyển cho thẩm phán khác.

Pháp luật bảo đảm tốt hơn sự có mặt của bị cáo và luật sư bào chữa bằng cách cho phép thẩm phán phiên xem xét ban đầu khi họ không có mặt. Luật sư bào chữa có có quyền xem nội dung và sao chụp lại hồ sơ của công tố viên cũng như hồ sơ xét xử. Trên cơ sở kết thúc phiên xem xét ban đầu, hồ sơ bào chữa được đưa vào hồ sơ của công tố viên.

Tại phiên toà, bị cáo được coi như người tự do, trừ trường hợp phải áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn bỏ trốn hoặc có hành vi bạo lực. Bị cáo có quyền tự khai báo tại toà. Nếu công tố viên gọi hỏi bị cáo, bị cáo có thể từ chối theo quyền của mình.

Luật pháp cho phép một bị cáo có quyền thông báo tên không quá hai luật sư theo lựa chọn của mình hoặc có thể có một luật sư  chỉ định từ danh sách của hiệp hội pháp lý hoặc luật sư cung cấp. Chính quyền bang sẽ trả những chi phí pháp cho những bị cáo có hoàn cảnh khó không kể luật sư của họ là chỉ định hay chọn lựa. Tuy nhiên, chính quyền bang sẽ không trả những khoản chi phí này khi bị cáo bị buộc tội về một tội nhẹ trừ khi tội phạm này cùng với hoặc có liên hệ với một tội phạm khác. Bộ luật mới tạo ra vai trò tích cực hơn cho luật sư bào chữa tại phiên toà bởi vì họ phải chịu trách nhiệm trình bày chứng cứ và tiến hành việc kiểm tra trực tiếp và kiểm tra chéo nhân chứng. Thêm vào đó, luật sư bào chữa có quyền năng điều tra lớn hơn và được phép lập hồ sơ bào chữa.

IV.  NGƯỜI BỊ HẠI

Người bị hại trong tố tụng hình sự có thể có hai tư cách: một là, người đưa vụ án ra Tòa dưới hình thức tư tố; hai là, tư cách của một bên dân sự. Luật quy định những loại tội phạm có thể bị truy tố trên cơ sở yêu cầu của người bị hại. Người bị hại có thể khiếu nại lên Công tố viên để ủy quyền truy tố. Khi một vụ án được truy tố theo yêu cầu của người bị hại thì người bị hại có quyền được thông báo về những hoạt động cụ thể trong quá trình giải quyết vụ án, có quyền có luật sư đại diện cho mình. Một người không thể tự thuê luật sư thì được chính quyền bang bồi thường theo luật. Người bị hại được yêu cầu công tố viên cho phép tham gia vào phiên xem xét chứng cứ, nhận thông báo về phiên xem xét chứng cứ và tham gia phiên xem xét chứng cứ khi người bị hại phải kiểm tra nhân chứng. Thêm vào đó, người bị hại có quyền nộp bản thông tin tóm tắt cho toà án và gợi ý các nguồn chứng cứ hoặc điều tra. Nếu người bị hại quyết định trở thành một bên dân sự của vụ án hình sự, họ sẽ được có luật sư đại diện và có cơ hội xuất trình chứng cứ tại toà và tiến hành kiểm tra trực tiếp và kiểm tra chéo nhân chứng.

V. PHƯƠNG PHÁP TỐ TỤNG VÀ VIỆC THỂ HIỆN TRONG TỪNG GIAI ĐOẠN GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ

1. Điều tra sơ bộ

Quá trình điều tra sơ bộ do công tố viên và cảnh sát tiến hành được giữ bí mật (Điều 329). Người bị điều tra không được hỏi về việc khởi tố vụ án và không có quyền được thông báo về sự bắt đầu của tiến trình điều tra sơ bộ chống lại họ. Họ chỉ được nghe về quá trình điều tra này khi nó đã kết thúc. Trong những vụ án mà công tố viên hay cảnh sát phải công khai thừa nhận rằng công tác điều tra sơ bộ đang được tiến hành thì người bị tình nghi và luật sư của họ cũng không có quyền hiện diện trong các hoạt động điều tra (như hoạt động thấm vấn các nhân chứng quan trọng) và không có quyền được thông báo về tiến độ của những hoạt động đó. Việc giữ bí mật của quá trình điều tra sơ bộ kéo dài cho đến khi việc điều tra sơ bộ khép lại hoặc thậm chí cả sau đó nữa nếu công tố viên cho rằng việc đó là cần thiết. Việc giữ bí mật cũng đặt ra những hạn chế nghiêm ngặt đối với hoạt động của báo chí.

Phương pháp tố tụng được sử dụng chủ yếu là phương pháp điều tra thẩm vấn, bao gồm các biện pháp điều tra cụ thể sau đây:

- Biện pháp thẩm vấn được cảnh sát sử dụng để thu thập các thông tin liên quan đến tội phạm. Nếu trong quá trình trao đổi, người bị thẩm vấn tiết lộ những thông tin bất lợi cho chính mình, cảnh sát phải cắt ngang và thông báo cho người đó biết là cuộc điều tra có thể được tiến hành chống lại người đó và anh ta có quyền mời luật sư bào chữa. Các lời khai được đưa ra trước khi có thông báo này có thể không được sử dụng chống lại người khai, nhưng có thể được sử dụng làm chứng cứ chống lại người khác [vi] .

Khi người bị tình nghi từ chối cung cấp thông tin cho cảnh sát, cảnh sát có thể đưa người đó về trụ sở và giữ người đó trong thời hạn thực sự cần thiết để xác định thông tin về họ. Cảnh sát phải thông báo cho công tố viên về hoạt động này và nếu công tố viên thấy rằng không cần thiết giữ người này vì mục đích lấy thông tin, công tố viên ra lệnh cho cảnh sát thả người đó. Trước khi cảnh sát đề nghị lấy thông tin khác hữu ích cho cuộc điều tra tội phạm từ người bị tình nghi, cảnh sát phải yêu cầu người này đưa tên của luật sư bào chữa hoặc thông báo cho họ biết là có luật sư chỉ định. Cảnh sát phải thông báo cho luật sư bào chữa về nghĩa vụ có mặt trong quá trình thẩm vấn. Nếu người bị tình nghi không đưa tên của luật sư, cảnh sát thực hiện thủ tục mời luật sư bào chữa cho họ [vii] . Người bị tình nghi phải được nhận thông báo quyền được giữ im lặng và cảnh sát phải chuẩn bị biên bản xét hỏi.

Khi công tố viên đã nhận trách nhiệm điều tra vụ án, việc xét hỏi của cảnh sát có thể chỉ được tiến hành cùng với công tố viên [viii] . Tại cuộc thẩm vấn, người bị tình nghi được thông báo là luật sư sẽ được chỉ định để giúp đỡ anh ta, hoặc anh ta có thể tìm luật sư bào chữa của riêng mình. Công tố viên phải tạo điều kiện ít nhất là 24 giờ để thông báo cho luật sư, trong trường hợp thực sự khẩn cấp và có lý do để tin rằng bất kỳ sự trì hoãn nào cũng có thể gây thiệt hại cho việc khám xét hoặc việc bảo vệ an toàn nguồn chứng cứ thì công tố viên phải thông báo cho luật sư bào chữa ngay lập tức [ix] . Công tố viên phải trình bày rõ lý do của việc này.

-                 Biện pháp bắt, giữ, trước khi công tố viên tiếp nhận việc điều tra, cảnh sát có thể thực hiện việc bắt, giữ theo quan điểm riêng của họ. Cảnh sát phải bắt bất cứ người nào bị phát hiện phạm tội quả tang, đang thực hiện một tội phạm hoặc vừa hoàn thành một tội phạm do cố ý trong những tội phạm nghiêm trọng nhất định. Sau khi cảnh sát đã thông báo cho công tố viên về tội phạm đó [x] ,  cảnh sát tiến hành theo sự chỉ đạo của công tố viên trừ khi có nguy cơ người bị tình nghi có thể trốn và không có đủ thời gian chờ ý kiến của công tố viên. Sau khi tiến hành bắt, cảnh sát thông báo ngay cho công tố viên và thông báo cho người bị tình nghi về quyền có luật sư. Trong thời hạn 24 giờ sau khi bắt, giữ người, cảnh sát phải đưa ngay người đó tới công tố viên và chuyển giao những giấy tờ liên quan đến việc bắt, giữ, bao gồm giấy uỷ quyền luật sư với tư cách cá nhân, ngày, thời gian và địa điểm bắt, giữ và bản giải thích các lý do bắt, giữ.

Trước khi mở phiên xem xét phê chuẩn việc bắt, giữ, công tố viên có thể thẩm vấn người bị bắt giữ sau khi đã gửi thông báo về thời gian thẩm vấn cho luật sư biện hộ. Bộ luật quy định quyền này cho công tố viên thực hiện khi cần thiết để đánh giá tính hợp pháp của việc bắt, giữ hoặc để tiếp tục điều tra [xi] . Ngay sau khi bị bắt và bị giữ, người bị tình nghi có quyền hội ý với luật sư biện hộ trừ khi công tố viên ban hành lệnh tạm ngừng quyền này trong 5 ngày sau khi bắt hoặc giữ [xii] . Trên thực tế người bị tình nghi phải được tham dự phiên xem xét ban đầu trong thời hạn 48 giờ sau khi bị bắt hoặc giữ nên công tố viên chỉ có thể ngừng quyền hội ý với luật sư của người bị tình nghi tối đa là 2 ngày.

-               Đối với biện pháp giam giữ có tính chất ngăn ngừa [xiii] . Biện pháp này được áp dụng cả trong trường hợp chưa bị buộc tội chính thức. Pháp luật cho phép áp dụng biện pháp này trong những trường hợp sau: (a) Cuộc điều tra có nguy cơ bị cản trở bởi việc sửa chữa hoặc phá huỷ chứng cứ; (b) Có nguy cơ là bị cáo hoặc người bị tình nghi sẽ trốn; hoặc (c) Có nguy cơ là bị cáo hoặc người bị tình nghi sẽ thực hiện một tội phạm có tính bạo lực hoặc một tội phạm khác tương tự với tội đang được điều tra.

Chỉ thẩm phán mới có quyền áp dụng biện pháp giam giữ có tính ngăn ngừa, trên cơ sở đề nghị của công tố viên và khi có một trong những trường họp nêu trên. Biện pháp nghiêm khắc nhất hạn chế tự do của con người là tạm giam trong nhà tù. Để thay thế cho việc giam giữ trong nhà tù, pháp luật cho phép thẩm phán áp dụng biện pháp giữ tại nhà [xiv] , cấm đi ra ngoài đất nước, hoặc yêu cầu báo cáo cá nhân cho nhân viên cảnh sát vào thời gian quy định. Để giải quyết vấn đề bạo lực gia đình, thẩm phán hiện nay có thể ban hành một lệnh hạn chế đặc biệt để đảm bảo an toàn cho người bị hại bằng cách yêu cầu bị cáo phải sống xa gia đình.

Một trong các quyết định sau đây phải được ban hành trong thời gian này: thẩm phán của phiên xem xét trước khi xét xử ban hành mức ràng buộc của bị cáo đối với phiên toà, thẩm phán ban hành quyết định cho phép giải quyết vụ án bằng một phiên toà rút gọn hoặc giải quyết án bằng thoả thuận của các bên [xv] .  Hết thời hạn này, toà án sơ thẩm phải quyết định việc có tội hoặc vô tội của bị cáo.

- Biện pháp kiểm tra người: Chỉ công tố viên hoặc thẩm phán có thể tiến hành kiểm tra người. Trong trường hợp khẩn cấp thì cảnh sát có thể tiến hành biện pháp này nhưng chỉ được thực hiện một số cách quan sát nhất định liên quan đến bề ngoài của người bị tình nghi.

- Biện pháp khám xét: Việc khám xét cần phải có lệnh của nhân viên tư pháp, thẩm phán hoặc công tố viên với “những cơ sở chắc chắn” để tin rằng có những chứng cứ phù hợp và bị cáo có thể được phát hiện ở một địa điểm nhất định [xvi] . Tuy nhiên trong “trường hợp khẩn cấp” là khi một người bị bắt khi đang thực hiện tội phạm (phạm tội quả tang) hoặc trốn trại giam thì cảnh sát có thể tiến hành khám xét người hoặc địa điểm mà không cần có lệnh ngay. Ngay lập tức hoặc chậm nhất là trong thời hạn 48 giờ sau khi khám xét không có lệnh, cảnh sát phải thông báo cho công tố viên về việc bắt và cung cấp biên bản viết về cuộc khám xét. Công tố viên xem xét việc phê chuẩn lệnh khám xét trong vòng 48 giờ. Ngoài ra, ở Ý có một hệ thống “luật đặc biệt” mở rộng khả năng của cảnh sát trong việc khám xét và kiểm tra một cách tuỳ nghi, theo yêu cầu bảo đảm và bảo vệ an toàn xã hội. Luật An toàn xã hội cho phép cảnh sát khám xét bất kỳ địa điểm nào không cần lệnh nếu cho rằng địa điểm đó có vũ khí, đạn dược hoặc chất nổ, thậm chí niềm tin của họ chỉ dựa trên chứng cứ gián tiếp. Vì vậy, điều kiện cho phép khám xét theo luật đặc biệt không khắt khe như điều kiện của việc bắt giữ. Trong thời hạn chậm nhất là 48 giờ sau khi khám xét, cảnh sát phải thông báo cho công tố viên và công tố viên cũng có 48 giờ để phê chuẩn việc kiểm tra, khám xét hoặc thu giữ. Luật Phòng ngừa âm mưu cướp tống tiền và những tội phạm nghiêm trọng khác gây nguy hiểm cho xã hội cho phép cảnh sát khám xét xe cộ và những phương tiện giao thông khác (như xe con và xe tải), hành lý và những đồ cá nhân khác [xvii] trong quá trình chuộc người bị bắt cóc, tìm vũ khí, đạn dược, chất nổ, tiền tệ hoặc những đồ vật có giá trị khác là đối tượng hoặc phát sinh từ những tội phạm âm mưu cướp, tống tiền và những tội phạm khác có liên quan, tội rửa tiền, cướp gây hậu quả nghiêm trọng, tống tiền gây hậu quả nghiêm trọng, bắt cóc với mục đích tống tiền, và tội phạm có hành vi sử dụng tiền hoặc những vật có giá trị khác có được một cách phi pháp vào việc làm ăn kinh tế và đầu tư. Luật liên quan đến ma tuý và các chất hướng thần - ngăn ngừa, chữa trị và cải tạo người nghiện ma túy cho phép thực thi việc khám xét phương tiện giao thông, hành lý vi tư trang nhân khi cảnh sát có “căn cứ chắc chắn” để tin rằng họ sẽ tìm thấy ma tuý trái phép. Ngoà ra, những yêu cầu khác về trường hợp khẩn cấp và có mục đích ngăi ngừa tội phạm cũng được áp dụng để khám xét tìm ma tuý.

- Biện pháp điều tra bằng nghe lén điện thoại cho phép quản lý và ghi âm các cuộc đàm thoại trong việc điều tra các tội phạm có mức án từ chung thân, những tội liên quan đến ma tuý, vũ khí hoặc chất nổ và buôn lậu. Pháp luật quy định công tố viên có quyền ra lệnh nghe lén điện thoại mà không cần quyết định của thẩm phán nếu việc trì hoãn sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc điều tra. Trong những tình huống khẩn cấp này, công tố viên phải xin phê chuẩn của thẩm phán trong 24 giờ, nếu thẩm phán không phê chuẩn lệnh của công tố viên trong thời hạn 24 giờ thì việc nghe lén điện thoại được coi là không hợp pháp và các kết quả của việc này sẽ không được sử dụng.

- Thu giữ: Thu giữ cũng được coi là một biện pháp điều tra tìm kiếm chứng cứ do cảnh sát thực hiện khi thấy cần thiết. Trong thời hạn 48 giờ sau khi thu giữ, cảnh sát phải chuyển biên bản viết về việc thu giữ cho công tố viên để phê chuẩn.

- Biện pháp nhận dạng: Cảnh sát có thể sử dụng biện pháp thẩm tra nhận dạng người bị tình nghi bằng các phương pháp dấu vân tay, ảnh và những biện pháp khác để xác định cả người và đồ vật. Công tố viên điều hành tiến trình nhận dạng trước khi xét xử nếu thấy cần thiết cho quá trình điều tra [xviii] . Khi công tố viên tiến hành nhận dạng, luật không yêu cầu luật sư bào chữa phải có mặt [xix] cũng như phải có biên bản tố tụng. Nói chung, pháp luật khuyến khích việc nhận dạng nên được tiến hành tại phiên toà. Tuy nhiên, khi có trường hợp khẩn cấp mà không thể chờ đến khi mở phiên toà [xx] , thẩm phán có thể tiến hành biện pháp này tại phiên xem xét chứng cứ, trên cơ sở đề nghị của công tố viên hoặc người bị tình nghi [xxi] . Mặc dù Bộ luật chấp nhận hệ thống phiên toà tranh tụng, việc nhận dạng phải được tiến hành bởi thẩm phán, phân biệt giai đoạn tụng này với việc lấy lời khai qua quá trình xét hỏi trực tiếp và kiểm tra chéo nhân chứng. Luật sư bào chữa phải có mặt tại buổi nhận dạng tại phiên toà hoặc tại phiên xem xét chứng cứ.

Nhìn chung các biện pháp điều tra, biện pháp ngăn chặn được sử dụng trong giai đoạn này do cảnh sát thực hiện dưới sự chỉ đạo của công tố viên. Công tố viên có vai trò chỉ đạo hoạt động điều tra. Một số biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc như giam giữ có tính chất ngăn ngừa, khám xét đòi hỏi phải có lệnh của thẩm phán trên cơ sở đề nghị của Công tố viên. Đối với biện pháp bắt giữ người, công tố viên phải thông báo cho thẩm phán điều tra ban đầu, người sắp xếp phiên xem xét quyết định việc phê chuẩn bắt và áp dụng biện pháp phòng ngừa.

Sau khi quyết định khởi tố vụ án hình sự, công tố viên đề nghị thẩm phán điều tra ban đầu tiến hành một trong những công việc sau: mở phiên xem xét trước khi xét xử để xác định chứng cứ có đầy đủ để mở phiên toà xét xử hay không, định tội danh hoặc tiến hành một trong những thủ tục đặc biệt như các biện pháp thay thế tại phiên toà.

Trên cơ sở kết luận của giai đoạn điều tra ban đầu, công tố viên phải xác định có đủ chứng cứ để truy tố một người ra toà để xét xử hay không hoặc bác bỏ việc buộc tội. Nếu thẩm phán từ chối đề nghị bác bỏ vụ án của Công tố viên, thẩm phán phải mở phiên xem xét trước khi xét xử. Thẩm phán cũng có thể ra lệnh cho công tố viên tiến hành điều tra tiếp và định ngày kết thúc việc điều tra tiếp theo này.

2. Phiên trình diện ban đầu (phiên xem xét trước khi xét xử)

Phiên xem xét này do một thẩmphán điều tra ban đầu tiến hành. Mục đích chính của phiên xem xét này là xác định tính có thể chấp nhận được của chứng cứ. Những chứng cứ được đưa ra xem xét nếu người cung cấp chứng cứ đó có khả năng không thể tham dự phiên tòa hoặc chứng cứ có thể đã bị sai lệch hoặc giả mạo. Thẩm phán có thể cũng điều hành việc nhận dạng một người tại phiên xem xét chứng khi có yêu cầu khẩn cấp. Bộ luật quy định trong trường hợp này phải có sự có mặt của cả công tố viên và luật sư bào chữa. Người bị tình nghi không cần phải có mặt trừ khi sự có mặt của họ là cần thiết để tiến hành một thủ tục bắt buộc. Thẩm phán có thể ra lệnh bắt buộc người bị tình nghi phải có mặt.

Mục đích của giai đoạn tin xét xử là chắt lọc ra những vụ án khó có thể buộc tội được bị cáo. Giai đoạn này được coi như cầu ni giữa giai đoạn điều tra và xét xử đi với nhng vụ án được đưa ra toà xét xử. Việc này cũng giúp đánh giá liệu vụ án có thể được giải quyết tốt hơn ở một trong những thủ tục tố tụng đặc biệt theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hay không.

Công tố viên và luật sư bào chữa mỗi bên được phép trình bày quan điểm đối đáp một lần. Nếu trong quá trình diễn biến của phiên xem xét ban đầu có vẻ như việc buộc tội không phù họp với thực tế đã trình bày, công tố viên có thể sửa đổi việc buộc tội.

Nếu tin rằng nội dung vụ án đã trình bày không đủ để quyết định việc đề nghị đưa vụ án ra xét xử, thẩm phán rút khỏi phiên xem xét trước khi xét xử để đánh giá về đề nghị này của công tố viên. Sau đó, thẩm phán có thể chỉ ra cho các bên biết về những vấn đề cần điều tra bổ sung hoặc chưa hoàn thiện, định ngày kết thúc cho những công việc này. Cùng với việc gợi ý về những vấn đề cần điều tra bổ sung, thẩm phán xem xét ban đầu có thể đưa ra chứng cứ mà họ cho rằng có tác dụng củng cố cho quyết định không tiếp tục tiến hành tố tụng. Trên cơ sở kết luận của phiên xem xét ban đầu, thẩm phán nghị án ngay và công bố quyết định ngừng các thủ tục tố tụng hoặc đưa bị cáo ra xét xử [xxii] . Quyết định ngừng các thủ tục tố tụng là một sự tha bổng quan trọng. Thẩm phán  được phép quyết định ngừng các thủ tục tố tụng khi thiếu bất cứ điều kiện nào để tiến hành xét xử.

Có 5 thủ tục đặc biệt cho các biện pháp thay thế tại phiên toà và những cơ chế khác nhằm thực hiện tốt quá trình tố tụng hình sự và tạo điều kiện thuận lợi cho toà án. Hai trong những thủ tục này cho phép thẩm phán áp dụng hình phạt mà không cần xét xử trên cơ sở đề nghị của các bên và phiên toà rút gọn. Hai thủ tục khác không qua giai đoạn xem xét ban đầu có thể đưa bị cáo xét xử ngay. Đây là những thủ tục được gọi là xét xừ trực tiếp và xét xử ngay. Thủ tục thứ năm là quyết định hình phạt, cho phép áp dụng hình phạt tiền được giảm đến 1,5 lần mà không cần có phiên xem xét ban đầu hoặc phiên toà xét xử.

3. Phiên toà xét xử chính thức

Khi vấn đề không được giải quyết bởi một trong những thủ tục đặc biệt hoặc bác đơn, vụ án được đưa ra xét xử. Tại giai đoạn này công tố viên phải nộp hồ sơ cho tòa án. Luật sư bào chữa có quyền xem nội dung và sao chụp lại hồ sơ của công tố viên cũng như hồ sơ xét xử của Toà án. Công tố viên có thể xem hồ sơ bào chữa và sao chụp tài liệu trong hồ sơ điều tra của luật sư bào chữa. Trên cơ sở kết thúc phiên xét

 
 


 xét ban đầu, hồ sơ bào chữa được đưa vào hồ sơ của công tố viên.

Phiên toà bắt đầu bằng việc công tố viên đưa ra chứng cứ. Lời khai được trình bày trực tiếp và được kiểm tra chéo do các bên thực hiện. Thẩm phán chủ toạ có thể hỏi nhân chứng nhưng không được phép đưa ra những câu hỏi gợi ý. Thẩm phán chủ toạ được phép cân nhắc các nguồn chứng cứ bổ sung nếu xác định rằng đây là việc hoàn toàn cần thiết vì Toà án Hiến pháp xác định rằng các thủ tục tranh tụng không thay thế mục đích của phiên toà là tìm ra sự thật khách quan. Mục đích này là quan trọng nhất và một thẩm phán công bằng phải chịu trách nhiệm đảm bảo rằng sự thật khách quan sẽ được phát hiện tại phiên toà. Sau khi trình bày tất cả chứng cứ, công tố viên và luật sư của các bên dân sự trình bày những lập luận cuối cùng của mình; bị cáo và luật sư của bị cáo đưa ra lời nói sau cùng. Toà án nghị án ngay tại cuối phiên xử. Bản án và mức án (nếu có bản án có tội) phải trên cơ sở đa số phiếu mà mỗi thẩm phán, bắt đầu với người cấp thấp nhất tuyên bố ý kiến bỏ phiếu và lý do cho việc bỏ phiếu của mình. Trong trường hợp kết quả bỏ phiếu tương đương nhau, quyết định có lợi nhất cho bị cáo được coi là kết quả cuối cùng.

Tài liệu tham khảo

1. Hiến pháp Italia.

2. Bộ luật tố tụng hình sự Italia 1989.

3. Craig M. Bradley, Tố tụng hình sự- nghiên cứu toàn cầu, xuất bản lần thứ 2 năm 2007.

4. Giulio Illuminati, Bước chuyển căn bản sang tố tụng tranh tụng ở Ỷ (Bộ luật tố tụng hình sự Ỷ năm 1988), Washington University Global studies Law Review số 4 năm 2005.

5. Báo cáo số 03-BC/CCTP ngày 20/5/2009 của Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương báo cáo kết quả khảo sát nghiên cứu về cải cách tư pháp tại Vương quốc Anh và Cộng hoà Italia. 

6. Ennio Amodio và Eugenio Selvagg Hệ thống buộc tội trong Đất nước theo truyền thống Luật dân sự - Bộ luật tố tụng hình sự Italia (An Accusatorial System in a Civil Law Country-The 1988 Italian Code of Criminal Procedure), Temple Law Review số 62 năm 1989.

7. Ennio Amodio, Hệ thống buộc tội Được và mất trong cải tổ tố tụng hình sự tại Italia (The Accusatorial System lost and regained: reforming criminal procedure in Italy), American Journal of Comparative Law, vol. 52 Spring 2004.

8. William T. Pizzi và Luca Marafioti Luật tố tụng hình sự mới: Những khó khăn trong việc xây dựng một hệ thống xét xử tranh tụng trên nền tảng truyền thống luật dân sự (The new Italian Code of Criminal Procedure: the difficulties of building an adversarial trial system on a civil law foundation), Yale Journal of Intenational Law, vol. 17 Winter 1992.



[i]   C.P.P. Điều 506 (nhưng việc này chỉ có thể xảy ra sau khi các bên hỏi trực tiếp và kiểm tra chéo).

[ii] Các điều luật này bao gồm cả luật sư bào chữa, trợ lý của luật sư cũng như thám tử tư và trợ giúp kỹ thuật làm việc cùng với luật sư bào chữa (Điều 391bis (1) Bộ luật tố tụng hình sự Italia).

[iii] Trong trường hợp mà người được luật sư hỏi từ chối trả lời thì trong vòng 7 ngày luật sư bào chữa có thể yêu cầu Công tố viên tiến hành phiên xem xét người đó cũng như người không phải là người bị tình nghi hoặc bị cáo trong cùng giai đoạn tố tụng hoặc ở giai đoạn tố tụng khác (Điều 391bis (10) Bộ luật tố tụng hình sự Italia). Thay vào đó, luật sư bào chữa có thể đề nghị Thẩm phán điều tra tiến hành một phiên xem xét tiền xét xử để hỏi người đó (Điều 391bis (11) Bộ luật tố tụng hình sự Italia).

[iv] Thực sự, luật sư bào chữa bị cấm hỏi về những câu hỏi của cảnh sát hoặc công tố viên (Điều 391bis (4) Bộ luật tố tụng hình sự Italia).

[v] Theo Điều 104 (4) Bộ luật tố tụng hình sự Italia (đoạn 3), thẩm quyền này được thực hiện trong quá trình điều tra ban đầu trên cơ sở đề nghị của Công tố viên. Tuy nhiên, ngay sau khi người bị tình nghi bị bắt hoặc giữ, công tố viên chỉ có quyền này cho đến khi người bị tình nghi được đưa đến tòa.

[vi] Cass. Sez. I, La Placa, 17/3/2000. Quyết định này cũng khẳng định rằng các lời khai của người này có thể được sử dụng sau khi cảnh sát đưa ra thông báo.

[vii] C.P.P. điều 97(3). (luật sư chỉ định là trong danh sách luật sư bào chữa. Điều 97(4) cho phép luật sư chỉ định thay thế khi luật sư được chỉ định trước đây không có mặt và luật sư bào chữa được yêu cầu cho thủ tục hoặc hoạt động cụ thể. Người luật sư thay thế này có thể là bất kỳ luật sư bào chữa nào mà sẵn sàng làm việc ngay.

[viii] Theo Điều 65 Bộ luật tố tụng hình sự Italia (những nhân viên tư pháp có thể thẩm vấn người bị tình nghi và bị cáo), Điều 370 quy định rằng công tố viên có thể kết hợp với cảnh sát thực hiện những “hoạt động” nhất định bao gồm cả thẩm vấn.

[ix] Điều 364 (5) Bộ luật tố tụng hình sự Italia. Thậm chí nếu luật sư bào chữa không nhận được thông báo, luật sư cũng có thể có mặt trong cuộc thẩm vấn.

[x] Xem Điều 330 Bộ luật tố tụng hình sự Italia mô tả những phương pháp khác nhau mà công tố viên và cảnh sát có thể tiếp nhận thông tin về tội phạm, Điều 374 yêu cầu cảnh sát chuyển cho công tố viên mọi thông tin về tội phạm.

[xi] Điều 389 (1) cho rằng khi chứng minh rằng việc bắt và giữ có sai sót hoặc không hợp pháp, công tố viên tuyên bố bằng  quyết định văn bản để thả người ngay lập tức.

[xii] Điều 104 (4) Bộ luật tố tụng hình sự Italia quy định. Tuy nhiên, ngay sau khi bị bắt hoặc giữ, công tố viên chỉ có quyền này cho đến khi người bị tình nghi được đưa đến tòa.

[xiii] Điều 272-315 Bộ luật tố tụng hình sự Italia. Thuật ngữ này có thể cũng được giải thích như là biện pháp đề phòng vì thẩm phán quan tâm đến áp dụng những biện pháp này hơn là tạm giam trong tù.

[xiv] Điều 284 Bộ luật tố tụng hình sự Italia, Điều 275 bis được bổ sung cho phép sử dụng các thiết bị điện tử để quản lý những đối tượng này khi áp dụng biện pháp giữ tại nhà.

[xv] Điều 444-448 Bộ luật tố tụng hình sự Italia: Các học giả Ý cũng sử dụng thuật ngữ “mặc cả thú tội” để miêu tả biện pháp thay thế này.

[xvi] Việc này tương tự với điều kiện cho bắt giữ và giam giữ nhằm mục đích ngăn ngừa. Tòa án đã khẳng định rằng mệnh lệnh khám xét có thể không dựa trên có sở chỉ là những nghi ngờ, hơn thế, “phải là những chứng cứ quan trọng chỉ ra sự tương đồng mà đối tượng khám xét sẽ được tìm thấy ở người hoặc ở địa điểm được khám xét” Cass. Sez. V. ord. 98, 23/5/1992

[xvii] Luật chống mafia khác cho phép khám xét các tòa nhà để tìm vũ khí và những người đang trốn lệnh bắt. D.L.8/6/1992, số 306, điều 25 bis.

[xviii]   C.P.P. Điều 361, 370 cho phép công tố viên phối hợp với cảnh sát trong giai đoạn này. Nói chung, cảnh sát có thể không tiến hành điều tra trực tiếp về nhân thân nhưng hiện nay Corte di cassazione cho rằng cảnh sát có thể tiến hành sắp xếp chụp ảnh mà không cần kết hợp với nhân viên tư pháp. Cass. Sez, IV, Faillace, 28/3/2003.

[xix]   Điều 364 cụ thể hóa rằng luật sư bào chữa phải có mặt trong quá trình điều tra, thẩm vấn và đối chất. Tòa án Hiến pháp nghiêng về việc cho rằng Điều 361 là sai hiến pháp vì không yêu cầu sự có mặt của luật sư trong việc điều tra nhân thân. Tòa án viện dẫn lý do là mục đích điều tra nhân thân chỉ có tính chất điều tra với mục đích tìm kiếm chứng cứ. Corte cost. Sent. 265/1991. Corso, trang 1322; Cordero, trang 707.

[xx]   Những ví dụ về trường hợp khẩn cấp là khi cá nhân tiến hành xác định nhân thân của một người hoặc thông tin về đồ vật bị ốm nặng, hoặc có thể bị đe dọa, hoặc bị tấn công ảnh hưởng đến lời khai của họ, hoặc đồ vật, hoặc địa điểm được tìm hiểu là đối tượng của việc xác định bắt buộc. Có một số tình huống mà Bộ luật cho phép nhận lời khai trong phiên xem xét chứng cứ hơn là tại phiên tòa. C.P.P. điều 392(1)(a, b và f);Corso, trang 1428

[xxi]   C.P.P. điều 392(1)(g) Bộ luật tố tụng hình sự Italia. Người bị tình nghi có thể cũng đề nghị mở phiên xem xét chứng cứ. Sách đã dẫn, điều 392(1).

[xxii]   Điều 392(1)(g) Bộ luật tố tụng hình sự Italia: Nếu không thể công bố quyết định ngay , Bộ luật cho phép thẩm phán có 30 ngày tính từ ngày mở phiên xem xét ban đầu để đưa ra quyết định.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi