MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ AUSTRALIA

I. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Tố tụng hình sự Australia là tố tụng hình sự tranh tụng (Adversarial system) nhưng có nhiều đặc điểm riêng biệt. Do xét xử theo án lệ nên hệ thống lưu trữ các vụ án tại các thư viện rất lớn. Nhiều vụ án được xét xử từ thế kỷ 18 vẫn còn được lưu giữ để vận dụng trong xét xử hiện nay. Ưu điểm của việc xét xử theo án lệ là cùng một hành vi, với tính chất, mức độ, hậu quả như nhau thì mức hình phạt cũng phải tương tự nhau cho những bị cáo có nhân thân tương tự. Điều đó làm cho việc xét xử công bằng hơn, tạo niềm tin của người dân vào công lý. Tuy nhiên, không phải bất kỳ vụ án nào cũng được trở thành án lệ mà vụ án phải được Tòa án tối cao phê chuẩn là vụ án mẫu thì mới được áp dụng trong thực tiễn xét xử.

Theo mô hình tố tụng hình sự tranh tụng, vị trí, vai trò, quyền hạn của các bên tham gia tố tụng là khác nhau. Công tố viên là người truy tố bị cáo tại phiên toà nên nghĩa vụ chứng minh trước Toà là trách nhiệm của công tố. Bị cáo không có trách nhiệm chứng minh là mình có hay không thực hiện hành vi phạm tội, họ có quyền không khai báo tại Toà, tuy nhiên họ có quyền khai để bảo vệ quyền lợi của mình. Hoạt động tố tụng chủ yếu là hoạt động tranh tụng trước Tòa án giữa Công tố viên và Luật sư bào chữa, ở đó các bên đưa ra các chứng cứ và kiểm tra chứng cứ của bên kia để chấp nhận hoặc bác bỏ chứng cứ được đưa ra. Công tố viên có nhiệm thông báo cho Thẩm phán và đoàn bồi thẩm về những chi tiết quan trọng của vụ án và pháp luật được áp dụng trong việc đưa ra một phán quyết thích hợp. Thẩm phán và thành viên Bồi thẩm đoàn không trực tiếp tham gia vào quá trình tranh tụng, vai trò của Thẩm phán và Bồi thẩm đoàn là bảo đảm công lý trong giai đoạn này và đưa ra quyết định cuối cùng dựa trên kết quả tranh tụng giữa các bên tại phiên toà.

Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng ở Australia đòi hỏi công tác điều tra phải tỉ mỉ, kỹ càng, khách quan và khoa học. Việc bảo vệ quyền lợi của bị cáo, người bị hại là nguyên tắc, thể hiện sự dân chủ, khách quan và nếu không làm được điều đó là cơ quan tư pháp chấp nhận “thua” tội phạm. Tại phiên toà, các luật sư, trạng sư sẵn sàng bác bỏ dù chỉ là chứng cứ thứ yếu dẫn đến sự nghi ngờ thiếu khách quan.

Mô hình này bắt buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật. Điều tra viên không chỉ làm nhiệm vụ điều tra mà còn phải là nhân chứng để chứng minh hành vi của bị cáo. Hơn nữa, bị cáo không nhất thiết phải khai nhận nếu họ không muốn. Việc buộc tội nhất thiết phải bằng chứng cứ chứng minh có căn cứ pháp lý và khoa học.

Ngoài ra, chi phí cho việc giải quyết vụ án rất tốn kém. Theo quy định của pháp luật, bên nào thua phải chịu chi phí tố tụng, do vậy việc kháng cáo, kháng nghị đều phải tính toán cân nhắc kỹ càng.

Trên cơ sở mô hình tố tụng tranh tụng truyền thống, pháp luật Australia quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự.

II. CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG

1. Tòa án

Hệ thống tổ chức Tòa án của Australia được thành lập theo thẩm quyền của liên bang và tiểu bang. Tại liên bang có Tòa án tối cao liên bang (Hight Court), Tòa án liên bang (Federal Court), Tòa án gia đình và các toà chuyên biệt. Tại tiểu bang có Tòa án thượng thẩm tiểu bang (Supreme Court), Tòa án khu vực (County Court or District Court) và Toà tiểu hình. Ở mỗi bang, tên gọi của các Tòa án có khác nhau (Locaỉ Court, Magistrates Courts or Court of Summary Jurisdiction).

Tòa án tối cao liên bang có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án tranh chấp giữa tiểu bang với tiểu bang hoặc giữa tiểu bang với liên bang; giải thích Hiến pháp và xét xử phúc thẩm những vụ án do Tòa án gia đình, Toà chuyên biệt, Toà liên bang và Toà thượng thẩm tiểu bang chuyển lên. Tòa án tối cao ở Australia chi xét xử những vụ án được xét cho chống án.

Tòa án liên bang có thẩm quyền xử lý các loại việc do luật liên bang quy định. Toà liên bang không xét xử về hình sự và cũng không hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ, nhưng các bản án mà Toà liên bang đã xử là án lệ cho các Tòa án khác.

Toà liên bang xét xử phúc thẩm các vụ án do Tòa án gia đình, các Toà chuyên biệt của liên bang gửi lên và xét xử phúc thẩm những vụ án có kháng án do Toà liên bang xét xử sơ thẩm. Hội đồng xét xử sơ thẩm có một Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm có ba Thẩm phán. Để bảo đảm quyền bình đẳng của công dân được chống án đủ bốn cấp, Toà liên bang còn có thẩm quyền xét xử phúc thẩm những vụ án do Toà thượng thẩm của hai khu tự trị gửi lên vì tại hai lãnh thổ liên bang này không có Tòa án khu vực.

Về nguyên tắc, Tòa án cấp trên không quản lý Tòa án cấp dưới mà chỉ có hướng dẫn rút kinh nghiệm trong hoạt động xét xử.

2. Cơ quan Công tố

Luật công tố Australia được Nghị viện thông qua và có hiệu lực từ ngày 08 tháng 3 năm 1984, đánh dấu nhiều thay đổi quan trọng trong quá trình thực hiện hoạt động công tố của nhà nước Australia. Trên cơ sở luật này, Cơ quan công tố Australia được chính thức thành lập và hoạt động với tư cách là một cơ quan công tố độc lập, thực hiện quyền công tố độc lập đối với các hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Australia. Cơ quan công tố Australia chỉ thực hiện chức năng công tố, không thực hiện hay tham gia vào quá trình điều tra vụ án hình sự cũng như giám sát việc thi hành bản án, hình phạt. Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, cơ quan công tố chỉ tuân theo Hiến pháp, hệ thống luật pháp liên bang và pháp luật tiểu bang cũng như chính sách truy tố của liên bang và tiểu bang.

2.1. Vị trí của cơ quan công tố trong bộ máy nhà nước

Cơ quan công tố Australia trực thuộc Bộ Tư pháp (nằm trong hệ thống cơ quan hành pháp - Bộ pháp do Tổng chưởng lỷ liên bang một Bộ trưởng phụ trách các vấn về tư pháp đứng đầu). Mặc dù nằm trong Bộ Tư pháp song cơ quan công tố Australia luôn có vị trí và hoạt động một cách độc lập. Tính độc 1ập trong hoạt động của cơ quan công tố trong mối quan hệ với Bộ Tư pháp được quy định rõ tại Điều 8 của Luật tổ chức cơ quan công tố: Tổng chưởng lý liên bang có quyền ban hành các hướng dẫn và chỉ thị cho Công tố trưởng của cơ quan công tố về các vấn đề liên quan đến hoạt động thực hiện chức năng của cơ quan công tố. Trước khi ban hành, Tổng chưởng lý - người đứng đầu cơ quan tư pháp - phải tham khảo ý kiến của Công tố trưởng - người đứng đầu hệ thống cơ quan công tố - về các vấn đề đưa ra trong hướng dẫn và chỉ thị đó liên quan tới chức năng, thẩm quyền của Công tố trưởng và hoạt động của cơ quan công tố. Sau đó tất cả hướng dẫn và chỉ thị của Tổng chưởng lý đối với cơ quan công tố phải được công bố trên Công báo và đệ trình lên Thượng viện và Hạ viện trong thời hạn 15 ngày làm việc. Việc quy định về trình tự, thủ tục ban hành các hướng dẫn và chỉ thị của Tổng chưởng lý đối với các hoạt động của cơ quan công tố như trên một mặt đảm bảo tính độc lập của cơ quan công tố trong việc đưa ra các quyết định liên quan tới việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ, mặt khác còn đảm bảo việc thực hiện các chỉ thị và hướng dẫn đối với cơ quan công tố của Tổng chưởng lý liên bang chỉ được thực hiện sau khi các hướng dẫn và chỉ thị đó được hệ thống cơ quan lập pháp Australia chấp nhận thông qua. Điều này khẳng định rằng, việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của cơ quan công tố chỉ tuân theo quy định của pháp luật và cơ quan lập pháp chứ không phụ thuộc vào bất cứ chỉ thị, hướng dẫn hay chỉ đạo nào của hệ thống cơ quan tư pháp (cơ quan cấp trên).

Trên thực tế, Tổng chưởng lý hầu như không tham gia sâu vào hoạt động của cơ quan công tố thông qua việc ban hành các hướng dẫn, chỉ thị cho Công tố trưởng về các vấn đề liên quan tới hoạt động, chức năng và nhiệm vụ của cơ quan công tố. Theo số liệu báo cáo hàng năm cho thấy tính từ khi cơ quan công tố Australia được thành lập từ năm 1984 cho tới cuối năm 2004 chưa có lần nào Tổng chưởng lý áp dụng quy định tại Điều 8 Luật công tố để đưa ra các hướng dẫn và chỉ thị cho Công tố trưởng về việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của cơ quan công tố.

2.2. Cơ cấu tổ chức, bộ máy cơ quan công tố

Cơ cấu tổ chức cơ quan công tố Australia được quy định tại Điều 5 Luật tổ chức cơ quan công tố bao gồm: Cơ quan công tố liên bang và các cơ quan công tố tiểu bang.

- Cơ quan công tố liên bang: Cơ quan công tố liên bang có trách nhiệm thực hiện quyền quản lý hành chính đối với tất cả các cơ quan công tố trên lãnh thổ Australia; phát triển và xây dựng các chính sách và các vấn đề ưu tiên quốc gia; đưa ra chính sách và tư vấn pháp lý cho Công tố trưởng; thực hiện hoạt động công tố đối với các hành vi vi phạm luật pháp liên bang, các hành vi phạm tội xảy ra trong tiểu bang và các vấn đề liên quan tới tài sản phạm tội.

Cơ cấu tổ chức của cơ quan công tố liên bang gồm có 7 vụ, thực hiện các chức năng công tố và nhiệm vụ chuyên môn khác nhau. Các vụ trong Cơ quan công tố liên bang bao gồm:

(1). Vụ quản lý pháp lý và thực tiễn: Chỉ được thành lập ở cơ quan công tố cấp liên bang với nhiệm vụ chuẩn bị đệ trình các vấn đề liên quan tới việc bồi thường cho các nhân chứng trong vấn đề đưa và cung cấp chứng cứ; phát triển và thực hiện các nguyên tắc có hiệu quả nhất trong hoạt động của cơ quan công tố; tư vấn các vấn đề về pháp lý cho các bộ và cơ quan có thẩm quyền theo quy định của luật pháp liên bang.

(2). Vụ thực hành quyền công tố đối với các vụ án thương mại: Thực hiện việc truy tố đối với các hành vi phạm tội vi phạm Luật Tập đoàn kinh doanh (Corporation Act 2001) và Luật về ủy ban chứng khoán và đầu tư Australia (Australian Security and Investment Commission Act) cũng như tất cả các hành vi phạm tội có dấu hiệu lừa đảo liên quan tới nhân tố tập đoàn kinh doanh và các hành vi phạm tội vi phạm Luật kinh doanh thương mại (Trade Practices Act 1974). Do đặc thù và tính chất phức tạp của trong hoạt động truy tố đối với các loại tội phạm này, bên cạnh việc duy trì tính độc lập trong hoạt động thực hành quyền công tố, Vụ thực hành quyền công tố đối với các vụ án thương mại hoạt động chặt chẽ với các cơ quan chuyên trách có liên quan như ủy ban chứng khoán và đầu tư Australia, ủy ban nguời tiêu dùng và cạnh tranh Australia.

(3). Vụ thực hành quyền công tố chung: Có nhiệm vụ thực hiện việc truy tố đối với tất cả các hành vi phạm tội, ngoại trừ các hành vi phạm tội thuộc thẩm quyền truy tố của Vụ thực hành quyền công tố đối với các vụ án thương mại. Giải quyết các vấn đề về thủ tục dẫn độ, các việc Tòa án yêu cầu trên cơ sở đề nghị của các quốc gia khác. Cùng với các nhiệm vụ nêu trên, chức năng chính của Vụ thực hành quyền công tố chung là giải quyết các tranh chấp, chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, tư vấn pháp lý và tiến hành các hoạt động khác cho các cơ quan điều tra.

(4). Vụ các vấn đề về Tài sản phạm tội và Quốc tế: Các Công tố viên của Vụ này phối hợp các cơ quan thi hành pháp luật tiến hành các thủ tục pháp lý để thu hồi, kê biên và sung công các tài sản liên quan tới tội phạm.

(5). Vụ Chính sách: Chỉ thành lập tại cơ quan công tố liên bang, chịu trách nhiệm giúp Công tố trưởng phát triển các chính sách pháp lý liên quan tới chức năng công tố của cơ quan công tố.

(6). Vụ thực hành quyền công tố giải quyết các vụ án về thuế: Tiến hành giải quyết và thực hành quyền công tố đối với tất cả các vụ án về thuế dịch vụ hàng hóa và việc sửa đổi hệ thống thuế bao gồm cả hệ thống luật thuế mới.

(7). Vụ hành chính văn phòng: được tổ chức hoạt động ở tất cả các cơ quan công tố với nhiệm vụ quan trọng là tổ chức thực hiện các hoạt động hành chính ở các cơ quan công tố đó, đảm bảo cho cơ quan công tố hoạt động có hiệu quả; xây dựng và triển khai các chính sách; hướng dẫn về các vấn đề nhằm tạo điều hoạt động công tác tốt cho nhân viên.

- Các cơ quan công tố tiểu bang

Về mặt địa lý, lục địa Australia được chia thành 6 tiểu bang (gồm tiểu bang New South Wales, Victoria, Queensland, South Australia, Westem Australia và Tasmania) và 2 khu vực chính (khu vực lãnh thổ phía bắc - Northern Territory và khu vực thủ đô - Australia Capital Terrritory). Trên cơ sở phân định địa giới hành chính nêu trên, hệ thống cơ quan công tố cấp tiểu bang được thành lập, mỗi tiểu bang đều có một cơ quan công tố. Đứng đầu mỗi cơ quan công tố tiểu bang là một Phó Trưởng công tố liên bang (có thể gọi là Công tố trưởng tiểu bang), người có trách nhiệm chỉ đạo các hoạt động công tố trong phạm vi khu vực tiểu bang đó.

Về cơ cấu tổ chức của cơ quan công tố cấp tiểu bang, mỗi cơ quan công tố được thành lập 4 phòng: Phòng thực hành quyền công tố chung, Phòng thực hành quyền công tố các vụ án thương mại, Phòng các vấn đề về tài sản phạm tội và Phòng hành chính - văn phòng. Các phòng này đều thực hiện chức năng và nhiệm vụ như các Vụ tương ứng trên cơ quan công tố cấp liên bang. Tuy nhiên riêng ở 2 tiểu bang Victoria và tiểu bang New South Wales là những trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng của Ausstralia, cơ quan công tố của 2 tiểu bang này được phép thành lập thêm 2 phòng là: Phòng thực hành quyền công tố giải quyết các vụ án về Thuế và thêm một Phòng thực hành quyền công tố chung.

Bên cạnh những đặc điểm chung nói trên, cơ quan công tố cấp tiểu bang của Australia cũng có một số đặc trưng riêng về cơ cấu tổ chức, cụ thể như: Tại tiểu bang Queensland, ngoài cơ quan công tố chính còn thành lập thêm 2 cơ quan công tố khác đều thuộc quyền quản lý của Phó Trưởng công tố tiểu bang. Tại khu vực lục địa bắc (Northern Territory) và tiểu bang Tasmania, trước đây cơ quan công tố của hai tiểu bang này hoạt động trên danh nghĩa của cơ quan công tố liên bang, dưới sự chỉ đạo, điều hành của Luật sư chính phủ. Ngày nay, hai đơn vị này đã trở thành một bộ phận chính thức của cơ quan công tố liên bang. Tuy nhiên người đứng đầu cơ quan công tố tại hai khu vực hành chính này không phải là Phó trưởng công tố liên bang mà là hai Trợ lý Công tố trưởng cơ quan công tố liên bang, thay mặt Công tố trưởng cơ quan công tố liên bang thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được ủy quyền.

2.3. Vai trò của cơ quan công tố

Cơ quan công tố chỉ có thể tiến hành hoạt động công tố khi có các vụ việc được các cơ quan điều tra có thẩm quyền tiến hành điều tra. Tuy không tham gia vào bất cứ hoạt động điều tra nào nhưng trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ, Cơ quan công tố và cơ quan điều tra cũng có sự phối hợp chặt chẽ với nhau. Sự phối hợp này thể hiện ở chỗ, trong quá trình điều tra vụ án, đặc biệt là đối với các vụ án phức tạp, các vụ án lớn và các vụ án có liên quan tới thủ tục thu giữ, kê biên và sung công tài sản, Cơ quan công tố thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Điều tra viên, tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho các Điều tra viên và cơ quan điều tra.

Một đặc điểm quan trọng trong vai trò của cơ quan công tố Australia là: Cơ quan công tố Australia không quyết định việc một người bị đưa ra truy tố có phạm tội hình sự hay không cũng như không thúc ép việc đưa ra bản án kết tội đối với người bị truy tố bằng bất cứ giá nào. Vai trò của cơ quan công tố mà cụ thể là của Công tố viên là buộc tội trước phiên toà. Công tồ viên phải cố gắng đưa ra được tất cả chứng cứ liên quan, thuyết phục đối với Bồi thẩm đoàn hoặc hội đồng xét xử để từ đó Bồi thẩm đoàn sau khi xem xét cân nhắc tất cả các chứng cứ được đưa ra từ phía Công tố viên và luật sư bào chữa, thỏa mãn và loại bỏ mọi yếu tố nghi ngờ và kết tội người bị đưa ra truy tố theo đúng như cáo trạng của cơ quan công tố.

2.4. Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan công tố

Chức năng và nhiệm vụ của cơ quan công tố liên bang là tiến hành truy tố đối với các hành vi vi phạm luật pháp liên bang và kê biên, tịch thu các tài sản liên quan hành vi phạm tội đó. Cơ quan công tố liên bang cũng thực hiện việc truy tố đối với các hành vi vi phạm luật pháp ở vùng Vịnh Jervis và các khu vực ngoài vùng lục địa ngoại trừ đảo Norfolk Island. Đối với các hành vi phạm tội vi phạm luật pháp của tiểu bang, chức năng và nhiệm vụ truy tố được trao cho các cơ quan công tố tiểu bang thực hiện cùng với việc tiến hành các thủ tục liên quan đến việc thu hồi tài sản phạm tội.

Đối với các loại tội phạm xảy ra trên đường phố như trộm cắp, cướp giật tài sản... được quy định trong Luật của các tiểu bang và các vùng lục địa. Vì vậy việc truy tố các tội phạm đó thuộc thẩm quyền truy tố của các cơ quan công tố tiểu bang nơi tội phạm đó xảy ra.

Hầu hết các vụ án mà cơ quan công tố liên bang tiến hành hoạt động truy tố là các vụ án liên quan tới buôn bán ma túy, rửa tiền, các hành vi vi phạm Luật Tập đoàn kinh doanh (Corporations Act), lừa đảo trong hệ thống liên bang (gian lận thuế, gian lận chứng khoán...), buôn người và khủng bố. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt và đối với những vụ án ít nghiêm trọng, đơn giản, thủ tục truy tố chủ yếu là thủ tục rút gọn thì Cơ quan công tố liên bang không thực hiện việc truy tố mặc dù vụ việc đó thuộc thẩm quyền và lĩnh vực truy tố của cơ quan công tố liên bang. Việc truy tố các vụ việc này do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện trên cơ sở các thỏa thuận giữa Cơ quan công tố liên bang và các đơn vị đó. Các vụ việc này thường xảy ra trên lĩnh vực phạm tội về thuế, bầu cử và các tội phạm vi phạm Luật Tập đoàn kinh doanh nhưng hành vi phạm tội không nghiêm trọng, nhỏ lẻ. Ngoài ra, đối với một số trường hợp vì lý do thuận tiện, thẩm quyền truy tố của cơ quan công tố liên bang được trao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Các cơ quan này sẽ thay mặt Công tố trưởng thực hiện quyền truy tố đối với các hành vi phạm tội đó. Việc truy tố được thực hiện đầy đủ theo các yêu cầu và chỉ dẫn, hướng dẫn trong chính sách truy tố của cơ quan công tố liên bang.

3. Cơ quan điều tra

Theo Luật Cảnh sát liên bang Australia, Cảnh sát liên bang Australia bao gồm Cảnh sát trưởng, Phó cảnh sát trưởng, các nhân viên cảnh sát liên bang Australia, các nhân viên đặc biệt và các thành viên hoạt động thám tử đặc biệt.

Chức năng của Cảnh sát liên bang là thực hiện việc điều tra đối với các hành vi được coi là tội phạm theo luật pháp liên bang, xâm phạm vào tài sản, thẩm quyền của liên bang và điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền của bang nhưng có tính chất liên bang. Các cơ quan điều tra có thẩm quyền tiến hành điều tra như: Cục cảnh sát liên bang Australia, Ủy ban điều tra tội phạm quốc gia và một số cơ quan điều tra khác theo luật định.

Công tác điều tra tội phạm là một trong những nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát bang và chức năng này do lực lượng Cảnh sát trật tự và Cảnh sát giao thông tiến hành. Ngoài hoạt động điều tra thông thường, lực lượng cảnh sát còn thành lập các nhóm đặc biệt để điều tra một số loại tội đặc biệt nghiêm trọng. Cảnh sát có quyền điều tra bất kỳ vụ án nào và phối hợp với các nhóm đặc biệt trong việc điều tra các vụ án đặc biệt nghiệm trọng. Cơ quan điều tra không có quyền bắt người bị tình nghi phạm tội ít nghiêm trọng mặc dù tội đó có thể bị truy tố nhưng lại có quyền bắt giữ người bị tình nghi phạm tội nghiêm trọng dù có thể không bị truy tố. Cơ quan điều tra phải xin lệnh của Tòa án về việc bắt giữ người bị tình nghi phạm tội.

III. NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG

1. Thẩm phán

Nguồn bổ nhiệm Thẩm phán tại các Tòa án của Australia chủ yếu được lấy từ đội ngũ luật sư và trạng sư. Riêng nguồn Thẩm phán của Toà tiểu hình hoặc Toà khu vực thường được lấy từ các luật sư lâu năm có kinh nghiệm. Thẩm phán không thể bị cách chức trừ khi họ vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp, vi phạm đạo đức. Việc bổ nhiệm Thẩm phán phải được đưa ra trước Quốc hội tiểu bang hoặc liên bang với đa số phiếu tán thành thì Thẩm phán đó mới được bổ nhiệm.

Khi xét xừ, Thẩm phán độc lập và chỉ căn cứ vào án lệ hoặc các đạo luật để quyết định. Khi quyết định, Thẩm phán giải thích lý do tại sao lại quyết định như vậy. Tại phiên toà, Thẩm phán có thể bị thay đổi khi có các lý do: Thẩm phán đồng thời là nhân chứng; Thẩm phán là người thân thích với đương sự hoặc Bồi thẩm đoàn.

Theo pháp luật Australia, cho đến khi mở phiên toà, Thẩm phán không được đọc trước và không biết gì về nội dung vụ án. Theo lịch phân công, khi được giao hồ sơ, lúc đó Thẩm phán mới biết mình chịu trách nhiệm xử vụ nào.

Tại Australia, 95% vụ án hình sự trước tiên được giải quyết tại Toà tiểu hình. Khi một người có tội bị đưa đến toà, việc đầu tiên là Tòa án lấy dấu vân tay của người đó lưu vào hồ sơ. Sau đó, Toà tiểu hình xác định hành vi tội phạm đó thuộc thẩm quyền của toà nào. Nếu hành vi phạm tội đó được quy định có khung hình phạt từ hai năm tù trở lên thì Toà tiểu hình gửi hồ sơ vụ án sang Viện công tố để truy tố trước khu vực. Nếu hành vi phạm thuộc khung hình phạt dưới hai năm tù, Tòa án sẽ ấn định ngày xét xử chính thức. Khi xét xử, Công tố viên (thường là trạng sư công tác Viện công tố) đọc bản cáo trạng về hành vi phạm tội, trình các chứng thu thập được. Sau đó, luật sư đại diện cho bị can, bị cáo trình bày đưa ra chứng cứ của mình; chứng có thể là vật, lời khai của nhân chứng. Nếu nhân chứng có mặt toà, họ được bố trí ngồi cách biệt tại phòng bên cạnh. Khi cần đến khai của họ, họ mới được nhân viên của toà dẫn vào phòng xử. Trước tiên, nhân chứng phải đặt tay lên quyển kinh thánh và thề nói sự thật. Thủ tục này rất uyển chuyển Australia là một nước đa sắc tộc nên có nhiều người theo các tôn giáo khác nhau. Nếu không phải là người công giáo thì Tòa án cho phép họ thề theo cách riêng của họ. Có trường hợp, nhân chứng ở một nước khác nhưng do kỹ thuật thông tin hiện đại nên tòa có thể lấy lời khai của họ qua cầu truyền hình. Trong suốt quá trinh xử án, Thẩm phán nói rất ít và thường là nhắc nhở các bên đưa ra các câu hỏi và trả lời đúng nội dung vụ án và giữ gìn trật tự phiên toà. Sau khi nghe các bên trình bày, tranh luận, Thẩm phán xem xét chứng cứ có được thu thập một cách hợp pháp hay không, có phù hợp với sự thật vụ án hay không, sau đó tuyên án. Trong bản án, Thẩm phán phải ghi rõ lý do tại sao lại quyết định như vậy. Đối với các vụ án được xét xử có Bồi thẩm đoàn, khi Bồi thẩm đoàn nghe toàn bộ nội dung vụ án và quyết định là có tội thì Thẩm phán quyết định áp dụng pháp luật và tuyên án. Trong bản án, Thẩm phán có thể ghi thời hạn tối đa và thời hạn tối thiểu chấp hành hình phạt. Trong trường hợp ấy, khi bị cáo chấp hành hết thời hạn tối thiểu, nếu chấp hành tốt có thể được trả tự do sớm, phần thời gian còn lại coi như hưởng án treo.

Khi xử một người phạm nhiều tội, Thẩm phán có quyền tổng hợp hay không tổng hợp hình phạt mà không bị coi là vi phạm pháp luật. Ở Australia hiện nay không có hình phạt tử hình nên hình phạt cao nhất là tù chung thân. Hàng năm không có việc xét giảm hoặc ân xá mà việc này được Thẩm phán quy định ngay trong bản án. Nếu một người bị phạt tù chung thân, nếu trong bản án Thẩm phán ghi phải ngồi tù được ít nhất 10 năm mới được ân xá, thì người đó có thể được tha sau khi đó thụ hình được 10 năm. Nhưng nếu Thẩm phán không ghi thêm câu nào tức là người đó phải ở tù suốt đời.

Thời gian xét xử tuỳ theo tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Ở toà tiểu hình có thể một ngày Thẩm phán giải quyết đến 40 - 50 vụ, nhưng cũng có vụ phải xử hàng tuần lễ.

2. Bồi thẩm đoàn

Bồi thẩm đoàn là những người dân sinh sống tại địa phương có trong danh sách cử tri (18 tuổi trở lên) do Chính phủ quản lý khi bầu cử. Danh sách này được Tòa án chọn làm bồi thẩm cho từng vụ xét xử. Những người dị tật, bị phá sản, đã từng bị kết án tội hình sự hoặc những người đã học luật, nghị sĩ, luật sư, cảnh sát, công tố, quan toà... không được chọn làm Bồi thẩm đoàn.

Trong những ngày làm nhiệm vụ bồi thẩm, bồi thẩm viên được trả lương bất kể thời gian xử dài hay ngắn. Xét xử sơ thẩm từ cấp toà khu vực trở lên mới có Bồi thẩm đoàn. Số lượng Bồi thẩm đoàn là 12 người cho mỗi vụ án hình sự, họ tham gia đánh giá chứng cứ tại phiên toà. Thành viên Bồi thẩm đoàn là những người đại diện cho mọi tầng lớp xã hội và thuộc các giới khác nhau.

Việc có Bồi thẩm đoàn hay không trong vụ xử hoàn toàn phụ thuộc vào ý nguyện của bị cáo. Nếu bị cáo từ chối Bồi thẩm đoàn thì Tòa án cũng chấp nhận. Khi xét xử, Bồi thẩm đoàn quyết định về dữ kiện, quyết định có tội hay không có tội mà không cần phải giải thích lý do. Đối với những vụ án giết người, để kết án bị cáo thì phải được 12/12 thành viên Bồi thẩm đoàn biểu quyết là bị cáo có tội, còn đối với các vụ án khác thì chỉ cần 11/12 thành viên Bồi thẩm đoàn biểu quyết là được chấp nhận. Nếu ý kiến của các thành viên trong Bồi thẩm đoàn trái ngược nhau, toà tuyên hoãn xử và triệu tập Bồi thẩm đoàn khác, và lần này Trưởng công tố sẽ quyết định xử lại hay bỏ luôn mặc dù sau này có điều tra thêm chứng cứ khác.

Thông thường ý kiến của Bồi thẩm đoàn là tuyệt đối 100%, riêng ở bang New South Wales nếu trong đoàn bồi thẩm có một vị không đồng ý, Toà vẫn có thể xử.

3. Công tố viên

Trong giai đoạn điều tra, Công tố viên phối hợp cùng Điều tra viên để thu thập chứng cứ hoàn thiện hồ sơ vụ án. Kết thúc điều tra, hồ sơ được chuyển sang cơ quan Công tố để thực hiện quyền truy tố. Nếu xét thấy không đủ cơ sở truy tố kẻ phạm tội ra Toà thì Công tố viên quyết định đình chỉ vụ án. Công tố viên chỉ có trách nhiệm truy tố kẻ phạm tội ra Tòa, không có trách nhiệm trong giai đoạn thi hành án và giáo dục cải tạo phạm nhân.

Để đảm bảo công tác truy tố được khách quan, Công tố viên Chính phủ bổ nhiệm và giữ chức vụ cho đến khi nghỉ hưu (66 tuổi), lương của Công tố viên do một Uỷ ban đặc biệt trả và Công tố viên không thể bị bãi miễn hoặc phải chịu áp lực nào từ phía chính quyền buộc họ phải làm trái với lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp.

Đối với Công tố viên, quyền truy tố và bảo vệ cáo trạng tại phiên tòa là quyền quan trọng nhất. Muốn bảo vệ tốt cáo trạng, Công tố viên phải nắm chắc tất cả các tình tiết của vụ án, thực hiện việc tranh luận với luật sư từng chứng cứ với những chi tiết cụ thể được đưa ra. Tuy vậy, thực tiễn hoạt động công tố cũng chỉ bảo vệ được khoảng 50% số cáo trạng truy tố, số còn lại bị Bồi thẩm đoàn bác bỏ.

4. Điều tra viên

Theo pháp luật của Australia, Điều tra viên thuộc lực lượng cảnh sát điều tra liên bang nói chung, lực ượng cảnh sát điều tra của từng bang nói riêng đều không có nhiều thẩm quyền như Điều tra viên của những quốc gia theo mô hình tố tụng thẩm vấn. Công việc chủ yếu của Điều viên là thực hiện các yêu cầu điều tra của Công tố viên để điều tra vụ án hình sự. Điều tra viên cũng có thể tự mình thực hiện một số biện pháp điều tra ban đầu khi mới phát hiện tội phạm như tiến hành bắt, giữ, khám xét..., nhưng chủ yếu là phải thông báo và chuyển hồ sơ cho Công tố viên để tiếp tục giải quyết những phần việc điều tra thu thập chứng cứ trong một vụ án hình sự.

IV. BỊ CÁO VÀ CÁC QUYÊN CƠ BẢN

Theo đặc điểm của hệ thống luật án lệ, quyền giữ im lặng và giả định vô tội của bị cáo là những quyền quan trọng nổi bật. “Giả định vô tội” có nghĩa là chính quyền liên bang, tiểu bang, cơ quan công tố hoặc bất kỳ người nào có trách nhiệm chứng minh phải chứng minh một cách thuyết phục rằng chứng cứ có giá trị vượt khỏi sự nghi ngờ có căn cứ. Thẩm phán bị cấm giải thích cho Bồi thẩm đoàn  ý nghĩa của chứng cứ trong quá trình tổng hợp. Một vụ án mẫu xử vào năm 1935 là vụ Even Woolmington đã góp vào luật Anh một trong những giải thích đáng nhớ nhất như sau: “xuyên suốt toàn bộ hệ thống pháp luật hình sự Anh, một sợi chỉ vàng luôn được ghi nhận là trách nhiệm của cơ quan công tố trong việc chứng minh hành vi phạm tội của tù nhân”.

Giả định vô tội đặt trách nhiệm chứng minh lên cơ quan công tố với quy chuẩn cao. Việc này đóng vai trò quan trọng bởi vì chính quyền luôn ở thế mạnh so với cá nhân. Theo cách nói thông thường, điều này có nghĩa là chia cho mỗi người một miếng bánh bằng nhau. Quyền giữ im lặng của bị cáo là một phần quan trọng của giả định vô tội, có ý nghĩa ngăn cản nhà nuớc trong việc sử dụng quyền lực kết hợp để ép buộc bị cáo và kết tội họ.

Trong mô hình tố tụng tranh tụng ở Australia, bị cáo luôn được quyền có luật sư để bảo đảm quyền bào chữa trong quá trình giải quyết vụ án. Theo pháp luật Australia, luật sư được phân định vai trò, vị trí rất cụ thể. Có 2 hình thức luật sư chính được tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự là luật sư tư vấn và luật sư bào chữa.

Luật sư tư vấn (Solicitor) là người tư vấn, chuẩn bị hồ sơ cho công tố, quan toà, đương sự, bị cáo hoặc cho các công ty... Luật sư tư vấn phải có bằng luật và ít nhất là có một năm kinh nghiệm công tác. Luật sư tư vấn chỉ được quyền tham gia tại Tòa án khu vực.

Trạng sư hay còn gọi là luật sư bào chữa (Barrister) là người biện hộ tại Toà. Để trở thành luật sư bào chữa, một người phải là luật sư tư vấn và có một số năm kinh nghiệm tranh tụng tại phiên toà. Luật sư bào chữa có quyền tham gia tại Tòa án vùng và Tòa án tối cao.

Tại Australia, luật sư, trạng sư có vai trò rất lớn, luật sư và trạng sư giúp đỡ các vấn đề về công tố, tư tố cho bị cáo và đương sự. Họ được quyền tham gia ngay từ khi khởi tố vụ án, thay mặt bị cáo để thực hiện quyền phản bác các căn cứ buộc tội. Luật sư có trách nhiệm điều tra, thu thập chứng cứ để trình toà. Công tố viên có trách nhiệm phải thông báo tất cả các chứng cứ tài liệu đã thu thập được cho luật sư để họ thực hiện việc bào chữa. Ngược lại, luật sư có quyền giữ bí mật tài liệu chứng cứ mà họ có được để thực hiện việc phản bác cáo trạng. Tại phiên toà, luật sư thay mặt cho bị cáo thực hiện việc tranh luận với Công tố viên và các nhân chứng về từng chứng cứ được đưa ra.

Hầu hết các vụ án đều có luật sư, trạng sư. Tại Australia, có tổ chức luật sư để giúp dân nghèo không có điều kiện thuê luật sư vì tiền công thuê luật sư là rất cao. Bên nào thua kiện thì phải chịu chi phí cho bên thắng kiện kể cả tiền thuê luật sư. Luật sư khi hành nghề phải được cấp giấy phép. Giấy phép hành nghề của luật sư do đoàn luật sư cấp và Bộ Tư pháp chứng nhận. Luật sư đăng ký hành nghề tại tiểu bang nào chỉ được hành nghề tại tiểu bang ấy. Khi có các vụ án mà đương sự ở các tiểu bang khác nhau, thì luật sư đại diện cho đương sự tại tiểu bang này phải liên hệ với luật sư ở tiểu bang mà Tóa án trực tiếp xét xử để làm đại diện. Không làm như vậy, nếu thắng cũng khó đòi được tiền bồi thường.

Kết luận

Mô hình tố tụng hình sự Australia là mô hình tố tụng tranh tụng điển hình vì sự ảnh hưởng sâu sắc của pháp luật Vương quốc  Anh. Theo mô hình này, phiên toà xét xử vụ án hình sự được xác định là trung tâm của tố tụng hình sự với việc Công tố viên và bị cáo cùng với luật sư bào chữa đưa ra các chứng cứ, kiểm tra chéo chứng cứ. Thẩm phán giữ vai trò trung lập, lắng nghe trình bày của các bên và phán quyết dựa trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà. Các quyền của bị cáo được bảo đảm với việc tham gia đầy đủ của luật sư bào chữa trong toàn bộ quá trình tố tụng. Việc tranh tụng công khai tại phiên toà trước Thẩm phán không thiên vị và nguyên tắc bảo đảm nhân quyền của bị cáo là những điểm nổi bật cần được nghiên cứu học tập của mô hình tố tụng sự Australia.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi