MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ NHẬT BẢN

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIẺN MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ NHẬT BẢN

Hệ thống pháp luật Nhật Bản là kết quả học hỏi pháp luật phương Tây về mặt hình thức nhưng vẫn giữ được những nét truyền thống của Nhật Bản. Tùy theo từng thời kỳ, Nhật Bản tiếp nhận pháp luật của Pháp, Đức, Mỹ để sáng tạo ra hệ thống pháp luật của riêng mình. Lịch sử phát triển tố tụng hình sự Nhật bản cho thấy trước khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, luật pháp Nhật Bản thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa nhưng kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai thì pháp luật Nhật Bản đã du nhập nhiều chế định về quyền và nghĩa vụ của công dân, pháp luật về tố tụng và cách thức tổ chức Tòa án trong pháp luật của Hoa Kỳ. Lịch sử phát triển tố tụng hình sự của Nhật Bản gắn liền với sự phát triển của hệ thống tư pháp hình sự, có thể chia thành 3 giai đoạn chính:

Giai đoạn I. Từ thế kỷ 19, Nhật Bản tiến hành chính sách cách tân đất nước, chuyển từ thể chế quân chủ sang thể chế dân chủ. Vào khoảng năm 1868, để đảm bảo duy trì an ninh trật tự sau khi chính quyền Mạc phủ Edo tan rã, Hoàng đế Minh Trị học hỏi mô hình luật hình sự của Trung Quốc. Sau đó, Nhật Bản áp dụng mô hình pháp lý Châu Âu nhằm tạo vị trí bình đẳng của Nhật trong các Hiệp định ký kết với các nước Châu Âu. Vào thời kỳ này, hệ thống common law (luật bất thành văn) của Anh - Mỹ rất xa lạ với Nhật Bản, do đó Nhật Bản tiếp cận và nghiên cứu hệ thống pháp luật Pháp. Năm 1873, Nhật bản mời giáo sư Boissonade từ Trường Đại học Tổng hợp Paris giúp cho việc soạn thảo các bộ luật nội dung và tố tụng cả dân sự và hình sự và kết quả đã ban hành Bộ luật hướng dẫn hình sự vào năm 1880, có hiệu lực vào tháng 01 năm 1882, theo đó chế định Công tố viên theo mô hình của Pháp du nhập vào Nhật Bản. Công tố viên thực hiện truy tố tội phạm, phù hợp với việc phân loại tội phạm theo quy định của pháp luật, với mục đích chứng minh tội phạm và áp dụng hình phạt thích hợp với kẻ phạm tội (Điều 1). Công tổ viên thực hiện các hoạt động điều tra tội phạm, yêu cầu Thẩm phán kiểm tra tội phạm và áp dụng các điều khoản theo quy định cùa pháp luật, chỉ đạo việc thi hành lệnh hay quyết định của Tòa án và bảo vệ lợi ích công của Tòa án. Thẩm phán được trực tiếp thu thập chứng cứ ban đầu (Điều 34). Trong thời gian sau đó, hệ thống tư pháp Nhật Bản bắt đầu bị ảnh hưởng của Đức. Năm 1890, Luật tổ chức Tòa án được ban hành dựa trên dự thảo của người Đức tên là Rudorff, theo đó xác định, Công tổ viên cũng có quyền giám sát hoạt động của Thẩm phán, đại diện cho quyền lợi công trước Tòa án (độc quyền truy tố), và đây là nền móng để phát triển hệ thống công tố Nhật Bản. Vào năm 1893, Nhật Bản xây dựng Hiến pháp mới dựa trên Hiến pháp Đức và ban hành Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) cũng dựa theo mô hình của Đức. Bộ luật này gần như sao chép toàn bộ nội dung của Luật tố tụng hình sự Pháp, tuy nhiên không quy định chế định Bồi thẩm đoàn như ở Pháp vì cho rằng chế định đó không phù hợp với Nhật Bản lúc bấy giờ. Năm 1913, Nhật ban hành Luật về thủ tục rút gọn, theo đó Công tố viên có thể trực tiếp xử phạt bị can mà không cần đưa ra Tòa xét xử nhằm giảm thời gian và chi phí cho quá trình tố tụng.

Đến năm 1922, BLTTHS sửa đổi được ban hành và có hiệu lực năm 1924. BLTTHS này được áp dụng đến Đại chiến thế giới II với mô hình tố tụng hình sự chuyển từ mô hình của Pháp sang mô hình của Đức, theo đó mô hình tranh tụng được chuyển theo mô hình của Đức, quan tòa là người chủ tọa, dẫn dắt cuộc họp, giải quyết tranh luận. Nhưng điểm khác của mô hình tố tụng hình sự Nhật Bản so với mô hình tố tụng hình sự của Đức là chế định tùy nghi truy tố của Công tố viên Nhật Bản. Theo quy định của BLTTHS này thì Công tố viên có nhiệm vụ điều tra, cảnh sát thực hiện yêu cẩu của Công tố viên; cơ chế xem xét ban đầu trong quá trình tra được giao cho Thẩm phán (đối với một số vụ án cụ thể hoặc một số tội phạm đặc biệt, các biện pháp điều tra đặc biệt do Thẩm phán quyết định). Tuy nhiên, trong thực tiễn, do cơ quan cảnh sát không phải lúc nào cũng tuân thủ đúng quy định của pháp luật, vi phạm quyền con người và để tránh sự độc quyền của Tòa án, nhiều ý kiến đề nghị cơ quan công tố được giám sát hoạt động điều tra và bác bỏ cơ chế xem xét ban đầu của Thẩm phán.

Giai đoạn II: Từ năm 1945, chiến tranh thế giới thứ II, Nhật chuyển sang chính thể quân chủ nghị viện và chịu ảnh hưởng lớn của Hoa Kỳ. Với sự can thiệp của Hoa Kỳ, một loạt cải cách xã hội được tiến hành, trong đó quan trọng nhất là việc ban hành Hiến pháp mới với những quy định tiến bộ về bảo đảm quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự: Khi bắt giữ, khám xét, thu giữ phải có lệnh; bị can, bị cáo có quyền được mời luật sư, quyền giữ im lặng không khai báo. Hiên pháp mới dẫn đến sự ra đời của BLTTHS mới (Luật số 131 ngày 10/7/1948, có hiệu lực từ năm 1949) và được áp dụng cho đến nay. BLTTHS mới trong quá trình soạn thảo có sự giúp đỡ tích cực từ phía Hoa Kỳ và phản ảnh rõ nét quan điểm pháp luật tố tụng Hoa Kỳ, thể hiện trong các quy định về nguyên tắc tranh tụng, điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ, hạn chế trong việc chấp nhận chứng cứ gián tiếp. BLTTHS của Nhật Bản được soạn thảo theo khuôn mẫu của BLTTHS Mỹ ngoại trừ chế định xét xử có Bồi thẩm đoàn. Trong quá trình tố tụng, Thẩm phán chỉ đóng vai trò trọng tài, vai trò chính trong quá trình tố tụng được dành cho đại diện của bên buộc tội và bên bào chữa. Tuy vậy, vai trò của Thẩm phán Nhật Bản cũng khác với vai trò Thẩm phán Mỹ. Nhờ không tiếp thu chế định bồi thẩm của Mỹ mà các thẩm quyền của Thẩm phán Nhật Bản rộng hơn thẩm quyền của các Thẩm phán Mỹ. Trong thủ tục tố tụng, có sự thay đổi phương thức thẩm vấn nhân chứng theo kiểu tố tụng đối kháng.

Kết cấu của Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản cho thấy tố tụng hình sự Nhật Bản theo mô hình tố tụng tranh tụng có nguồn gốc sâu xa từ nguyên tắc tranh tụng của pháp luật Hoa Kỳ, thể hiện rõ qua việc chuyển từ nguyên tắc thẩm quyền sang áp dụng nguyên tắc đương sự, việc thay đổi quan hệ giữa tư pháp và kiểm sát trong vận dụng tư pháp hình sự bằng các quy định: Đảm bảo tính độc lập của Tòa án - Tòa án không được xem tài liệu của cơ quan điều tra. Hoạt động điều tra do cơ quan công tố và cảnh sát tiến hành, việc xem xét quyết định trong quá trình điều tra giao cho Thẩm phán. Vai trò tích cực trong tố tụng thuộc về Thẩm phán trước đây được trao cho Công tố viên và Luật sư bào chữa. Công tố viên chuyển cáo trạng cho Thẩm phán và chuẩn bị tài liệu, chứng cứ tranh luận với luật sư trước Tòa. Luật sư có quyền bình đẳng trong việc đề xuất tài liệu và tranh luận với Công tố viên tại phiên tòa. Hạn chế vai trò của Tòa án, cơ chế xem xét ban đầu của Thẩm phán bị xóa bỏ và quyền này được trao cho cơ quan điều tra. Tòa án đóng vai trò vị trí trung lập, lắng nghe tranh luận và đưa ra kết luận về các chứng cứ rồi tuyên án. Tuy nhiên, có một điểm khác biệt lớn nhất giữa tổ tụng hình sự Nhật Bản với tố tụng hình sự Hoa Kỳ là BLTTHS Nhật Bản không quy định về chế định bồi thẩm. Ở Mỹ, Bồi thẩm đoàn quyết định bị cáo có tội hay không có tội, còn tội danh và hình phạt thuộc thẩm quyền quyết định của Thẩm phán. Tuy nhiên, Bồi thẩm đoàn chỉ tham gia luận tội khi bị cáo chối tội, nếu bị cáo nhận tội thì áp dụng thủ tục rút gọn, Thẩm phán sẽ quyết định hình phạt.

Trong khi đó, theo BLTTHS Nhật Bản thì cho dù bị cáo nhận tội, phiên tòa vẫn diễn ra bình thường theo nguyên tắc tranh tụng và sau đó Thẩm phán quyết định hình phạt. Trước khi xét xử, Công tố viên chỉ chuyển cho Tòa án bản cáo trạng, không chuyển hồ sơ vụ án. Hồ sơ vụ án chỉ chuyển cho Thẩm phán khi bắt đầu phiên tòa. Trong thực tiễn, các bên tranh tụng chuẩn bị tài liệu, chứng cứ rất cẩn thận trước khi đưa ra tòa. Việc xem xét và tranh luận về các chứng cứ, tài liệu một cách công khai trong phiên tòa tạo điều kiện cho Thẩm phán xét xử công bằng và khách quan.

Quan hệ giữa cơ quan tư pháp cảnh sát - công tố - Tòa án đã có sự thay đổi. Theo quy định cũ thì cảnh sát giúp việc cho cơ quan công tố, cơ quan công tố chịu trách nhiệm điều tra. Quan hệ này là quan hệ trên - dưới.

Theo BLTTHS hiện hành thì cơ quan công tố và cảnh sát đều có quyền điều tra, có mối quan hệ phối hợp, hợp tác, không phải quan hệ trên - dưới. Song Công tố viên có thể xem xét để yêu cầu cảnh sát điều tra bổ sung, có quyền tạm đình chỉ điều tra vụ án. Công tố viên có quyền hạn lớn trong hoạt động điều tra đặc biệt khi điều tra các vụ án liên quan đến quan chức cao cấp, các chính khách có toàn quyền quyết định truy tố hoặc không truy tố. Đối với những vụ án phức tạp, nghiêm trọng (vụ án kinh tế lớn, nhận hối lộ, trốn thuế,tham nhũng của các quan chức), cơ quan công tố sẽ thành lập nhóm điều tra đặc biệt tách biệt với cảnh sát bảo đảm tính khách quan.

Vai trò Công tố viên được cường theo nguyên tắc tranh tụng. Cơ quan công tố có trách nhiệm lập cáo trạng, đưa ra chứng cứ để chứng minh sự buộc tội. Tòa án chỉ xét xử, không điều tra như trước đây. Công tố viên tiến hành điều tra, giám sát hoạt động và quyền truy tố hoặc không truy tố.

Giai đoạn III. Từ đầu những năm 2000 cho đến nay, Nhật Bản đã có những nỗ lực để cải cách tư pháp về tố tụng hình sự. Chủ trương cải cách tư pháp của Nhật Bản xuất phát từ hiệu quả xét xử trên thực tế kông cao, thời gian nhiều phiên tòa xét xử còn kéo dài do không ít vụ án phức tạp, nghiêm trọng đã không chuẩn bị lập luận được đầy đủ; nội dung xét xử cũng khó hiểu đối với người dân, làm mất niềm tin của người dân đối với tư pháp. Năm 1999, Hội đồng tư vấn cải cách chế độ tư pháp đặt dưới chính phủ được thành lập đã kiến nghị kiện toàn và tăng tốc việc xét xử hình sự và hoàn thiện chế độ người dân tham gia vào thủ tục phiên tòa hình sự (hội thẩm nhân dân), thực hiện xét xử với trọng tâm là lập luận. Năm 2004 ban hành Luật sửa đổi phần 1 Luật tố tụng hình sự và hiện nay đang tiếp tục nghiên cứu sửa đổi BLTTHS với mục đích hoàn thiện các thủ tục tố tụng trước phiên tòa và kiện toàn việc công khai chứng cứ tại phiên tòa trên cơ sở quan điểm cải cách tư pháp và giải quyết các yêu cầu thực tiễn.

II. NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA MÔ HÌNH TỔ TỤNG HÌNH SỰ NHẬT BẢN

1. Mục tiêu và phương pháp của tố tụng hình sự

Điều 1 BLTTHS Nhật Bản quy định: “mục đích của Bộ luật là làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án cũng như áp dụng và thực thi việc trừng trị một cách nhanh chóng đối với vụ án hình sự trong khi vẫn xem xét đầy đủ đến việc duy trì phúc lợi công và đảm bảo nhân quyền đối với từng cá nhân”. Như vậy, mục tiêu tố tụng hình sự Nhật Bản yêu cầu xác định sự thật khách quan, bảo đảm công lý (mục tiêu và phương pháp luận mà hệ tố tụng thẩm vấn hướng tới) đồng thời bảo đảm quyền con người, duy trì phúc lợi công (mục tiêu và phương pháp luận mà hệ tố tụng tranh tụng hướng tới). Từ đó, tố tụng hình sự Nhật Bản sử dụng phương pháp của cả hai hệ thống tố tụng tranh tụng và thẩm vấn, vừa áp dụng nguyên tắc tranh tụng, đồng thời chú trọng phương pháp điều tra, thẩm vấn. Nghiên cứu tố tụng hình sự Nhật Bản cho thấy rõ tính chất tranh tụng qua hàng loạt quy định về yêu cầu và xác định chứng cứ chứng minh, kiểm tra nhân chứng, vị trí bình đẳng như nhau của các bên tranh tụng, nguyên tắc chỉ gửi bản cáo trạng nhằm loại bỏ thành kiến của Tòa án khi xét xử, giới hạn xét xử của Tòa án chỉ trong phạm vi buộc tội mà Công tố viên đưa ra và việc tranh tụng của các bên, vị trí độc lập của Tòa án đối với các bên... Bên cạnh đó, một số nguyên tắc của tố tụng thẩm vấn cũng được sử dụng như việc đương nhiên xác minh chứng cứ của Tòa án, xét xử không có Bồi thẩm đoàn, Tòa án có thể điều hành việc kiểm tra bằng chứng theo thẩm quyền của mình khi xét thấy cần thiết. Trong quá trình xét xử, nếu xét thấy hợp lý Tòa án có thể bổ sung hoặc thay đổi lý do, thay đổi điều khoản áp dụng hình phạt.

2. Vai trò của các chủ thể tham gia tố tụng

Vấn đề xác định mô hình tố tụng hình sự phải trên cơ sở xem xét toàn diện không chỉ ở mục tiêu, phương pháp tố tụng mà còn về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn các chủ thể tham gia tố tụng và mối quan hệ của các chủ thể này trong cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Luật tố tụng hình sự Nhật Bản phân chia quá trình tố tụng hình sự thành 4 giai đoạn: Giai đoạn điều tra, giai đoạn xét xử, giai đoạn truy tố và giai đoạn thi hành án, trong mỗi giai đoạn đều xác định rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mỗi chủ thể tham gia tố tụng. Giai đoạn điều tra có sự tham gia của ba cơ quan là cơ quan cảnh sát, Viện công tố và Tòa án. Cơ quan Cảnh sát và Viện công tố tiến hành điều tra phát hiện tội phạm, Tòa án ban hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam theo đề nghị của cơ quan điều tra, Viện công tố. Giai đoạn truy tố gắn liền chỉ với vai trò cơ quan công tố và Công tố viên với quyền tùy nghi truy tố. Giai đoạn xét xử được thực hiện theo nguyên tắc tranh tụng, có sự tham gia của Thẩm phán, Công tố viên, luật sư bào chữa. Công tố viên chuyển cáo trạng cho Thẩm phán và chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để trình bày trước Tòa, tranh luận với luật sư và luật sư cũng chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để tranh luận với Công tố viên. Những hoạt động tố tụng tại phiên tòa do Thẩm phán điều khiển. Sau khi nghe các bên tranh luận, Thẩm phán tự mình đánh giá chứng cứ và rút ra kết luận rồi tuyên án. Giai đoạn thi hành án được bắt đầu khi bản án có hiệu lực (sau 2 tuần kế từ khi tuyên án). Cơ quan công tố có quyền ra quyết định thi hành án và giám sát việc thi hành án. Các trại cải tạo chịu trách tổ chức lao động cải tạo và quản lý phạm nhân.

Như vậy, trong năm chủ thể gia tố tụng thì cảnh sát, luật sư, thi hành án đóng vai trò quan trọng  trong một giai đoạn tố tụng, Tòa án đóng vai trò quan trọng không chỉ ở giai đoạn xét xử mà cả giai đoạn điều tra, chỉ có Viện công tố là cơ quan duy nhất có vai trò quan trọng suốt cả quá trình tố tụng: điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Công tố viên không chỉ có “độc quyền truy tố” mà có thẩm quyền điều tra tội phạm, giám sát việc thi hành các quyết định của Tòa án, yêu cầu Tòa án áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án hình sự và thực hiện những công việc theo quy định của pháp luật với tư cách là người đại diện cho lợi ích công.

3. Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của cơ quan tư pháp trong giai đoạn điều tra

Theo quy định của BLTTH, cơ quan có thẩm quyền điều tra chính ở Nhật gồm Cơ quan điều tra của cảnh sát (Cảnh sát tư pháp) và Viện công tố.

3.1. Cảnh sát tư pháp

Cảnh sát tư pháp có nhiệm vụ tiến hành điều tra và thu thập chứng cứ khi có tội phạm xảy ra (Điều 189, Điều 190 BLTTHS). Thẩm quyền điều tra của cảnh sát được phân thành hai loại: Điều tra chung và điều tra đặc biệt. Điều tra chung do lực lượng cảnh sát cấp khu vực tiến hành đối với các loại tội phạm hình sự thông thường như giết người, cướp, trộm cắp tải sản. Điều tra đặc biệt do cơ quan điều tra thuộc các Bộ, ngành tiến hành đối với những vụ án xảy ra trên các lĩnh vực chuyên ngành đó, chẳng hạn như điều tra các tội phạm trên biển, điều tra các tội phạm về rừng, điều tra các tội phạm về ma túy... Theo quy định của Luật tố tụng hình sự có 14 chủ thể có thẩm quyền điều tra đặc biệt gồm: Nhân viên các trại giam, nhân viên cảnh vệ Hoàng gia, nhân viên của cơ quan quản lý rừng, cán bộ địa phương có trách nhiệm kiểm soát việc săn bắn, thanh tra tiêu chuẩn lao động, thanh tra lao động trên biển, thuyền trường và các thủy thủ, nhân viên bảo vệ an ninh biển, nhân viên kiểm soát ma túy, Giám sát viên công tác mỏ, Giám sát viên ngư nghiệp, Quân cảnh của lực lượng phòng vệ, giám sát viên thuế quốc gia, thanh tra bưu điện. Ngoài ra còn có 5 cơ quan có thẩm quyền điều tra hành chính một số loại tội nhất định (ban đầu nhằm xác định chinh xác hành vi vi phạm, sau khi kết thúc các thủ tục điều tra người bị tình nghi phạm tội thì không gửi hồ sơ sang Viện công tố Nhật Bàn mà phải làm thủ tục tố cáo sang Viện công tố. Các thủ tục về tố tụng hình sự chính thức do Viện công tố quyết định). Các cơ quan này bao gồm: Ủy ban giám sát giao dịch chứng khoán, Ủy ban giao dịch lành mạnh, Tổng cục tín dụng, Cục bảo hiểm tiền tiết kiệm,... Ở lĩnh vực điều tra này, ngoài kiến thức pháp luật, nghiệp vụ điều tra đòi hỏi Điều tra viên phải có kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành đó.

Thẩm quyền điều tra của cảnh sát tư pháp được quy định tại Điều 189(2) và Điều 246 BLTTHS. Theo đó bất cứ nhân viên cảnh sát tư pháp nào khi phát hiện tội phạm hình sự đều phải tiến hành điều tra ngay người phạm tội, thu thập các chứng cứ liên quan và chuyển vụ án tới cho một Công tố viên trừ khi pháp luật có quy định khác. Cảnh sát tư pháp có các quyền hạn: Tiếp nhận tin báo và tố giác tội phạm, tiếp nhận việc tự thú của người phạm tội; đề nghị Tòa án ra lệnh bắt; đề nghị ra lệnh thu giữ, khám xét, kiểm tra hoặc khám người và xem xét dấu vết thân thể; Chuyển các tài liệu, chứng cứ cần thiết và chuyển giao người bị tình nghi phạm tội cho Công tố viên; Xử lý các vật bị thu giữ; Đề nghị việc hạn chế tự do và các biện pháp áp dụng đối với người phạm tội để phục vụ việc giám định; Khám nghiệm tử thi theo yêu cầu của Công tố viên; Ra lệnh giữ theo yêu cầu cùa Công tố viên.

Thẩm quyền điều ta của Cảnh sát tư pháp đặc biệt được tiến hành các hoạt động điều tra theo trình tự, thủ tục giống như Cảnh sát tư pháp thông thường nhưng giới hạn về phạm vi thẩm quyền điều tra phải liên quan đến lĩnh vực chuyên môn phụ trách.

Hoạt động điều tra chung của cảnh sát và của cơ quan điều tra đặc biệt đều phải tuân thủ trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định. Nếu có tranh chấp về thẩm quyền điều tra thì cơ quan công tố với tư cách là cơ quan chỉ đạo hoạt động điều tra sẽ quyết định cơ quan nào tiến hành điều tra đối với từng vụ việc cụ thể.

3.2. Công tố viên

Theo quy định tại Điều 191 Luật TTHS, khi thấy cần thiết, Công tố viên có thể tự mình điều tra tội phạm, sỹ quan trợ lý Công tố viên điều tra tội phạm dưới sự chỉ đạo của Công tố viên. Như vậy, Công tố viên có thẩm quyền điều tra tất cả các vụ án hình sự một cách độc lập mà không cần có sự hỗ trợ của cảnh sát. Trên thực tế, Công tố viên thường chỉ điều tra những vụ án có tính chất nghiêm trọng, liên quan đến tội phạm tham nhũng, tội phạm kinh tế lớn và phức tạp. Cơ quan công tố Nhật Bản có Vụ điều tra đặc biệt được tổ chức ở ba thành phố lớn là TOKYO, ÔSAKA và NAGÔIA. Những vụ án thông thường khác do cảnh sát điều tra thực hiện và Công tố viên chỉ tiến hành các hoạt động điều tra, có tính chất bổ sung để làm rõ hành vi phạm tội hoặc người phạm tội.

Quyền hạn của Công tố viên khi tiến hành các hoạt động điều tra cũng giống như quyền hạn của cảnh sát tư pháp, bao gồm quyền bắt giữ, khám xét và tịch biên, lưu trữ hồ sơ, kiểm tra các đối tượng, kiểm soát việc giao nhận và thu chặn các thông tin đối với các tội phạm có tính chất nghiêm trọng; hỏi đối tượng tình nghi và nhân chứng; đề nghị các tổ chức và cá nhân cung cấp thông tin. Ngoài ra Công tố viên có các quyền hạn đặc biệt riêng gồm: Yêu cầu phê chuẩn việc tạm giam, lệnh thả đối tượng tạm giam, lấy lời khai của nhân chứng.

Mối quan hệ giữa cảnh sát - công tố trong hoạt động điều tra là quan hệ hợp tác và phối hợp với nhau, mỗi bên có quyền năng pháp lý độc lập của mình. Song Công tố viên có vai trò chỉ đạo “điều khiển chung” các hoạt động điều tra của cảnh sát, thậm chí ra chỉ thị cho cảnh sát. Trường hợp Viện công tố trực tiếp điều tra, nếu thấy cần thiết, Công tổ viên ra lệnh cho cảnh sát và yêu cầu họ trợ giúp rong việc điều tra. Cảnh sát phải tuân theo sự chỉ đạo và chi huy của Công tố viên (Điều 193 BLTTHS).

3.3. Thẩm phán

Thẩm phán cũng đóng vai trò quan trọng trong tiến trình điều vụ án thông qua việc ban hành các lệnh bắt, giữ, trả tự do hoặc tạm giam. Để kiểm tra hoạt động điều tra của cảnh sát, hạn chế việc lạm dụng quyền hạn và xâm phạm quyền của công dân trong quá trình điều tra, BLTTHS quy định 2 hệ thống kiểm tra là kiểm tra của Công tố viên và Nguyên tắc lệnh của Thẩm phán trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn: bắt, tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam, trả tự do cho bị can, truy tố hoặc đình chỉ vụ án. Về nguyên tắc, không ai bị bắt nếu không có lệnh của Thẩm phán ngoại trừ bắt quả tang và bắt khẩn cấp. Việc khám xét, thu giữ, kiểm tra ngoài nơi bắt giữ chỉ thực hiện khi có lệnh của Thẩm phán. Chứng cứ sẽ không được chấp nhận nếu vi phạm nguyên tắc lệnh.

4. Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện công tổ và Công tố viên trong tố tụng hình sự

4.1. Công tố viên là một chủ thể đặc biệt trong tố tụng hình sự. Công tố viên có tư cách là một bên tham gia tố tụng và là người đại diện cho lợi ích công. Công tố viên đưa vụ án ra trước Tòa án trên cơ sở kết quả điều tra, đệ trình chứng cứ, tuyên bố quan điểm và tham gia phiên tòa, trên cơ sở đó đề nghị một hình phạt thích hợp sẽ được áp dụng đối với bị cáo. Công tố viên cũng có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích bị cáo (như rút lại cáo trạng vì bị cáo vô tội và đề xuất tạm hoãn thi hành án) và trách nhiệm đưa ra những chứng cứ có lợi cho bị cáo. Trong giai đoạn điều tra, Công tố viên không chỉ kiểm tra các tài liệu do cảnh sát gửi đến mà còn tiến hành điều tra những người có liên quan, kết tội bằng hình thức trực tiếp và chuẩn bị các biên bản. Các tài liệu thu thập được trong giai đoạn điều tra có thể được chấp nhận là chứng cứ tại phiên tòa. Các tài liệu của Công tố viên là chứng cứ được chấp nhận một cách đặc biệt. Công tố viên thực hiện nguyên tắc tùy nghi truy tố. Chỉ khi Công tố viên quyết định truy tố thì mới có phiên tòa xét xử. Công tố viên dự đoán kết quả của phiên xét xử và chỉ khi chắc chắn bị cáo sẽ bị phán quyết có tội và yêu cầu hình phạt thì mới quyết định truy tố.

4.2. Quyền truy tố là độc quyền của Viện công tố trong tố tụng hình sự. Ngoài Công tố viên không ai có quyền truy tố người bị tình nghi tội phạm ra trước Tòa án. Tuy nhiên có một ngoại lệ được quy định tại Điều 262, Điều 269 BLTTHS tương đương như truy tố, đó là trường hợp người khởi kiện hoặc tố giác tội phạm... khi không đồng ý với quyết định không truy tố của Công tố viên có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét hoặc trong trường hợp người bị hại rút yêu cầu thì Tòa án vẫn có thể quyết định người yêu cầu phải bồi thường một phẩn hoặc toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình tố tụng liên quan đến yêu cầu đó.

Hoạt động công tố thể hiện bằng những hoạt động tìm kiếm chứng cứ chứng minh tội phạm, đưa vụ án ra Tòa bằng bản cáo trạng, trình hồ sơ, tài liệu chứng cứ trước Tòa để buộc tội bị cáo. BLTTHS không quy định về tiêu chuẩn thu thập chứng cứ để truy tố. Về mặt lý thuyết, Công tố viên có thể truy tố vụ án khi chưa đầy đủ chứng cứ. Tuy nhiên trong thực tế một Công tố viên không bao giờ truy tố bị can khi chưa có đủ chứng cứ. Công tố viên chi truy tố bị can khi anh ta chắc chắn rằng người bị tình nghi sẽ bị Tòa án kết tội. Tuy nhiên, với quyền “độc quyển truy tố” Công tố viên lại có quyền đình chỉ vụ án, không truy tố thậm chí cả khi vụ án đó có đủ chứng cứ đảm bảo chắc chắn rằng bị can có tội. Việc quyết định truy tố hoặc không truy tố của Công tố viên trên cơ sở cân nhắc các yểu tố về tính chất tội phạm, độ tuổi, môi trường, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết phạm tội, tình huống xảy ra sau khi có sự kiện phạm tội (Điểu 248 BLTTHS).

Việc truy tố phải được quyết định bằng bản cáo trạng và gửi đến Tòa án. Ở giai đoạn trước khi xét xử, Công tố viên chỉ gửi cáo trạng đến Tòa án mà không gửi hồ sơ. Khi bắt đầu vào phiên tòa thì Công tố viên chuyển hồ sơ cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Quy định này nhằm bảo đảm cho Thẩm phán không bị thiên lệch trong việc nghiên cứu, điều tra chứng cứ để kết luận về vụ án.

Như vậy, chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Công tố viên Nhật Bản so với các hệ thống tố tụng trên thế giới, có thể thấy rõ 3 điểm khác biệt cơ bản như sau:

Một là, Công tố viên trực tiếp và chủ động tham gia các hoạt động thu thập chứng cứ một cách trực tiếp thể hiện thông qua việc tiến hành thẩm vấn người bị tình nghi và nhân chứng. Thông thường, việc điều tra do các nhân viên cảnh sát tư pháp tiến hành và Công tố viên kiểm tra lại việc điều tra sau khi tiếp nhận vụ án. Công tố viên có thể tự mình tiến hành điều tra khi thấy cần thiết, có quyền chỉ đạo nhân viên cảnh sát trong việc điều tra hoặc hợp tác với nhân viên cảnh sát trong việc điều tra.

Hai là, Công tố viên tiến hành truy tố chỉ khi việc kết án chắc chắn được đưa ra. Công tố viên độc quyền truy tố, cá nhân không được phép thực hiện việc truy tố.

Ba là, Công tố viên có quyền quyết định truy tố hoặc không truy tố theo nguyên tắc tùy nghi truy tố. Ngay cả khi không có nghi ngờ gì về tội phạm thì Công tố viên vẫn có thể lựa chọn việc không truy tố (quy định này đối lập với nguyên tắc bắt buộc truy tố trong hệ tố tụng thẩm vấn).

5. Bị cáo và quyền bào chữa của bị cáo

Quyền bào chữa, quyền được giúp đỡ về pháp lý là quyền cơ bản của người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Bị cáo, người bị tình nghi và người đại diện của họ có thể lựa chọn luật sư bào chữa bất cứ lúc nào (Điều 30). Người bào chữa có thể là luật sư hoặc bất kỳ người nào có chuyên môn pháp lý, công tâm, không trái ý bị cáo, được bị cáo nhờ hoặc Công tố viên, Tòa án chỉ định. Đại diện pháp lý, người giám hộ, vợ hoặc chồng, họ hàng trực hệ, anh chị em của bị can, bị cáo có thể độc lập chỉ định người bào chữa hoặc giúp đỡ cho bị cáo vào bất kì thời điểm nào và phải nộp đơn tại mỗi cấp xét xử.

Tòa án bắt buộc phải chỉ định người bào chữa cho bị cáo trong các trường hợp: Bị cáo là người chưa thành niên (người dưới 20 tuổi); bị cáo từ đủ 70 tuổi trở lên; bị cáo là người câm, người điếc hoặc khi nghi ngờ bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc không có khả năng nhận thức và trường hợp cần thiết khác mà bị cáo yêu cầu nhà nước chỉ định người bào chữa, về nguyên tắc trường hợp bị cáo bị truy tố về tội có mức hình phạt tử hình, tù khổ sai, chung thân hoặc tù có thời hạn tối đa từ ba năm trở lên đều phải có luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, nếu bị cáo không có khả năng thuê luật sư thì Công tố viên hoặc Thẩm phán phải chỉ định luật sư cho họ.

Bị cáo có quyền đề nghị thay đổi luật sư nếu có lý do chính đáng. Nhưng nếu lý do bị cáo đưa ra không có căn cứ thì Tòa án vẫn tiếp tục xét xử nhằm tránh việc hạn chế quyền bào chữa của bị cáo nhưng đồng thời cũng ngăn ngừa việc bị cáo lợi dụng quy định được thay đổi luật sư để trì hoãn việc xét xử.

Nhật Bản quy định Công tổ viên, bị cáo và người bào chữa có vị trí bình đẳng trong quá trình tham gia tố tụng. Do bị cáo là người không có chuyên môn pháp lý và không có bất kỳ quyền hạn gì để thu thập bằng chứng trong giai đoạn điều tra nên Luật tố tụng hình sự quy định họ có một số quyền để bảo đảm được bình đẳng về phương diện pháp lý: Quyền có luật sư biện hộ, quyền yêu cầu chỉ định một Luật sư biện hộ chính thức, quyền được liên lạc và phỏng vấn, quyền giữ im lặng... Bên cạnh đó, bị cáo có nghĩa vụ hợp tác như nghĩa vụ có mặt tại Tòa án, ở lại tòa và giữ trật tự tại Tòa (các điều 301, 36, 39, 3111).

Bị cáo và luật sư biện hộ có địa vị bình đẳng với Công tố viên và đưa ra những lập luận chống lại cáo buộc của Công tố viên. Bị cáo có địa vị bình đẳng với Công tố viên trong việc thu thập tài liệu, đưa ra chứng cứ chứng minh, tham gia các hoạt động để thu thập bằng chứng. Bị cáo, người bào chữa có quyền tham gia các hoạt động khám xét, thu giữ, yêu cầu và kiểm tra chứng cứ, chất vấn nhân chứng, tranh luận về bắt buộc chứng minh chứng cứ, phản đối việc kiểm tra chứng cứ. Bị cáo cũng có quyền yêu cầu nhập các vụ án để xét xử, chuyển vụ án, quyền đưa ra quan điểm phản bác, quyền được tiếp nhận các văn bản của Tòa án, yêu cầu thay đổi ngày xét xử (các điều 113-1, 142, 157, 2981, 30411, 308, 3091, 8, 191, 21, 49, 276-lBLTTHS).

6. Mối quan hệ buộc tội - bào chữa - Tòa án và nguyên tắc xét xử tranh tụng

6.1. Mối quan hệ luật sư bào chữa với Công tố viên

Công tố viên và luật sư bình đẳng với nhau về quyền độc lập thu thập chứng cứ và trình bày chứng cứ tại phiên tòa và Tòa án tạo điều kiện cho hai bên thực hiện quyền đó.

Quan hệ Công tố viên - người bào chữa là quan hệ đặc biệt, đối lập về mục đích hoạt động nhưng có quan hệ hợp tác trong việc tiếp cận tài liệu, đưa ra chứng cứ. Theo nguyên tắc tranh tụng, một trong các bên không có trách nhiệm đơn phương đưa ra chứng cứ cho bên kia và bên kia có thể không dễ dàng sử dụng chứng cứ thu thập được từ phía bên đối tụng. Tuy nhiên, ngay sau khi tiến hành thủ tục truuy tố, Công tố viên phải tạo điều kiện cho bị can hoặc người bào chữa tiến hành thẩm tra các tài liệu chứng cứ và đồ vật mà Công tố viên thu thập được. Công tố viên có trách nhiệm tiếp cận với người bào chữa khi có vấn đề cần được giải thích, làm rõ nhằm làm sáng tỏ lời buộc và quy định của Bộ luật hình sự được áp dụng trong bản cáo trạng đồng thời để thiết lập quan điểm tranh luận trong vụ án. Theo Điều 299 BLTTHS thì khi có yêu cầu thẩm vấn người làm chứng, Công tố viên hoặc luật sư bào chữa của bị cáo phải cung cấp cho nhau từ trước tên và địa chỉ người làm chứng, các tài liệu và chứng cứ sẽ được đưa ra trình bày. Điều này có nghĩa là nếu luật sư bào chữa trình Tòa những chứng cứ mà Công tố viên chưa biết thì Công tố viên có thể bác bỏ lý do chưa được biết về chứng cứ này. Ngay tại phiên tòa, nếu tài liệu, chứng cứ mà luật sư đưa ra không nhiều thì Tòa án sẽ tạo điều kiện để Công tố viên kiểm tra ngay tại chỗ. Ngược lại, nếu hồ sơ chứng cứ mà luật sư đưa ra quá dày, không kiểm tra ngay được thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ngừng phiên tòa để Công tố viên xem xét. Khi thấy cần thiết, Tòa án có thể triệu tập Công tố viên và người bào chữa để thảo luận với nhau về thủ tục phiên tòa sẽ diễn ra.

Theo quy định của Luật tố tụng hỉnh sự, Luật sư có quyền thu thập chứng cứ và được nghiên cứu hồ sơ của Công tố viên để chuẩn bị cho việc bào chữa. Công tố viên có quyền thu thập chứng cứ và xem hồ sơ của luật sư. Song trên thực tế cũng đã xảy ra những hậu quả bất lợi nếu tiết lộ các tài liệu bí mật trong các vụ án phạm tội có tổ chức, vụ án liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia, việc luật sư tiết lộ các tài liệu này sẽ rất nguy hiểm cho người bị hại, nhất là đối với người làm chứng và lợi ích quốc gia. Do vậy, để ngăn ngừa trước việc luật sư tiết lộ thông tin gây cản trở hoạt động điều ưa, truy tố, xét xử, Luật tố tụng hình sự Nhật Bản quy định: Không một tài liệu nào liên quan đến vụ án được công bố trước khi mở phiên tòa xét xử công khai, trừ trường hợp vì lợi ích chung hoặc vì những lý do cần thiết khác. Nếu luật sư tiết lộ thông tin mà gây cản trở cho hoạt động điều tra thì luật sư phải chịu trách nhiệm.

6.2. Nguyên tắc xét xử tranh tụng và quan hệ các bên

Thẩm phán có vai trò như một trọng tài, có quyền đưa ra phán quyết công bằng trên cơ sở bằng chứng mà Công tố viên và luật sư bào chữa đưa ra. Điều này được bảo đảm trên nguyên tắc loại trừ định kiến, chỉ đệ trình cáo trạng. Nội dung cáo trạng được trình lên Thẩm phán hết sức ngắn gọn và cô đọng, chỉ bao gồm tên và những thông tin khác về nhân thân của bị cáo, những sự kiện cấu thành tội phạm bị truy tố, tội danh. Việc nắm giữ và xử lý tài liệu điều tra được giao cho Công tố viên nhằm tránh không để Thẩm phán bị tác động bởi kết quả điều tra trong việc ra phán quyết.

Trong giai đoạn xét xử, Công tố viên chịu trách nhiệm chứng minh theo nguyên tắc tranh tụng, chỉ đệ trình cáo trạng. Thẩm phán xét xử công bằng và không định kiến. Trước khi bắt đầu phiên tòa, các Thẩm phán chỉ được đọc cáo trạng. Tất cả các tài liệu và chứng cứ thu thập được trong giai đoạn điều tra do Công tố viên giữ và lựa chọn, trình lên Tòa án với tư cách là bằng chứng theo quyết định của Công tố viên.

Nhằm ngăn chặn việc Tòa án hình thành định kiến trước khi xét xử, Tòa án chỉ xét xử tội trạng của bị cáo trên cơ sở quyết định truy tố của Viện công tố trình bày trước phiên tòa. Công tố viên có quyền thay đổi, bổ sung hoặc rút quyết định truy tố trước và trong khi mở phiên tòa. Tại phiên tòa, việc thay đổi, bổ sung quyết định truy tố không được dẫn đến việc thay đổi về tội danh, chỉ có thể khác về thông tin liên quan đến quyết định hình phạt để đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo.

Về mặt lý thuyết, Tòa án có quyền xử tội danh nhẹ hơn tội danh mà Viện công tố đã truy tố song trên thực tế, Tòa án vẫn cần có sự đồng ý của Công tố viên. Trong quá trình chứng minh tại phiên tòa, khi xét thấy cần xử bị cáo về tội danh nặng hơn thì Công tố viên thay đổi cáo trạng, nếu không Tòa sẽ yêu cầu Công tố viên làm điều đó. Trong trường hợp này Tòa án phải hoãn phiên tòa để tạo điều kiện cho Công tố viên thay đổi cáo trạng và không gây hại đến quyền bào chữa của bị cáo (Điều 312 BLTTHS).

Thủ tục xét xử được tổ chức theo nguyên tắc tranh tụng. Công tố viên và bị cáo, luật sư có quyền tranh tụng về bằng chứng đưa ra. Bị cáo có quyền giữ im lặng trong toàn bộ quá trình xét xử hoặc từ chối trả lời những câu hỏi có tính chất riêng tư. Các bên có quyền bác bỏ việc kiểm tra bằng chứng, bác bỏ biện pháp do Thẩm phán chủ tọa đưa ra. Công tố viên hoặc bị cáo có thể kháng cáo. Tuy nhiên, việc xét xử không có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn, và đây là điểm khác biệt của tố tụng hình sự Nhật Bản so với mô hình tố tụng xét xử tranh tụng (các điều 308, 311, 351).

Việc thẩm vấn các nhân chứng và bị cáo của Thẩm phán chỉ là phụ. Tòa án có thể thay đổi lịch xét xử, thay đổi chủ tọa phiên tòa, hạn chế việc thẩm vấn và lấy lời khai, tạm hoãn và mở phiên tòa mới.

Thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng trong giai đoạn truy tố và xét xử do Công tố viên quyết định, không áp dụng trong giai đoạn điều tra. Điều kiện áp dụng thủ tục này là loại tội có hình phạt tiền và mức phạt tiền không quá 5000 Yên, phải có sự đồng ý của bị can, không áp dụng đối với trường hợp bị can phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng hoặc có nhân thân xấu (có nhiều tiền án, tiền sự hoặc sau khi phạm tội không chịu khắc phục hậu quả hay không bồi thường thiệt hại).

7. Vai trò của người bị hại

Tố tụng hình sự Nhật Bản quy định đơn yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện của họ là căn cứ để đưa vụ án vào quá trình tố tụng. Điều 230 quy định người nào bị tổn hại do hành vi phạm tội gây ra có thể phát đơn khởi kiện, người đại diện pháp lý của người bị hại có thể phát đơn kiện một cách độc lập. Trường hợp người bị hại chết, vợ hoặc chồng, bố mẹ, con cái hoặc anh chị em của người bị hại có thể phát đơn khởi kiện. Nếu đơn khởi kiện được gửi đến cảnh sát thì sau khi nhận đơn khởi kiện, nhân viên cảnh sát phải gửi ngay các tài liệu và chứng cứ kèm theo cho Công tố viên. Người bị hại có thể thông báo và đưa ra lời khai trước cho Công tố viên hoặc Tòa án, nhưng trước đó phải thông báo cho Công tố viên biết về các vấn đề của vụ án, sau đó Công tố viên thông báo cho Tòa án biết quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Sau khi nhận được đơn kiện, đơn tố giác hoặc yêu cầu, Công tố viên thực hiện các biện pháp điều tra, xem xét và quyết định việc truy tố. Trường hợp không truy tố vụ án, Công tố viên phải thông báo cho người gửi đơn kiện hoặc người đề nghị biết, nêu rõ lý do của việc không truy tố. Nếu không đồng ý với quyết định không truy tố của Công tố viên, người làm đơn kiện có thể yêu cầu Tòa án cấp quận có thẩm quyền, nơi Viện công tố có Công tố viên đã ra quyết định không truy tố làm việc xem xét. Trường hợp không có người khởi kiện đối với hành vi phạm tội bị khởi tố theo đơn khởi kiện, trên cơ sở đề nghị của người có quyền lợi liên quan, Công tổ viên có thể chỉ định người khởi kiện. Người đã rút đơn kiện không được đệ đơn kiện lại.

Nếu người bị hại có yêu cẩu, Tòa án sẽ xét xử vụ án có thể cho phép người bị hại kiểm tra, sao chép biên bản phiên toà nếu việc đó là cần thiết để người bị hại thực hiện quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Quyết định của Tòa về việc chấp nhận hoặc từ chối cho người bị hại kiểm tra, sao chép biên bản phiên tòa được giải quyết theo thủ tục hành chính và do vậy không thể bị chống án lên Tòa án cấp trên.

Tố tụng hình sự Nhật Bản quy định người bị hại khi tham gia tố tụng được thực hiện một số quyền hạn sau đây với sự cho phép của Tòa án: Quyền được tham dự phiên tòa, trình bày quan điểm, được giải thích về việc thực hiện các quyền của người bị hại theo quy định của pháp luật, kiểm tra nhân chứng để khiếu nại tính đáng tin cậy của lời khai liên quan đến mình; Quyền yêu cầu xác minh chứng cứ, đặt câu hỏi cần thiết đối với quan điểm trong lời khai, nêu quan điểm về việc áp dụng pháp luật hoặc các tình tiết của vụ án; Bị hại cũng có quyền đề nghị sửa đổi lời buộc tội và kháng cáo quyết định của Tòa án (Điều 292 BLTTHS).

Một số nhận xét

Từ mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp đối tụng mà tố tụng hình sự sử dụng, địa vị pháp lý và mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử,... có thể nói mô hình tố tụng hình sự Nhật Bản mang đặc trưng cơ bản của tố tụng tranh tụng, mặc dù ngay trong nguyên tắc đặc trưng nhất của tố tụng tranh tụng đã có những yếu tố của hệ tố tụng thẩm vấn như xét xử tranh tụng không có Bồi thẩm đoàn, nguyên tắc tùy nghi truy tố, giới hạn xét xử, vai trò của Công tố viên trong giai đoạn điều tra...

Khác với tố tụng hình sự Hoa Kỳ, tố tụng hình sự Nhật Bản vận dụng nguyên tắc điều tra chính xác trên cơ sở áp dụng luật chứng cứ, không truy tố nếu khà năng có được phán quyết có tội không cao và chế độ xét xử không có bồi thẩm. Đây chính là những đặc điểm cơ bản của hệ tố tụng hình sự thẩm vấn mà Nhật Bản đã tiếp thu và thể hiện trong mô hình tố tụng hình sự của mình. Với mô hình tố tụng hình sự vừa có tính chất của hệ tố tụng tranh tụng, vừa mang đặc điểm của hệ tố tụng hình sự thẩm vấn, tố tụng hình sự Nhật Bản đã đạt được mục đích “làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án cũng như áp dụng và thực thi việc trừng trị một cách nhanh chóng tội phạm trong khi vẫn xem xét đầy đủ việc duy trì phúc lợi công và bảo đảm nhân quyên đối với từng cá nhân”.

Theo đánh giá của chuyên gia Nhật Bản thì hệ thống tố tụng hình sự hiện tại của Nhật Bản có sự kết hợp giữa luật lục địa có nguồn gốc từ Pháp, Đức và tư tưởng của thông luật từ Hoa Kỳ. Hệ thống xét xử nhấn mạnh hơn vào nguyên tắc tranh tụng. Các Thẩm phán có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh quy định về chống định kiến nhằm ngăn ngừa bất cứ suy đoán nào trước khi xét xử. Công tố viên chịu trách nhiệm thực hành quyền công tố, đồng thời đại diện cho lợi ích công. Do đó với việc ra đời của các khái niệm về tư pháp mới như nguyên tắc độc quyền truy tố của nhà nước, nguyên tắc độc quyền truy tố của Công tố viên và truy tố tùy nghi, các Công tố viên đã có vai trò tư pháp cao hơn trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự.

Có thể nói pháp luật Nhật Bản đương đại là sự kết hơp đặc biệt của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa với hệ thống pháp luật Anh - Mỹ. Trong nhiều thế kỷ, Nhật Bản đã khôn khéo trong việc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài để xây dựng hệ thống pháp luật nước mình. Trong xu thế hội nhập và phát triển chung của thế giới, không một hệ thống pháp luật nào có thể tồn tại và phát triển tách biệt hoàn toàn với hệ thống pháp luật khác, nhưng cần tìm hiểu, nghiên cứu để xem xét, tiếp thu trên cơ sở đánh giá tính phù hợp của các chế định đó với các điều kiện kinh tế, xã hội và chính trị của đất nước. Mô hình tố tụng hình sự Nhật Bản là kinh nghiệm quý báu cho chúng ta trong việc nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài để xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) phù hợp với điều kiện thực tiễn và truyền thống pháp lý đất nước, có tính khả thi và có hiệu quả cao trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo chân lý khách quan, bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản.

2. Sổ tay Kiểm sát viên hình sự Nhật Bản.

3. Tố tụng hình sự so sánh - Bản dịch của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp.

4. Các bài giới thiệu của chuyên gia Nhật Bản về hệ thống các cơ quan tư pháp Nhật Bản và mô hình Viện công tố Nhật Bàn tại các cuộc hội thảo do Dự án quốc tế cùa Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức và các nguồn khác.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi