MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG NGA

Khó có thể xác định tố tụng hình sự (TTHS) Liên bang Nga thuộc mô hình TTHS thẩm vấn hay mô hình TTHS tranh tụng bởi nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của mô hình tố tụng thì TTHS Liên bang Nga vừa có yếu tố cơ bản của tranh tụng, vừa mang đặc điểm của TTHS thẩm vấn. Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2001 của Liên bang Nga có hiệu lực ngày 01/7/2002 thay thế cho Bộ luật tố tụng hình sự năm 1960 thời Xô viết, Bộ luật năm 2001 đã thiết lập một mô hình tư pháp hình sự trên cơ sở các nguyên tắc mang tính dân chủ và pháp quyền không chỉ bảo đảm tính hiệu quả của các cơ quan thực thi pháp luật mà còn bảo đảm các quyền tự do dân chủ. BLTTHS 2001 cho thấy sự chuyển đổi mang tính cách mạng và cơ bản của mô hình tư pháp hình sự Nga từ một hệ thống tố tụng thẩm vấn có xu hướng thiên về bên công tố sang hệ thống tranh tụng dựa trên cơ sở tính bình đẳng và công bằng, bảo vệ các quyền cá nhân và trao quyền cho các bồi thẩm viên là những công dân bình thường có quyền quyết định việc có tội hay vô tội trong những vụ án hình sự nghiêm trọng. Vai trò của cơ quan tiến hành tố tụng và của các bên trong chứng minh tội phạm cũng thay đổi theo hướng bị cáo và Công tố viên tham gia một cách bình đẳng vào tiến trình tố tụng, Thẩm phán từ vai trò tích cực trong việc buộc tội chuyển sang vai trò là một trọng tài trung lập.

Bên cạnh những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự thẩm vấn, BLTTHS mới của Liên bang Nga đã bổ sung nhiều nguyên tắc tiến bộ là những nguyên tắc cơ bản của hoạt động tố tụng hình sự tranh tụng như nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc tự do đánh giá chứng cứ... Hoạt động TTHS là tổng của hoạt động thực hiện những chức năng tố tụng cơ bản: Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Trong đó chức năng buộc tội và bào chữa là hai chức năng cơ bản, song hành của tố tụng hình sự tranh tụng. Các chức năng cơ bản này hoàn toàn tách biệt nhau, độc lập với nhau và do các chủ thể khác nhau đảm nhiệm. Đặc biệt, Bộ luật năm 2001 đã quy định chuyển giao thẩm quyền ra quyết định bắt, giam giữ từ Viện kiểm sát sang Tòa án và các phiên tòa có Bồi thẩm đoàn xét xử trên phạm vi toàn quốc. Điều này cho thấy một sự pha trộn giữa truyền thống Luật dân sự của Châu Âu và thông luật Anh-Mỹ. Nhìn chung, Bộ luật năm 2001 đã thiết lập một tiến trình tư pháp hình sự mới với việc ghi nhận các quyền, trình tự, thủ tục mới, đặc biệt là bổ sung thủ tục mặc cả thú tội, quy định trách nhiệm của Liên bang Nga trong việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế mang tính ràng buộc theo những đòi hỏi cùa Công ước Châu Âu về bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản (ECHR).

Nếu như toàn bộ hoạt động TTHS của mô hình Xô viết được cấu trúc theo các giai đoạn tố tụng nối tiếp nhau thì hoạt động TTHS theo mô hình của nước Nga mới được chia làm hai thủ tục chính: Thủ tục TTHS tiền xét xử và thủ tục TTHS ở Tòa án. Trình tự, thủ tục tố tụng hình sự đã có những biến chuyển mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, từ bỏ những mục tiêu ít khả thi, có tính phô trương (như khám phá mọi tội phạm và kẻ phạm tội), rút ngắn thời hạn tố tụng giảm chi phí cho ngân sách (bổ sung thêm thủ tục rút gọn; giai đoạn điêu tra sơ bộ có thể thực hiện thông qua hình thức điều tra của các cơ quan điểu tra không chuyên trách, bỏ qua thủ tục truy tố của VKS, chuyển thẳng hồ sơ đến Toà trong thời hạn 15 ngày... đã rút gọn đáng kể thời gian giải quyết vụ án nhưng các điều kiện bảo đảm quyền, tự do của những người tham gia tố tụng vẫn được tuân thủ. Các vụ án này có thể do Thẩm phán xét xử không có sự tham gia của hội thẩm nhân dân trong thời hạn từ 3 đến 14 ngày chứ không phải 30 ngày như trước kia).

BLTTHS năm 2001 là BLTTHS thứ tư trong lịch sử của nước Nga Xô viết và nước Nga hiện nay, có nhiều đặc điểm cho phép khẳng định mô hình TTHS của LB Nga hiện nay khác biệt về chất so với mô hình TTHS Xô viết, đó là mô hình tố tụng hình sự cải biến từ nền tố tụng hình sự thẩm vấn kết hợp, tiếp thu những nội dung cơ bản tiến bộ nhất của tố tụng hình sự tranh tụng phù hợp với điều kiện thực tiễn đất Nga thời kỳ đổi mới.

Những đặc điểm cơ bản của mô hình tố tụng hình sự Liên bang thể hiện như sau:

1. Mục đích và nhiệm vụ của tố tụng hình sự Liên bang Nga

Cơ sở lý luận về tố tụng hình sự của Liên bang Nga và BLTTHS hiện hành không nêu rõ mục đích của tố tụng hình sự, tuy nhiên quy định về hệ thống nguyên  tắc của tố tụng hình sự, trình tự; thủ tục, cách thức giải quyết vụ án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa các chù thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thể hiện rõ hai mục đích của TTHS Liên bang Nga là bảo đảm hiệu quả hoạt động của cơ quan thực thi pháp luật nhằm phát hiện nhanh chóng, kịp thời, chính xác tội phạm và người phạm tội (xác định sự thật vụ án - mục tiêu cơ bản đặt ra của TTHS thẩm vấn), đồng thời bảo đảm việc áp dụng đúng đắn pháp luật không xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân (chú trọng tính công bằng trong áp dụng pháp luật tố tụng - mục tiêu cơ bản đặt ra của TTHS tranh tụng).

Nhiệm vụ của TTHS LB Nga cũng thể hiện rõ mục tiêu bảo vệ lợi ích của con người, bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức là nạn nhân của tội phạm, không hạn chế các quyền tự do cá nhân không có căn cứ và trái pháp luật, đồng thời xác định trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát (VKS) và Tòa án trong khi tiến hành tố tụng phải tôn trọng các quyền, tự do của những người tham gia tố tụng. Theo quy định tại Điều 6 Bộ luật TTHS Liên bang Nga thì tố tụng hình sự có 3 nhiệm vụ chính, đó là: Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân và tổ chức, của những người bị thiệt hại do tội phạm gây ra; đảm bảo không ai bị buộc tội, bị kết án, bị hạn chế các quyền và tự do một cách không có căn cứ và trái pháp luật; việc truy cứu trách nhiệm hình sự, áp dụng hình phạt một cách công bằng đối với người phạm tội, đồng thời không được truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người không phạm tội, minh oan cho bất cứ người nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự một cách không có căn cứ.

2. TTHS Liên bang Nga sử dụng phương pháp tố tụng truyền thống của tổ tụng hình sự thẩm vấn và tố tụng hình sự tranh tụng

Thủ tục tiền xét xử mang nặng dấu ấn của mô hình xét hỏi với một số yếu tố tranh tụng kết hợp, thể hiện ở những khía cạnh sau đây:

2.1. Phương pháp điều tra và thu thập chứng cứ

Bộ luật năm 2001 vẫn duy trì tính chất bí mật của điều tra sơ bộ và điều tra dự thẩm. Đặc biệt, Bộ luật còn quy định rằng các thông tin về cuộc điều tra không được công khai nếu không được Kiểm sát viên, Điều tra viên và Dự thẩm viên đồng ý và ngược lại họ phải thông báo trước cho những người tham gia vào cuộc điều tra về yêu cầu này và khả năng phải chịu trách nhiệm hình sự nếu tiết lộ những thông tin mà không được phép tiết lộ.

Bộ luật năm 2001 ngăn cấm việc sử dụng biện pháp đe dọa, bạo lực hay những phương pháp bất hợp pháp khác trong quá trình điều tra cũng như thực hiện những biện pháp gây nguy hiểm cho sinh mạng của những người tham dự vào việc thực hiện các biện pháp điều tra.

Việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật mới có những thay đổi quan trọng, Bộ luật năm 2001 tiếp tục trao cho Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên và Dự thẩm viên trách nhiệm thu thập và đánh giá chứng cứ. Người bị tình nghi, bị can, nạn nhân, các bên dân sự và đại diện của họ có quyền thu thập và xuất trình văn bản, tài liệu cho Điều tra viên, dự thẩm viên để đưa vào hồ sơ vụ án hình sự như một loại chứng cứ.

Luật sư cũng có quyền thu thập chứng cứ. Điều 86 (3) quyđịnh luật sư biện hộ có quyền thu thập chứng cứ bằng cách thu giữ đồ vật, tài liệu và những thông tin khác, kể cả việc thẩm vấn nếu người được thẩm vấn đồng ý và yêu cầu các cơ quan thuộc Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ cung cấp thông tin. Điều 53 (3) quy định luật sư biện hộ có quyền giữ lại chuyên gia pháp y để thu thập chứng cứ trong giai đoạn tiền xét xử và tại phiên tòa. Tuy nhiên, bên biện hộ không thể kết hợp đưa những chứng cứ đó vào hồ sơ vụ án đưa ra xem xét tại phiên tòa. Bị cáo và luật sư biện hộ phụ thuộc thiện chí của Điều tra viên và Thẩm phán trong việc đưa ra chứng cứ. Tuy nhiên, việc xuất trình những chứng cứ thu thập một cách bất hợp pháp sẽ không có giá trị pháp lý và không được công nhận mà không có bất cứ ngoại lệ nào.

Người bị tình nghi, bị can, nạn nhân, các bên dân sự và đại diện họ cũng có quyền đệ trình yêu của mình lên Điều tra viên, Dự thẩm viên hoặc Kiểm sát viên và kiến nghị lên Tòa án về những hành vi và quyết định tố tụng thích đáng để xác định các tình tiết thực tế của vụ án và để bảo đảm các quyền và lợi ích pháp lý. Bộ luật năm 2001 đòi hỏi Dự thẩm viên và Điều tra viên phải xem xét các yêu cầu, tạo điều kiện cho người bị tình nghi, bị can, nạn nhân, các bên dân sự và đại diện của họ có cơ hội trình bày, đưa nhân chứng, nhận kết luận của các chuyên gia pháp y, khoa học hình sự để chứng minh hoặc tiến hành các hoạt động điều tra khác nếu cần thiết. Khi những yêu cầu và kiến nghị như vậy được đưa ra trong giai đoạn điều tra sơ bộ thì chúng phải được quyết định ngay hoặc sau 3 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu hay kiến nghị. Quyết định từ chối những yêu cầu hay kiến nghị đó có thể bị Viện kiểm sát và Tòa án xem xét lại, bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hoặc xét lại quyết định mang tính giám sát.

Tương tự như các nguyên tắc tố tụng trong các quốc gia theo truyền thống luật dân sự khác, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2001 của Nga cho phép những vật chứng như báo cáo của các chuyên gia, nhà chuyên môn được thừa nhận là chứng cứ một cách đương nhiên. Tuy nhiên, lời khai của nhân chứng, nạn nhân không thể được coi là chứng cứ trừ những trường hợp ngoại lệ (ví dụ như bị ốm nặng, chết hoặc do thảm họa thiên nhiên...) ngăn trở họ xuất hiện trước Tòa án.  Kết quả của các hoạt động điều tra trinh sát không được coi là chứng cứ trừ khi chúng đã được hợp pháp hóa theo yêu cầu về tiêu chuẩn của chứng cứ quy định trong BLTTHS.

Theo quan điểm như đã đề cập ở trên, tố tụng hình sự của Nga tại giai đoạn điều tra sơ bộ rõ ràng là vẫn duy trì theo kiểu tố tụng thẩm vấn dưới sự kiểm soát và giám sát riêng của Kiểm sát viên và nhân viên của các cơ quan điều tra và dự thẩm. Tuy thế, Bộ luật năm 2001 xác định rằng tiến trình tố tụng bao gồm cả giai đoạn tiền xét xử và giai đoạn xét xử tại Điều 5 (9) và Điều 15 cần áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự. Quyền của bên tranh tụng trong thủ tục tiền xét xử được mở rộng hơn. Trong giai đoạn điều tra, người bị tình nghi phạm tội được gặp riêng người bào chữa của mình trong thời gian hai giờ trước khi bị hỏi cung lần đầu tiên. Người bị tình nghi chỉ có thể bị tạm giữ nếu không có lệnh của Tòa án tối đa 48 giờ kể từ khi bị tạm giữ thực tế. Bị can, bị cáo, người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp riêng thân chủ của mình không bị hạn chế về thời gian. Luật cũng thừa nhận cho luật sư của người làm chứng tham gia khi lấy lời khai của người làm chứng; ghi nhận những biện pháp bảo đảm an ninh cho người bị hại và người làm chứng, cho người thân của họ khi bị đe dọa do đã cộng tác với cơ quan tiến hành tố tụng. Điều tra viên với sự đồng ý của VKS có thể quyết định không tiết lộ thông tin cá nhân của người đó trong biên bản lấy lời khai. Người bị oan có quyền yêu cầu minh oan và bồi thường thiệt hại.

2.2.                        Thẩm quyền của Viện kiểm sát trong giai đoạn tiền xét xử và xét xử

Trong giai đoạn tiền xét xử vai trò tố tụng thuộc về cơ quan VKS, cơ quan điều tra là những cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra và áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước. Hoạt động của những cơ quan này là nội dung của chức năng buộc tội. BLTTHS bỏ quy định liệt kê cụ thể các chứng cứ làm cơ sở cho nội dung truy tố trong cáo trạng nhằm bảo đảm sự bình đẳng của các bên tranh tụng với nhau vì việc liệt kê các chứng cứ trong cáo trạng có thể dẫn đến sự hình thành niềm tin nội tâm của thẩm phán và các thành viên hội đồng xét xử về việc bị cáo có tội trước khi đưa vụ án ra xét xử. Thẩm quyền của VKS được sắp xếp lại theo hướng tập trung thẩm quyền vào chức danh Viện trưởng và Phó Viện trưởng VKS các cấp cụ thể như quyền phê chuẩn một số hoạt động điều tra, phê chuẩn việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, đình chỉ vụ án... Sự tham gia của VKS với tư cách là người buộc tội nhân danh nhà nước tại phiên tòa sơ thẩm là bắt buộc. Thẩm quyền của VKS phê chuẩn một số biện pháp cưỡng chế liên quan đến các quyền tự do hiến định của công dân nay được chuyển giao cho Tòa án.

Bộ luật TTHS quy định bên bào chữa các quyền tố tụng bình đẳng với bên buộc tội trong hoạt động chứng minh tại phiên tòa sơ thẩm. Phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án được tiến hành trên nền tảng những nguyên tắc tố tụng sau đây: Tòa án xét xử công khai, xét xử tập thể, có sự tham gia của hội thẩm nhân dân và hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán, thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật...

2.3.                        Quan hệ giữa Viện kiểm sát  và cơ quan điều tra

Luật mở rộng hơn tính độc lập của cơ quan điều tra trong quan hệ với VKS. Điều tra viên khi đồng ý với các quyết định, chỉ thị, yêu cầu của VKS về việc khởi tố can, về tội danh, phạm vi truy tố, quyết định truy tố, chuyển hồ sơ sang Tòa án, đình chỉ vụ án thì có quyền không chấp hành và báo cáo lên Viện trưởng VKS cấp trên. Khi không đồng ý với quyết định của VKS về việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn mà Điều tra viên đã áp dụng, quyết định thay đổi điều tra viên thì Điều tra viên có quyền khiếu nại đến Tòa án. Điều tra viên có quyền quyết định tách vụ án, đưa ra yêu cầu thực hiện một số hoạt điều tra hoặc hoạt động trinh sát - đặc tình có tính bắt buộc chấp hành đối với cơ quan điều tra không chuyên trách hoặc cơ quan trinh sát. Thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan điều tra trong quan hệ với Điều tra viên được mở rộng so với trước kia.Thủ trưởng cơ quan điều tra có quyền hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ, có quyền yêu cầu điều tra viên áp dụng biện pháp ngăn chặn, có quyền đề nghị VKS hủy bỏ các quyết định trái pháp luật và không có căn cứ khác của Điều tra viên. Việc mở rộng thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan điều tra nhằm bảo đảm tính hợp pháp trong hoạt động điều tra, ngăn chặn vi phạm pháp luật xâm phạm các quyền tự do hiến định của những người tham gia tố tụng.

2.4.                        Tòa án có vai trò đặc biệt, vừa là chủ thể duy nhất đảm nhiệm chức năng xét xử vừa thực hiện nhiệm vụ giám sát hoạt động tố tụng của các chủ thể trong thủ tục tiền xét xử

Toàn bộ kết quả của giai đoạn điều tra chỉ có tính chất sơ bộ, không có tính bắt buộc đối với Tòa án và Tòa án mở rộng hoạt động giám sát của mình trong thủ tục tiền xét xử. Toàn bộ Tòa án các cấp đều thực hiện thống nhất chức năng xét xử. Nhận thức mới về chức năng xét xử của Tòa án trên cở sở thừa nhận nguyên tắc phân chia quyền lực, trong đó quyền lực tư pháp là một trong ba nhánh quyền lực nhà nước độc lập có vai trò kiềm chế, cân bằng tương quan sức mạnh giữa quyền lực lập pháp và quyền lực hành pháp. Quyền lực tư pháp có nhiệm vụ giải quyết những xung đột xã hội có tính chất pháp lý, bảo vệ các quyền, tư do, lợi ích hợp pháp của công dân bị vi phạm. Hiến pháp thừa nhận công dân có quyền được yêu cầu Tòa án bảo vệ. Giám sát của Tòa án cũng là một trong những cách thức thực hiện chức năng xét xử của Tòa án. Do vậy mở rộng vai trò giám sát của Tòa án ở thủ tục tiền xét xử được đánh giá như là nhân tố tích cực bảo đảm pháp chế và hiệu quả của hoạt động TTHS, bảo đảm các quyền và lợi ích của những người tham gia tố tụng. Nhằm hoàn thiện thủ tục tiền tổ tụng trong hoạt động TTHS, BLTTHS mới đã bỏ hoàn toàn chế định Tòa án trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung. Luật chỉ cho phép Tòa án trả hồ sơ cho VKS để làm lại cáo trạng hoặc khi có những vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng cản trở xét xử của Tòa án tại phiên toà sơ thẩm. Trong thời hạn 5 ngày sau khi khắc phục những thiếu sót có tính kỹ thuật đó, VKS có nghĩa vụ chuyển lại hồ sơ cho Tòa án. Khi VKS rút toàn bộ quyết định truy tố thì Tòa án không tiến hành xét xử vụ án nữa và ra quyết định đình chi vụ án.

2.5.                        Giai đoạn điều tra có nhiều đặc điểm của mô hình xét hỏi

Điều tra vụ án là một giai đoạn độc lập của tiến trình tố tụng. Nhiệm vụ của cơ quan điều tra là tiến hành các hoạt động điều tra nhằm khám phá tội phạm và kẻ phạm tội, thu thập các chứng cứ làm cơ sở truy tố bị cáo ra Tòa án để xét xử. Trong giai đoạn này tính tranh tụng giữa các bên bị hạn chế tối đa. Quyền của bên bào chữa không tương xứng với thẩm quyền to lớn của cơ quan điều tra, VKS. Hồ sơ vụ án được lập bao gồm toàn bộ các tài liệu, văn bản tố tụng và chứng cứ. Gần như toàn bộ chứng cứ của vụ án là do cơ quan điều tra thu thập và đưa vào trong hồ sơ vụ án. Trước kia người bào chữa chỉ được tham gia vào vụ án khi kết thúc điều tra đến thời gian cuối của nhà nước Xô viết, Luật TTHS được sửa đổi cho phép người bào chữa tham gia sớm hơn - kể từ khi tống đạt quyết định khởi tố bị can. Người bào chữa và bị can chỉ có quyền đề xuất chứng cứ và chỉ được nghiên cứu hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra. Bí mật kết quả hoạt động điều tra được ghi nhận như là nguyên tắc của giai đoạn này. Như vậy, mặc dù ngay từ khi bị khởi tố, bị can và người bào chữa đã được biết về tội danh mà mình bị khởi tố nhưng lại không được biết về những chứng cứ - căn cứ của quyết định khởi tố và những chứng cứ chống lại mình, chỉ đến khi kết thúc giai đoạn điều tra bên bào chữa mới có khả năng biết được một cách đầy đủ về chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Bên bào chữa cũng không có quyền thể hiện ý kiến phản đối của mình về các chứng cứ đã được thu thập có sự vi phạm của pháp luật. Khả năng thực hiện quyền bào chữa của bên bị bào chữa rõ ràng đã bị hạn chế đáng kể trong giai đoạn này.

Ở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án có vai trò tích cực, chủ động và thực hiện nhiều thẩm quyền thuộc chức năng buộc tội như: Nghiên cứu trước hồ sơ vụ án, xem xét chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập đã đầy đủ để đưa vụ án ra xét xử hay chưa, VKS có để lọt tội hay không, tội danh truy tố có phù hợp không… thực chất là Tòa án đã đánh giá chứng cứ, đã hình thành niềm tin nội tâm của mình về việc bị cáo có tội hay không có tội trước khi xét xử. Tòa án có quyền trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung. Khi xét xử, Tòa án có quyền khởi tố vụ án khi cho rằng VKS để lọt tội phạm, có quyền tiếp tục xét xừ theo tự chung khi VKS đã rút toàn bộ quyết định truy tố. Tòa án thực hiện việc xét hỏi đầu tiên và có vai trò là người xét hỏi chính trong thi xét hỏi tại phiên tòa. TA cấp thẩm kiểm tra tính có căn cứ của bản án sơ thẩm có nghĩa là can thiệp vào việc đánh giá chứng cứ của cấp sơ thẩm...

3.               Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tham gia tố tụng

Các chủ thể tham gia hoạt động tố tụng được phân loại cụ thể như sau:

3.1.               Cơ quan tiến hành tố tụng

Đây là nhóm chủ thể chính của TTHS gồm cơ quan điều tra, VKS, Tòa án. Điểm chung của các quan này là thực hiện các hoạt động TTHS vì mục đích bảo vệ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội. Nhà nước giao cho các cơ quan này thực hiện nhiệm vụ của TTHS và hiệu quả của hoạt động TTHS phụ thuộc trước hết vào hoạt động của các cơ quan. Trong các cơ quan THTT thì VKS có vị trí hết sức đặc biệt, với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ hoạt động TTHS, VKS là cơ quan tham gia vào hoạt động TTHS xuyên suốt từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối.

Cơ quan điều tra

Pháp luật TTHS của Liên bang Nga cũng quy định hai kiểu điều tra là điều tra dự thẩm và điều tra sơ bộ. Những tội phạm nghiêm trọng hơn sẽ được điều tra theo kiểu điều tra sơ bộ. Những tội phạm ít nghiêm trọng được điều tra theo con đường dự thẩm do nhân viên điều tra dự thẩm của cơ quan điều tra dự thẩm tiến hành. Bộ Nội vụ là cơ quan có số lượng điều tra viên và dự thẩm viên lớn nhất ở Nga, có thẩm quyền điều tra chung đối với tất cả các loại tội phạm như cướp và tấn công. Các cơ quan khác điều tra và thực hiện việc thẩm tra các tội phạm liên quan đến các cơ quan thực thi pháp luật chuyên môn, họ phải có nghĩa vụ thu thập cả chứng cứ buộc tội lẫn chứng cứ gỡ tội. Ngoài ra, Viện kiểm sát và các cơ quan thực thi pháp luật khác bao gồm Cơ quan an ninh Liên bang (FSB), Cảnh sát thuế vụ, Cơ quan Hải quan và Lực lượng biên phòng cũng có thẩm quyền điều tra theo quy định của Bộ luật năm 2001.

Viện kiểm sát

Kể từ khi được thành lập với tư cách là “tai mắt của Nga hoàng” dưới triều đại Peter Đại đế, Viện kiểm sát đã là cơ quan chủ yếu chèo lái hệ thống tư pháp hình sự. Trong thời kỳ Xô viết, Viện kiểm sát được trao quyền giám sát chung đối với toàn bộ hệ thống pháp luật và thẩm quyền này hầu như còn tiếp tục được giữ nguyên cho đến thời kỳ hậu cộng sản. Địa vị tố tụng của VKS trong hoạt động TTHS bắt nguồn từ vị trí, chức năng hiến định của nó trong bộ máy nhà nước. VKS là một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập bên cạnh các hệ thống cơ quan nhà nước khác như cơ quan quyền lực nhà nước do dân cử, cơ quan hành pháp, cơ quan Tòa án. Chức năng hiến định của VKS là kiểm sát tuân theo pháp luật trong phạm vi cả nước, trong mọi lĩnh vực pháp luật. Vì vậy, khác với Viện Công tố, phạm vi hoạt động của VKS rộng hơn rất nhiều, không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực TTHS. Thậm chí ngay trong hoạt động TTHS thì thẩm quyền, chức năng của VKS cũng khác so với Viện Công tố. Pháp luật TTHS thực định ghi nhận cho VKS quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ hoạt động TTHS của tất cả các chủ thể kể cả hoạt động điều tra của cơ quan điều tra và hoạt động xét xử của TA. Viện kiểm sát có quyền giám sát quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự cũng như những thẩm quyền riêng khác trong việc ra lệnh bắt, tạm giam, phê chuẩn các biện pháp điều tra đặc biệt như khám xét, thu giữ và ghi băng... và kháng nghị các quyết định của Tòa án. Kết quả là khuynh hướng công tố mạnh đã phát triển trong hệ thống tư pháp hình sự.

Thêm vào đó, tiến trình điều tra tiền xét xử của thời kỳ Xô viết mang tính thẩm vấn cao và không công khai, thuộc sự kiểm soát riêng biệt của Điều tra viên và Kiểm sát viên. Tất cả các tài liệu điều tra chỉ do kiểm sát viên thu thập và chuyển cho thẩm phán xét xử. Do đó, theo quy định của tố tụng hình sự dưới thời Xô viết thì Kiểm sát viên chỉ có mặt tại Tòa án theo lệnh của thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử. Khi thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2001 (Bộ luật thể chế hóa rất nhiều các tiêu chuẩn quốc tế về TTHS do Hội đồng Châu Ẩu và Liên minh Châu Âu đặt ra), Bộ luật năm 2001 đã giảm một cách đáng kể quyền lực kiểm sát của VKS và phân phối lại quyền lực bằng việc tạo ra một hệ thống tư pháp hình sự trên cơ sở phân chia quyền lực, kiềm chế và đối trọng, để đảm bảo sự bình đẳng quyền lực giữa các bên truy tố với bên biện hộ và đảm bảo hệ thống Tòa án độc lập.

Theo Bộ luật năm 2001, Viện kiểm sát Nga có 3 chức năng trong lĩnh vực hình sự, đó là: Điều tra tội phạm; giám sát việc điều tra của các cơ quan điều tra và thực hành quyền công tố truớc Tòa. Các Điều tra viên của Viện kiểm sát có quyền điều tra một số tội phạm rất nghiêm trọng như bắt cóc dẫn đến chết người, các tội phạm do quan chức Nhà nước thực hiện. Các Kiểm sát viên trong Ban giám sát của viện kiểm sát chịu trách nhiệm giám sát việc điều tra vụ án hình sự để đảm bảo các hoạt động điều tra hợp pháp và mang tính hiệu quả. Đối với các vụ án ít nghiêm trọng được coi là án tư tố mà nạn nhân có thể trực tiếp đưa vụ án ra trước Tòa, Kiểm sát viên cũng phải có mặt tại Tòa.

Tòa án

Về tổ chức Tòa án, hiện nay Tòa án có thẩm quyền chung trong lĩnh vực hình sự được tổ chức theo thứ bậc 4 cấp một cách chặt chẽ gồm các Tòa hòa giải (JP), các tòa án quận, các Tòa án cấp trung gian và Tòa án tối cao Liên bang Trừ Tòa hòa giải, thẩm phán của các Tòa án còn lại đều được coi là các thẩm phán liên bang. Tòa hòa giải được thành lập từ năm 1998, có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, xét xử các vụ án tư tố về những tội phạm có hình phạt tối đa không quá 3 năm tù giam. Các vụ án này được xét xử bởi một thẩm phán chuyên nghiệp gọi là thẩm phán hòa giải.

Các Tòa án quận xét xử các tội phạm hình sự không thuộc thẩm quyền của Tòa hòa giải, các Tòa án trung cấp và Tòa án tối cao. Thẩm quyền tư pháp của Tòa án này trên thực tế rất rộng, giải quyết đến 3/4 số vụ án hình sự ở Nga. Các vụ án ở Tòa án quận được xét xử trước 1 thẩm phán. Các thẩm phán Tòa án quận cũng có trách nhiệm xem xét lại các yêu cầu của Viện kiểm sát về vấn đề tạm giam tiền xét xử và gia hạn tạm giam cũng như xem xét các khiếu nại liên quan đến mệnh lệnh của nhân viên điều tra dự thẩm hoặc Điều tra viên, các quyết định của Viện kiểm sát từ chối khởi tố hoặc đình chỉ vụ án hình sự, các quyết định, hành động hoặc không hành động khác xâm phạm đến các quyền hiến định và tự do của những người tham gia tố tụng hoặc cản trở công dân tiếp cận công lý. Một Thẩm phán Tòa án quận sẽ xét xử phúc thẩm các kháng cáo, kháng nghị vụ án từ các Tòa án hòa giải chuyển lên.

Các Tòa án cấp trung gian (các chủ thể thuộc liên bang) có thẩm quyền xét xử các tội phạm nghiêm trọng và rất nghiêm trọng quy định tại Điều 31 (3) như tội phạm có tổ chức và giết người ở mức nghiêm trọng, các tội phạm chống lại Nhà nước như phản quốc, khủng bố, hoạt động gián điệp và việc truy tố hình sự liên quan đến bí mật quốc gia. Những vụ án hình sự này có thể được xét xử bằng một Thẩm phán, một Hội đồng xét xử gồm 3 Thẩm phán hoặc 1 Thẩm phán và Bồi thẩm đoàn.

Tòa án tối cao Liên bang Nga là Tòa án cấp sơ thẩm xét xử những loại tội phạm đặc biệt do những người được quy định tại Điều 452 Bộ luật tố tụng năm 2001 thực hiện như thành viên nghị viện (các thành viên của Duma quốc gia và Hội đồng liên bang) và các thẩm phán liên bang. Tòa án này cũng xét xử các vụ án hình sự nằm ngoài thẩm quyền tài phán theo luật liên bang hoặc Hiến pháp liên bang.

Thêm vào đó, các Tòa án chủ thể thuộc liên bang và Tòa án tối cao liên bang đều có quyền phá án và xem xét mang tính giám sát đối với các quyết định của các Tòa án cấp dưới. Các Tòa án quân sự có quyền tài phán đối với những tội phạm do nhân viên và quân nhân dự bị thực hiện.

Trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2001, các Thẩm phán không được đánh giá cao về vị trí, vai trò của họ trong TTHS và có mức lương thấp. Họ cùng xét xử trong một hội đồng với hai Thẩm phán không chuyên khác gọi là Hội thẩm nhân dân. Theo Bộ luật năm 2001, sự độc lập và thẩm quyền của các Thẩm phán được tăng cường một cách đáng kể. Thẩm phán có trách nhiệm giám sát các hoạt động điều tra và bảo vệ các quyền cá nhân. Bên cạnh đó, vai trò của Thẩm phán trung lập hơn trong tiến trình tranh tụng trước Tòa. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2001 đã quy định chế độ xét xử có bồi thẩm đoàn và chế định hội thẩm nhân dân bị xóa bỏ vào đầu năm 2004.

3.2.Các chủ thể khác

Người bào chữa

Do thẩm quyền của Viện kiểm sát bao trùm toàn bộ tiến trình điều tra tiền xét xử nên các luật sư biện hộ thời Xô viết không có vai trò gì trong giai đoạn tiền xét xử và trên thực tế, họ chỉ có thể kiểm tra hồ sơ vụ án sau khi việc điều tra đã hoàn tất. Tại phiên tòa, sự có mặt của người bào chữa chỉ mang tính hình thức. Tham gia với vai trò bào chữa cũng có thể là các thành viên trong gia đình hoặc cán bộ của liên đoàn lao động. Họ chỉ cố gắng chỉ ra những sai sót trong quá trình tiến hành tố tụng, làm giảm tính nghiêm khắc của bản án hoặc trì hoãn xét xử.

Sau sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, mô hình tố tụng thẩm vấn vẫn được duy trì, nhất là trong giai đoạn điều tra, xét xử nhưng luật sư biện hộ được có thêm một số quyền trong giai đoạn tiền xét xử như: quyền được tham gia vào một số hoạt động điều tra liên quan đến bị cáo như thẩm vấn, quyền kiến nghị với Điều tra viên tiếp nhận những chứng cứ đảm bảo cho việc biện hộ và đệ trình các vấn đề còn chưa rõ lên chuyên gia pháp y và những nhà chuyên gia trong lĩnh vực khác mặc dù Điều tra viên có thể từ chối những yêu cầu này. Luật sư biện hộ phải tham gia vào cả giai đoạn điều tra tiền xét xử và giai đoạn xét xử tại phiên tòa trong thủ tục tố tụng hình sự liên quan đến người thành niên, người mù, điếc hoặc bị cáo có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, những người không nói được được tiếng Nga hoặc bị buộc những tội có thể bị kết án tử hình. Bộ luật năm 2001 đã quy định về luật sư biện hộ trên toàn nước Nga phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, đáng chú ý nhất là sự bình đẳng giữa luật sư biện hộ với bên công tố trong tố tụng hình sự cũng như các điều kiện bảo đảm cho luật sư thực hiện các quyền của mình như được xuất trình chứng cử tại phiên xét xử sơ bộ hoặc vào thời điểm khai mạc phiên tòaNgười bị tình nghi, bị can, bị cáo, người bị hại

Bộ luật năm 2001 đã bổ sung một số quy định về thủ tục bảo vệ quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo phù hợp với cam kết về nhân quyền của Công ước Châu Âu mà Nga đã ký kết. Đó là việc bắt buộc phải có sự cho phép của Tòa án đối với những hoạt động xâm phạm quyền riêng tư như khám nhà, thu giữ thư tín... và xâm phạm đến quyền tự do của con người như bắt, tạm giữ, tạm giam, quyền giữ im lặng, quyền được có luật sư đại diện một cách phù hợp kể từ khi bị bắt, loại trừ những bằng chứng được thu thập một cách bất hợp pháp và nghĩa vụ tích cực của các Thẩm phán, Kiểm sát viên và các nhân viên thực thi pháp luật để đảm bảo rằng những quyền cơ bản nảy được thực hiện trên thực tế.

Vị trí của người bị hại tiếp tục được Bộ luật năm 2001 ghi nhận là một bên trong TTHS. Địa vị này giúp cho người bị hại có đủ các quyền quan trọng trong tố tụng, bao gồm cả quyền xuất trình chứng cứ, tham gia phiên tòa và được Tòa án cấp trên xem xét quyết định của Tòa án cấp dưới. Họ cũng có thể hành động như một công tố viên tư nhân trong trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng.

Ở Nga, các vụ kiện dân sự bên ngoài vụ án hình sự được xét xử đồng thời với vụ án hình sự. Do đó, các bên dân sự (nguyên đơn và bị đơn) cũng được coi là các bên trong tố tụng hình sự.

4.Các giai đoạn TTHS

4.1.Giai đoạn khởi tố, điều tra dự thẩm điều tra sơ bộ

Bộ luật năm 2001 của Nga quy định vụ án hình sự được khởi tố vào thời điểm mà tội phạm được phát hiện cho dù đã phát hiện được người phạm tội hay chưa. Các Dự thẩm viên, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều có thẩm quyền ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, thủ tục điều tra chính thức bắt đầu và hồ sơ vụ án được Điều tra viên (hoặc Dự thẩm viên), những nguời sẽ tiến hành điều tra vụ án trong suốt giai đoạn điều tra lập ra. Tài liệu đầu tiên trong hồ sơ vụ án thường là quyết định khỏi tố vụ án hình sự. Tất cả mọi chứng cứ được thu thập sau đó cũng được đưa vào hồ sơ vụ án dưới hình thức một loại văn bản tố tụng chính thức gọi là biên bản. Bộ luật năm 2001 quy định rằng mỗi hoạt động điều tra phải được lập biên bản. Những người tham gia vào một hoạt động điều tra nhất định có quyền kiểm tra biên bản, đưa ra nhận xét và bổ sung vào biên bản. Bộ luật cũng quy định các thủ tục nhằm giữ bí mật nhân dạng của nạn nhân, các nhân chứng và một số người tham gia tố tụng khác trong biên bản như một biện pháp cần thiết để đảm bảo sự an toàn của họ. Không có đạo luật riêng nào về chứng cứ ở Nga, tất cả các nguyên tắc chứng cứ được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự.

Khi đã chính thức mở ra thủ tục tố tụng thì vụ án có thể được điều tra theo hai kiểu điều tra là điều tra dự thẩm và điều tra sơ bộ.

Điều tra dự thẩm được quy định tại Điều 5(8) là hình thức điều tra ngắn và đơn giản của điều tra sơ bộ, do nhân viên điều tra của cơ quan điều tra dự thẩm tiến hành (gọi chung là cảnh sát - Bộ Nội vụ) ngay sau khi tội phạm xảy ra. Đây là hình thức điều tra được áp dụng đối với những tội phạm ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, trong những trường hợp tội phạm nghiêm trọng thì việc điều tra dự thẩm vẫn có thể được tiến hành dưới hình thức các hoạt động điều tra khẩn cấp để bảo vệ chứng cứ trước khi bắt đẩu việc điều tra sơ bộ. Các tội phạm được quy định phải điều tra dự thẩm bao gồm: tấn công và bạo hành, vu cáo, tước đoạt tự do một cách bất hợp pháp, xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác, trộm cắp, lừa đảo và biển thủ công quỹ ở mức độ ít nghiêm trọng, đơn giản, cướp, sở hữu nguyên liệu hạt nhân và thiết bị phóng xạ, trồng trái phép các loại cây bị cấm như gai dầu, anh túc và các loại cây khác có chưa chất ma túy, tổ chức chứa chấp mại dâm, không thi hành các quyết định hay phán quyết của Tòa án. Các vụ án hình sự nhỏ hoặc không quá nghiêm trọng cũng có thể được điều tra theo kiểu dự thẩm theo lệnh bằng văn bản của Kiểm sát viên. Tất cả các tội phạm khác được quy định trong Bộ luật hình sự của Nga phải được điều tra theo con đường điều tra sơ bộ. Các cơ quan dự thẩm sau đây có thẩm quyền điều tra dự thẩm, đó là: Bộ Nội vụ, Cảnh sát thuế vụ, Lực lượng biên phòng, Cơ quan thi hành án, Hải quan, Cơ quan cứu hỏa quốc gia và Viện kiểm sát. Điều 151 của Bộ luật năm 2001 mô tả các tội phạm mà từng cơ quan có thẩm quyền điều tra theo kiểu dự thẩm và Chương 32 BLTTHS (Điều 223 - Điều 226) quy định các thủ tục thực hiện điều tra dự thẩm. Luật chỉ rõ rằng việc điều tra dự thẩm phải hoàn thành trong vòng 20 ngày và có thể gia hạn 10 ngày theo quyền tự quyết của kiểm sát viên sau khi khởi tố vụ án.

Việc điều tra sơ bộ do Điều tra viên được đào tạo chuyên môn pháp lý và nghiệp vụ điều tra tiến hành đối với những vụ án nghiêm trọng hơn. Viện kiểm sát, Bộ Nội vụ, Cơ quan an ninh liên bang và Cảnh sát thuế vụ thực hiện việc điều tra sơ bộ trên cơ sở thẩm quyền riêng của mình đối với với các tội phạm khác nhau quy định tại Điều 151 BLTTHS. Điều tra viên của Viện kiểm sát có quyền tiến hành điều tra sơ bộ đối với những tội phạm rất nghiêm trọng và những tội phạm có liên quan đến các quan chức của cơ quan Chính phủ, cơ quan pháp luật và cơ quan thực thi pháp luật. Cơ quan an ninh liên bang thực hiện việc điều tra sơ bộ đối với những tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia bao gồm những tội phạm như tiết lộ bí mật Nhà nước, buôn lậu vật liệu hạt nhân và xuất khẩu trái phép công nghệ và nguyên liệu thô. Điều tra viên của Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm điều tra các vụ án có tính chất nghiêm trọng và phạm vi thực hiện tội phạm trên quy mô lớn bao gồm những tội như cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, rửa tiền, các tội xâm phạm đến thương hiệu và lạm quyền.

Theo Bộ luật năm 2001, thời hạn điều tra sơ bộ là 2 tháng kể từ thời điểm khơi tố vụ án cho đến khi chuyển hồ sơ cho Kiểm sát viên để ra cáo trạng. Thời hạn này có thể được Kiểm sát viên cấp quận và thành phố (và cấp phó của người đó) gia hạn đến 6 tháng. Đối với những vụ án đặc biệt phức tạp thì Viện trưởng Viện kiểm sát thuộc chủ thể liên bang Nga có thể quyết định gia hạn điều tra đến 12 tháng. Thời hạn gia hạn này cũng có thể được áp dụng đối với những vụ án ngoại lệ và chỉ duy nhất Viện trường Viện kiểm sát tối cao liên bang Nga hoặc Phó Viện trưởng quyết định. Bộ luật năm 2001 quy định bị can và luật sư biện hộ của họ, người bị hại và đại diện của người bị hại được thông báo về việc gia hạn này. Tuy nhiên, Bộ luật lại không quy định trách nhiệm pháp lý đối với việc vi phạm thời hạn điều tra dẫn đến trên thực tế có những vụ án mà thời hạn điều tra sơ bộ cũng tương ứng với thời hạn tạm giam tiền xét xử.

Bộ luật năm 2001 giao trách nhiệm cho Kiểm sát viên giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra cũng như thẩm quyền đưa ra quyết định liên quan đến những nhân viên tham gia vào quá trình điều tra của các cơ quan khác nhau, trách nhiệm chỉ đạo các nhóm điều tra (lực lượng đặc nhiệm hỗn hợp).

4.2.Kết thúc điều tra vụ án hình sự

Khi Điều tra viên xác định đã thu thập đủ chứng cứ cần thiết để buộc tội bị can và việc điều tra đã hoàn tất thì phải thông báo cho bị can về quyền được tự mình hoặc với sự trợ giúp của luật sư biện hộ hoặc người trợ giúp pháp lý xem toàn bộ hồ sơ vụ án. Điều tra viên cũng phải thông báo cho luật sư, người bị hại và các bên dân sự tham gia tố tụng về việc kết thúc điều tra. Theo quy định, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và đại diện của họ cũng có quyền yêu cầu được xem toàn bộ hoặc một phần hồ sơ vụ án. Sau đó, Điều tra viên phải đưa ra những giới hạn về tài liệu, chứng cứ có thể cho bị can và luật sư của họ xem xét. Những bức ảnh, băng ghi âm và video cũng như các chứng cứ khác trong biên bản ghi nhận các hoạt động điều tra cũng phải được cung cấp cho bị can để kiểm tra nếu có yêu cầu.

Theo Bộ luật TTHS năm 2001, thời gian để luật sư biện hộ xem xét hồ sơ vụ án hình sự không bị hạn chế. Bị can và luật sư bào chữa của mình có quyền tiếp cận hồ sơ vụ án cũng như sao lại toàn bộ hồ sơ. Tuy nhiên, những tài liệu bí mật trong hồ sơ phải được lưu giữ và chỉ có thể cho bị can và luật sư thấy tại phiên tòa. Khi hồ sơ vụ án đã được bị can và luật sư xem xét, họ có thể đệ trình kiến nghị điều tra bổ sung lên Điều tra viên. Vào thời điểm này, họ cũng sẽ được yêu cầu phân loại nhân chứng, các chuyên gia hoặc nhà chuyên môn mà mình muốn thẩm vấn hoặc triệu tập để phục vụ cho việc biện hộ. Điều tra viên phải công bố và giải thích cho bị can về quyền được đưa ra các yêu cầu: a) Được xét xử có bồi thẩm đoàn (nếu có thể áp dụng) và giải thích về các thủ tục đặc trưng của việc xét xử có bồi thẩm đoàn bao gồm các quyền của bị cáo tại phiên tòa và các thủ tục chống án đối với phán quyết của phiên tòa có bồi thẩm đoàn; b) Được xét bởi một hội đồng gồm 3 thẩm phán liên bang (nếu có thể áp dụng); c) xét xử theo các thủ tục đặc biệt để rút ngắn phiên tòa Theo quy định của Bộ luật năm 2001, khi kết thúc điều tra, Điều tra viên phải làm bản kết luận điều tra để phòng ngừa việc điều tra bồ sung trái phép.

4.3.Bản cáo trạng

Sau khi hoàn thành việc điều tra, Điều tra viên phải dự thảo bản cáo trạng và chuyển bản cáo trạng cùng với hồ sơ vụ án cho Kiểm sát viên xem xét. Bản dự thảo cáo trạng chỉ rõ những lời buộc tội chống lại bị can, cung cấp dữ liệu cá nhân về bị can, liệt kê chứng cứ hỗ trợ cho việc truy tố và những chứng cứ gỡ tội mà bên biện hộ dựa vào và cả những thông tin về người bị hại, tính chất và mức độ thương tổn. Trong phần phụ lục của bản cáo trạng là danh sách các nhân chứng được triệu tập phiên tòa cũng như thông tin về thời hạn điều tra sơ bộ, các biện pháp cưỡng chế tiền xét xử đã được áp dụng và các vấn đề quan trọng khác.

Khi Kiểm sát viên nhận được cáo trạng và hồ sơ vụ án, kiểm sát viên phải xem xét toàn bộ hồ sơ để bảo đảm rằng việc điều tra sơ bộ được tiến hành theo đúng thủ tục pháp luật quy định và những lời buộc tội là có căn cứ, được chứng minh bằng các chứng cứ có trong hồ sơ. Trong thời hạn 5 ngày kể từ khi nhận được cáo trạng và hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên phải quyết định: Phê chuẩn cáo trạng và chuyển hồ sơ vụ án hình sự sang Tòa án; Đình chỉ vụ án; Quyết định truy tố bị can; Trả lại hồ sơ vụ án cho điều tra viên để tiến hành điều tra bổ sung hoặc dự thảo lại cáo trạng; Chuyển bản cáo trạng đến một kiểm sát viên cấp trên nếu vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên. Kiểm sát viên phụ trách vụ án có thể phê chuẩn cáo trạng nhưng thay đổi tội danh của bị cáo hoặc sửa đổi danh sách nhân chứng của Viện kiểm sát. Kiểm sát viên phụ trách vụ án có thể huỷ bỏ, thay đổi hoặc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tiền xét xử trừ biện pháp giam giữ tại gia hoặc tạm giam thuộc thẩm quyền quyết định của Tòa án. Kiểm sát viên phải trả tự do cho bị can nếu thời hạn tạm giam của người đó đã hết.

Bản luận tội

Trong trường hợp điều tra vụ án về tội phạm ít nghiêm trọng bằng phương pháp điều tra dự thẩm, Bộ luật năm 2001 quy định rằng, Dự thẩm viên dự thảo bản luận tội và cho bị can và luật sư của họ xem hồ sơ vụ án. Nếu người bị hại và đại diện của họ có yêu cầu thì cũng có thể cho họ xem hồ sơ vụ án. Bản luận tội có nội dung về cơ bản giống như bản cáo trạng và phải được thủ trưởng cơ quan điều tra dự thẩm phê chuẩn trước khi gửi cho Kiểm sát viên xem xét. Trong thời hạn 2 ngày kể từ khi nhận được bản luận tội, Kiểm sát viên quyết định: Phê chuẩn và chuyển vụ án hình sự sang Tòa án; Trả lại vụ án và hướng dẫn bằng văn bản về việc thẩm tra bổ sung hoặc sửa đổi lời buộc tội; Đình chỉ vụ án; Chuyển vụ án sang điều tra bằng hình thức điều tra sơ bộ.

Khi đã được Kiểm sát viên phê chuẩn, bản cáo trạng hoặc bản luận tội được chuyển cho Tòa án cùng với hồ sơ vụ án và các tài liệu phụ trợ. Những tài liệu, hồ sơ này cũng có thể được chuyển cho bị can, luật sư và người bị hại. Trong trường hơp vụ án có bản cáo trạng thì khi Kiểm sát viên chuyển vụ án sang Tòa án, Kiểm sát viên phải thông báo cho bị can, luật sư biện hộ, người bị hại, các bên dân sự và đại diện của họ có quyền lợi liên quan để đệ trình kiến nghị của họ trong giai đoạn xét xử sơ bộ.

4.4.Chuẩn bị xét xử và xét xử sơ bộ

Khi vụ án được chuyển sang Tòa án thì trước hết, thẩm phán phải xác định vụ án có thuộc thẩm quyền của mình hay không. Nếu nhận thấy vụ án không thuộc thẩm quyền của mình thì thẩm phán chuyển vụ án đó cho Tòa án có thẩm quyền. Sau đó, thẩm phán phải xác nhận cáo trạng hoặc bản luận tội là phù hợp, quyết định có huỷ bỏ, thay đổi các biện pháp cưỡng chế tiền xét xử hay không và có cho phép đưa ra kiến nghị hoặc khiếu nại không; xác định xem có căn cứ để tổ chức xét xử sơ bộ không. Thẩm phán cũng có thể cho phép việc kiểm tra thêm hồ sơ vụ án. Cuối cùng, Thẩm phán ấn định ngày xét xử sơ bộ hoặc ghi vào sổ thụ lý ngày đưa vụ án ra xét xử chỉnh thức và phải thông báo quyết định này cho bị can, người tham gia tố tụng khác và Kiểm sát viên. Theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2001, thời hạn chuẩn bị xét xử là 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và là 14 ngày đối với trường hợp bị can bị tạm giam trong giai đoạn tiền xét xử.

Quy định về thủ tục xét xử sơ bộ là quy định mới của Bộ luật TTHS năm 2001 và được áp dụng cho cả phiên tòa có bồi thẩm đoàn cũng như phiên tòa xét xử chỉ với những thẩm phán chuyên nghiệp. Các Tòa án tự mình hoặc theo kiến nghị của một bên tham gia tố tụng quyết định việc xét xử sơ bộ nếu có một trong những căn cứ sau:

-               Có một bên tham gia tố tụng kiến nghị loại trừ chứng cứ;

-               Có căn cứ cho rằng cần trả lại hồ sơ vụ án cho kiểm sát viên;

-                 Có căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án hình sự;

-               Quyết định xem liệu vụ án có cần phải xét xử bằng bồi thẩm đoàn hay không.

Thủ tục xét xử sơ bộ được tiến hành có sự tham gia của các bên. Bị can có thể lựa chọn thủ tục xét xử rút gọn tại phiên xét xử sơ bộ. Điều 234(7) quy định bên biện hộ có quyền đề nghị, yêu cầu bổ sung thêm chứng cứ như nhân chứng hoặc nhân chuyên gia. Đề nghị, yêu cầu này được Tòa án xem xét và chấp nhận nếu thấy hợp lý, cần thiết. Quy định này cho phép bị can được đưa ra những bằng chứng mới, là một tiến bộ quan trọng trong việc bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự ở Nga.

4.5.Trả lại hồ sơ vụ án cho Kiểm sát viên

Theo pháp luật tố tụng hình sự thời kỳ Xô viết, việc trả lại hồ sơ vụ án cho Kiểm sát viên để tiến hành điều tra bổ sung là để đảm bảo việc buộc tội có căn cứ. Thủ tục này vẫn tiếp tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2001 nhưng với căn cứ hạn chế hơn. Tòa án có quyền trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát trong thời hạn 5 ngày trong các trường hợp:

-                Bản cáo trạng hoặc bản luận tội vi phạm quy định của Bộ luật mà có thể dẫn đến việc ban hành một phán quyết hay một quyết định trên cơ sở cáo trạng sẽ không đúng đắn, chính xác;

-               Bản sao của cáo trạng hay luận tội không được chuyển cho bị can;

-                Bản cáo trạng hoặc luận tội cần thiết cho việc giải quyết vụ án, trước đó đã được chuyển cho Tòa án để ra lệnh bắt buộc chữa bệnh;

-               Mối liên hệ đưa ra trong vụ án hình sự là không phù hợp và bị can chưa được thông báo về quyền được xét xử có bồi thẩm đoàn.

Bộ luật cũng quy định không cho phép Kiểm sát viên thực hiện bất kỳ hoạt động điều tra hoặc thủ tục tố tụng nào vượt quá phạm vi đã được quy định và bất kỳ bằng chứng nào được thu thập, những thủ tục tố tụng nào được thực hiện trong thời hạn 5 ngày sẽ không được chấp nhận là có giá trị pháp lý. Đến năm 2003, với quy định của Tòa án Hiển pháp Liên bang Nga, các Tòa án Nga có thể trả lại hồ sơ vụ án hình sự cho Viện kiểm sát nếu có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn tiền xét xử mà không thể khắc phục được tại phiên tòa.

4.6. Xét xử

Khi không có những căn cứ quy định việc xét xử sơ bộ hoặc chuyển vụ án thì Thẩm phán phải định ngày đưa vụ án ra xét xử. Lệnh ghi trong sổ thụ lý về việc đưa vụ án ra xét xử phải ghi rõ thành phần hội đồng xét xử, chỉ định luật (nếu luật quy định), những người sẽ được triệu tập ra trước Tòa án trên cơ sở danh sách do các bên đệ trình, phiên tòa có mở công khai hay không và trừ khi cần thiết phải giam giữ tại gia hoặc tạm giam thì biện pháp cưỡng chế tiền xét xử nào có thể cần áp dụng. Khi đã lên lịch xét xử, bị cáo không có quyền kiến nghị xét xử có bồi thẩm đoàn hay xét xử sơ bộ nữa. Sau đó, lệnh triệu tập được chuyển đến những người phải trình diện trước Tòa án. Bộ luật quy định rằng việc xét xử phải được bắt đầu không quá 14 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đổi với phiên tòa có bồi thẩm đoàn thì việc xét xử phải được bắt đầu không quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thủ tục xét xử tại Tòa án quận do một thẩm phán thực hiện và tại cấp Tòa án các chủ thể thuộc liên bang thì do hội đồng xét xử gồm 3 thẩm phán (với 1Thẩm phán chủ tọa) hoặc 1 Thẩm phán và Bồi thẩm đoàn thực hiện.

Theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2001, tại tất cả các phiên tòa xét xử, các bên đều phải tiến hành tranh tụng để đáp ứng yêu cầu của Công ước Châu Âu về nhân quyền. Như một nguyên tắc chung, các phiên tòa phải được công khai, bình đẳng, trực tiếp và bằng lời. Theo các tiêu chuẩn quốc tế, tố tụng hình sự của Nga cho phép Tòa án tổ chức các phiên xét xử kín vì lý do an ninh quốc gia, trong các vụ án liên quan đến người chưa thành niên và để ngăn ngừa việc tiết lộ những thông tin về đời tư của những người tham gia tố tụng hoặc những bí mật được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, các quyết định của Tòa án phải được công bố công khai.

Bộ luật TTHS năm 2001 cho thấy tố tụng hình sự của Nga đã có một số sửa đổi theo hướng bảo đảm tố tụng công bằng, rõ rệt nhất là những bảo đảm về quyền bình đẳng về quyền giữa Viện kiểm sát và luật sư biện hộ. Luật sư biện hộ phải có mặt tại phiên tòa trong những trường hợp xét xử có bồi thẩm đoàn, vụ án liên quan đến người chưa thành niên, người không có năng lực hành vi hoặc bị cáo không nói được tiếng Nga hay liên quan đến những tội phạm có thể bị phạt tù trên 15 năm. Trong tất cả những trường hợp khác, bị cáo có quyền khước từ quyền có luật sư. Nếu luật sư do thuê hay do chỉ định không có mặt tại Tòa và không thể thay thế ngay lập tức thì việc xét xử phải được tạm đình chỉ. Bộ luật năm 2001 còn ngăn cấm việc tạm giam quá 6 tháng (9 tháng đối với trường hợp phạm tội nghiêm trọng và rất nghiêm trọng) kể từ ngày vụ án được đệ trình lên. Luật tố tụng cũng trao quyền cho  thẩm phán có thể xem xét áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp cưỡng chế đã được thực hiện trong giai đoạn tiền xét xử.

Xét xử không có bồi thẩm đoàn

Bộ luật TTHS năm 2001 quy định một loạt các thủ tục sơ bộ nhưng rất quan trọng được tiến hành trước khi bắt đầu tranh luận. Sau khi thẩm phán chủ toạ khai mạc phiên tòa bằng việc thông báo tên vụ án sẽ được xét xử thì báo cáo viên của Tòa án xác nhận và thông báo những người được triệu tập tham dự phiên tòa đã có mặt và những người vắng mặt cùng lý do vắng mặt của họ. Thẩm phán chủ tọa công bố và giải thích cho các bên về quyền cầu thay đổi Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán. Tiếp đó, Thẩm phán xem xét các kiến nghị từ các bên liên quan đến vấn đề nhân chứng mới, các chuyên gia pháp y và nhà chuyên môn cũng như các vật chứng và tài liệu. Những kiến nghị, yêu cầu loại trừ chứng cứ cũng được xem xét, kể cả khi những yêu cầu đó bị từ chối trước khi xét xử. Tất cả các kiến nghị phải được Thẩm xem xét và chấp nhận hoặc từ chối ngay lập tức. Sau cùng, Thẩm phán chủ tọa phải quyết định liệu có hoãn phiên tòa hay không khi có sự vắng mặt của một bên, người mà đã được triệu tập hợp pháp nhưng không trình diện trước Tòa. Tòa án có thể ban hành lệnh kèm theo giấy triệu tập hoặc lệnh bắt đối với từng người vắng mặt.

Mặc dù đã tiếp thu các quy định về tranh tụng của hệ thống thông luật, nhưng Bộ luật năm 2001 vẫn tiếp tục duy trì một số tiêu chuẩn của hệ thống luật lục địa, đặc biệt là nguyên tắc tự do đánh giá chứng cứ. Một số tài liệu nhất định trong hồ sơ vụ án có thể được thừa nhận một cách trực tiếp là chứng cứ tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2001, đó là các biên bản báo cáo kết quả khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xét, thu giữ và nhận dạng cũng như các kết luận của chuyên gia giám định hoặc nhà chuyên môn. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2001, Hội đồng xét xử phải kiểm tra chứng cứ tại phiên tòa và vì thế, các tài liệu nêu trên phải được đọc tại phiên tòa. Mặc dù vậy, phù hợp với quy định về quyền được đối chất theo Điều 6 Công ước Châu Âu về nhân quyền, Bộ luật TTHS năm 2001 yêu cầu phải có lời khai của nhân chứng, người bị hại và bị cáo tại phiên tòa, hạn chế nghiêm ngặt các trường họp công bố tại phiên tòa lời khai của họ trong giai đoạn tiền xét xử.

Sau khi các bên đã đệ trình chứng cứ, Tòa án sẽ mời các bên đưa ra tuyên bố cuối cùng. Kiểm sát viên và luật sư biện hộ (hoặc bị cáo nếu luật sư biện hộ không có mặt) cũng như người bị hại và đại diện của họ có quyền nói lời sau cùng. Các bên dân sự cũng có quyền này nếu họ có yêu cầu. Sau khi bị cáo nói lời sau cùng, Tòa án vào phòng nghị án.

Đối với tội phạm mà bị cáo bị cáo buộc, Điều 299 BLTTHS quy định rằng Tòa án phải quyết định là có chứng minh được hành vi mà bị cáo bị cáo buộc hay không và nếu có thì phạm vào tội nào của Bộ luật hình sự, có cần phải trừng phạt bị cáo về tội phạm đó không, có những yếu tố tăng nặng hay giảm nhẹ nào, hình phạt và biện pháp nào (nếu có) mà bị cáo cần phải chịu, có những căn cứ kết án bị cáo có tội mà không cần ra bản án hoặc có thể cho người đó miễn hình phạt không, bản án có cần phải tuyên cả phần dân sự trong vụ án hình sự không và nếu có thì ai được bồi thường và bồi thường như thế nào. Khi Tòa án xét xử bằng hội đồng xét xử gồm các thẩm phán thì những vấn đề nêu trên được quyết định dựa trên kết quả biểu quyết theo đa số.

Tòa án phải tha bổng bị cáo nếu không chứng minh được tội phạm mà người đó bị cáo buộc (bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội hoặc hành vi của bị cáo không đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự). Tòa án cũng phải ban hành một phán quyết tha bổng nếu bồi thẩm đoàn đưa ra kết luận vô tội. Hơn nữa, một phán quyết có tội không thể dựa trên suy đoán mà phải dựa trên sự xác định tội trạng trong tất cả các bằng chứng được Tòa án kiểm tra.

Xét xử có bồi thẩm đoàn

Thủ tục xét xử có bồi thẩm đoàn có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Liên bang Nga vào tháng 1 năm 2004. Năm 2005, ước tính có khoảng 600 vụ án hình sự được xét xử bằng bồi thẩm đoàn, chiếm tỷ lệ khoảng 4% trong tổng số các vụ án hình sự được xét xử ở Nga trong năm này, các vụ án khác vẫn được giải quyết theo thủ tục xét xử không có bồi thẩm đoàn hoặc bằng thủ tục rút gọn.

Bị cáo được thông báo về quyền được xét xử có bồi thẩm đoàn khi kết thúc giai đoạn điều tra tiền xét xử và có thể chọn thủ tục bồi thẩm đoàn ngay tại thời điểm đó. Bộ luật năm 2001 quy định khi sự lựa chọn này được bị cáo xác định tại phiên xét xử sơ bộ và thẩm phán đã lên lịch xét xử thì bị cáo không thể xin thay đổi việc đó nữa. Trường họp ít nhất một bị cáo trong vụ án có nhiều bị cáo đệ trình kiến nghị được xét xử bằng bồi thẩm đoàn thì tất cả các bị cáo khác trong vụ án đó cũng phải được xét xử bằng bồi thẩm đoàn.

Trong lệnh đưa vụ án ra xét xử bằng thủ tục bồi thẩm đoàn của thẩm phán phải ghi rõ số bồi thẩm viên được triệu tập đến Tòa án và ít nhất phải là 20 người cũng như tuyên bố vấn đề vụ án được xét xử công khai, xử kín hay xử kín từng phần. Khi đã định ngày xét xử, lục sự của tòa án hoặc trợ lý thẩm phán sẽ lựa chọn danh sách cử tri một cách ngẫu nhiên và chọn ra những bồi thẩm viên tương lai từ một bản danh sách hợp pháp và luân phiên được lưu giữ tại Tòa án, tiến hành sàng lọc để bảo đảm rằng những đối tượng này có thể tham gia vào vụ án với tư cách bồi thẩm viên mà không gặp phải trở ngại gì. Những bồi thẩm viên tiềm năng phải trình diện trước Tòa án ít nhất là 7 ngày trước khi bắt đầu phiên xét xử.

Tại phiên tòa xét xử có bồi thẩm đoàn, Kiểm sát viên và luật sư biện hộ tiến hành khai mạc phiên tòa. Trong lời tuyên bố mở đầu của mình, Kiểm sát viên nêu ra những lời buộc tội chủ yếu chống lại bị cáovà đề xuất việc xuất trình chứng cứ của mình. Sau đó, bên biện hộ thực hiện việc biện hộ của mình liên quan đến lời buộc tội và yêu cầu chứng cứ. Trong suốt phiên xét xử, các bồi thẩm viên của Nga được phép kiểm tra các vật chứng, tài liệu và các hoạt động điều tra khác. Khi các bên đã kết thúc việc thẩm vấn, các bồi thẩm viên có thể đệ trình thông qua thẩm phán chủ tọa hoặc chủ tich đoàn bồi thẩm bản các câu hỏi về những lời khai làm chứng trước Tòa. Tuy nhiên, Thẩm phán theo quyền tự quyết của mình trình bày lại hoặc loại bỏ các câu hỏi của bồi thẩm viên nếu những câu hỏi đó không liên quan gì đến lời buộc tội. Các bồi thẩm cũng có thể yêu cầu thẩm phán giải thích thêm về việc áp dụng pháp luật, những vấn đề có liên quan cũng như về các khái niệm còn chưa rõ ràng đối với họ. Họ cũng được quyền đưa ra những lưu ý trong suốt phiên xét xử và sử dụng chúng trong cuộc bàn thảo của mình. Tại phiên tòa, thẩm phán chủ tọa có quyền loại bỏ chứng cứ theo kiến nghị của một bên hoặc theo quyền tự quyết của mình.

Bản câu hỏi của các bồi thẩm viên

Bộ luật TTHS năm 2001 quy định rằng, vào thời điểm cuối phiên tòa, Tòa án sẽ gửi đến bồi thẩm đoàn một bản câu hỏi: Thứ nhất, có chứng minh được hành vi phạm tội mà bị cáo bị cáo buộc hay không; Thứ hai, có chứng minh được bị cáo là người đã thực hiện hành vi đó không; Thứ ba, bị cáo có bị coi là có tội không. Nếu bị cáo bị coi là có tội bồi thẩm đoàn cũng phải xác định xem liệu bị cáo có đáng được hưởng một bản án khoan dung hay không. Ba vấn đề này được bồi thẩm đoàn quyết định đối với từng bị cáo và từng tội phạm. Mặc dù bản câu hỏi được thẩm phán dự thảo và phê chuẩn trước tiên, nhưng các bên có quyền đưa ra những bình luận liên quan đến từ ngữ và nội dung cũng như đề xuất các câu hỏi bổ sung.

Thẩm phán chủ tọa có trách nhiệm hướng dẫn cho các bồi thẩm viên trước khi gửi bản câu hỏi cho họ để bàn thảo, phải đưa ra những lời buộc tội, mô tả nội dung các quy định về miễn trách nhiệm hình sự, lưu ý bồi thẩm đoàn về cả chứng cứ buộc tội lẫn chứng cứ gỡ tội được xuất trình tại phiên tòa mà không được phép đưa ra kết luận hay chỉ ra quan điểm của mình đối với những bằng chứng đó và sắp xếp vị trí của bên kiểm sát và bên biện hộ. Thẩm phán cũng phải giải thích các nguyên tắc về đánh giá chứng cứ rằng lời phán quyết của bồi thầm đoàn phải dựa trên chứng cứ được xuất trình tại phiên tòa, không có chứng cứ nào được coi là có giá trị trước khi được xác định và phán quyết của bồi thẩm đoàn không thể dựa trên sự suy đoán hoặc chứng cứ không được viện dẫn tại Tòa. Thẩm phán cũng phải xem xét đến giả định vô tội và chỉ dẫn rằng mọi sự nghi ngờ đều phải được hiểu theo hướng có lợi cho bị cáo, nếu bị cáo từ chối đưa ra lời khai hoặc bị cáo im lặng trước Tòa thì không thể coi đó là bằng chứng chứng minh tội lỗi của họ. Thẩm phán phải nhắc nhở các bồi thẩm viên về lời tuyên thệ của họ và rằng, nếu các bồi thẩm thấy bị cáo có tội thì họ cần quyết định liệu bị cáo có được hưởng một bản án khoan dung không. Trước khi nghị án, các bồi thẩm có quyền yêu cầu thẩm phán làm rõ bất kỳ vấn đề gì liên quan đến bản câu hỏi mà đối với họ còn chưa rõ ràng. Để trả lời những chất vấn như vậy, thẩm phán phải tránh những câu trả lời đụng chạm đến những vấn đề cơ bản đối với các câu hỏi. Các bên có thể đưa ra sự phản đối đối với nội dung hướng dẫn của thẩm phán vì những vi phạm liên quan tới tính khách quan và vô tư.

Nghị án và phán quyết của bồi thâm đoàn

Việc nghị án của bồi thẩm đoàn được thực hiện một cách bí mật và chỉ có 12 bồi thẩm viên được phép vào trong phòng nghị án. Các bồi thẩm viên bị cấm tiết lộ bí mật về việc nghị án hoặc kết quả bỏ phiếu. Tuy nhiên, các bồi thẩm viên được phép yêu cầu thẩm phán giải thích thêm trong quá trình nghị án. Luật cũng quy định rằng các bồi thẩm phải cố gắng đạt được một quyết định đồng thuận, nếu bồi thẩm đoàn không đạt được phán quyết đồng thuận trong thời hạn 3 giờ thì phán quyết sẽ được định đoạt đơn giản bằng một cuộc bỏ phiếu theo đa số. Một phán quyết có tội có được khi đa số bồi thẩm viên bỏ phiếu xác định bị cáo có tội. Một phán quyết vô tội được khi đa số bồi thẩm bỏ phiếu xác định bị cáo không có tội.

Khi bồi thẩm đoàn có được phán quyết, họ sẽ trở lại phòng xử án và chủ tịch đoàn bồi thẩm sẽ trao lại bản câu hỏi cho thẩm phán. Thẩm phán xem xét bản câu hỏi trước khi thông báo phán quyết và nếu phán quyết không có mâu thuẫn hoặc thiếu rõ ràng thì thẩm phán sẽ chuyển lại cho chủ tịch đoàn bồi thẩm, người sẽ thông báo phán quyết trước tòa án. Nếu bồi thẩm đoàn tuyên bố bị cáo vô tội, thẩm phán phải tuyên bố bị cáo được tha bổng và ra lệnh phóng thích bị cáo ngay tại phiên tòa. Điều đáng chú ý là Bộ luật TTHS năm 2001 quy định rằng, phán quyết tha bổng của bồi thẩm đoàn đồng nghĩa với việc vụ án không thể bị phục hồi lại trong bất kỳ trường hợp nào. Quyết định của bồi thẩm đoàn cũng ràng buộc tòa án về vấn đề bị cáo có đáng được hưởng mức án khoan dung không. Nếu bồi thẩm đoàn quyết định rằng đáng được khoan dung, ví dụ như thẩm phán phải giảm thời hạn phạt tù đến mức không quá 2/3 mức cao nhất của khung hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự thì nếu giảm hơn mức này lại tuỳ thuộc vào quyền tự quyết của thẩm phán.

Nếu bồi thẩm đoàn phán quyết bị cáo có tội thì thẩm phán chủ tọa phải xác định mức độ trách nhiệm hình sự phù hợp với tính chất, mức độ của tội phạm (cổ ý, vổ ỷ...), mức án và giải pháp giải quyết việc kiện dân sự. Trong những tuyên bố của mình liên quan đến những vấn đề này, các bên không có quyền nghi ngờ phán quyết của bồi thẩm đoàn. Bị cáo có quyền nói lời cuối cùng trước khi thẩm phán lui vào trong để quyết định.

Thẩm phán có quyền đảo ngược phán quyết có tội của bồi thẩm đoàn trong một số tình huống nhất định. Thẩm phán có thể phán quyết tha bổng nếu thấy rằng hành vi mà bị cáo bị kết tội không cấu thành tội phạm. Thẩm phán cũng có thể yêu cầu trả lại vụ án để xét xử lại nếu thấy rằng sự kiện phạm tội chưa được xác định hoặc chưa chứng minh được sự liên quan của bị cáo đến tội phạm.

Phán quyết và biên bản phiên tòa

Kết thúc phiên xét xử, thẩm phán chủ tọa ban hành một trong các phán quyết sau đây: Phán quyết tha bổng, phán quyết kết tội hoặc ban hành lệnh đình chỉ vụ án hay giải tán bồi thẩm đoàn và trả lại vụ án để xét xử lại. Biên bản phiên tòa phải ghi rõ các Bồi thẩm viên đã được triệu tập đến Tòa án và những thủ tục đã được tiến hành để đưa ra danh sách đoàn bồi thẩm. Biên bản cũng phải ghi lại những hướng dẫn cuối cùng của thẩm phán, nếu nó không được đưa vào biên bản thì có thể hiểu rằng các thủ tục đó đã được thực hiện một cách phù hợp.

4.7. Các thủ tục đặc biệt để đưa ra một phán quyết khi bị cáo đặt điều kiện đối với những lời buộc tội chống lại mình

Bộ luật TTHS năm 2001 của Nga đã quy định một thủ tục mới là cho phép bị cáo lựa chọn khả năng tổ chức một phiên xét xử đầy đủ và một mức án giảm 2/3 nếu phán quyết có tội được đưa ra. Thủ tục mới này giống với thủ tục pattegiamento dula pena (mặc cả mức án) Italia và một số khía cạnh của thủ tục này tương tự với thủ tục mặc cả thú tội ở Mỹ. Mặc dù vậy, thủ tục rút gọn vẫn là điều ít thấy ở Nga do truyền thống truy tố bắt buộc trong tố tụng hình sự.

Khi kết thúc điều tra, một bị cáo có đủ điều kiện phải được thông báo và giải thích về quyền được áp dụng các thủ tục đặc biệt. Tại phiên xét xử sơ bộ, bị cáo có thể chọn việc sử dụng thủ tục xét xử đặc biệt này bằng việc đệ trình một bản kiến nghị là Tòa án có thể đưa ra phán quyết không cần qua xét xử, thông qua bản luận tội. Kiến nghị của bị cáo phải được đưa ra dưới sự có mặt của luật sư, nếu không sẽ vô giá trị. Do đó, nếu bị cáo không đủ khả năng thuê luật sư thì Tòa án sẽ chỉ định một luật sư cho bị cáo. Tuy nhiên, nếu cả Kiểm sát viên và người bị hại phản đối việc áp dụng thủ tục rút gọn này thì vụ án vẫn phải được xét xử bằng thủ tục thông thường.

Tại phiên xét xử sơ bộ, tiếp theo những lời buộc tội do Kiểm sát viên nêu ra, thẩm phán đưa ra các câu hỏi với bị cáo (gần giống với một cuộc hội đàm để mặc cả ở Mỹ) là liệu bị cáo có đồng ý với những lời buộc tội và nhất trí với việc ra bản án mà không cần mờ phiên tòa xét xử hay không, kiến nghị của bị cáo có được đưa ra một cách tự nguyện không, đã được tham vấn với luật sư chưa và liệu bị cáo có hiểu được những hậu quả của việc ra bản án mà không cần xét xử không. Thẩm phán cũng phải xác nhận việc người bị hại đồng ý hoặc không đồng ý với việc áp dụng thủ tục đặc biệt này.

Tòa án sẽ không kiểm tra tất cả các bằng chứng trong hồ sơ vụ án, nhưng các tình tiết liên quan đến tính cách của bị cáo hoặc những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có thể được kiểm tra tại phiên tòa này. Nếu thẩm phán kết luận rằng, những lời buộc tội bị cáo có căn cứ vững chắc và được chứng minh bằng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, hơn nữa, bị cáo xác nhận quyết định của mình là đồng ý sử dụng thủ tục đặc biệt này với sự tự nguyện cả về lý trí và tình cảm thì thẩm phán sẽ định ngày đưa vụ án ra xem xét. Thẩm phán cũng nhắc nhở các bên về quyền yêu cầu xem xét lại quyết định đó. Thẩm phán ra phán quyết trên cơ sở nội dung của hồ sơ mà không tổ chức xét xử. Nếu thẩm phán ra phán quyết buộc tội và tuyên bị cáo mức án tù giam thì mức án tuyên không được phép vượt qúa 2/3 mức hình phạt tối đa quy định trong Bộ luật hình sự.

Ban đầu, thủ tục đặc biệt được áp dụng đối với những bị cáo bị buộc tội có hình phạt tối đa không quá 5 năm tù giam. Tuy nhiên, vào năm 2003, Quốc hội Nga đã sửa đổi Bộ luật năm 2001 cho phép những người bị buộc tội có hình phạt tối đa không quá 10 năm tù cũng được áp dụng thủ tục đặc biệt này. Điều này làm cho một số lượng lớn các tội phạm có thể được áp dụng thủ tục rút gọn và người ta cho rằng nó phản ánh mức độ tin cậy của người Nga đối với tính thiết thực của thủ này, chủ yếu với ý nghĩa tăng cường hiệu quả giải quyết các vụ án tại tòa án. Trong năm 2004, thủ tục rút gọn đã được các Tòa án cấp quận áp dụng đối với 117.700 vụ án hình sự, chiếm khoảng 16.4% số lượng án.

4.8.Thủ tục kháng cáo, kháng nghị

Bộ luật năm 2001 quy định có 3 loại chống án bao gồm phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Kháng nghị phúc thẩm và giám đốc thẩm liên quan đến những quyết định chưa có hiệu lực pháp luật. Tái thẩm là thủ tục xem xét lại các quyết định đã có hiệu lực pháp luật cũng như mở lại vụ án hình sự khi phát hiện ra chứng cứ mới. Theo quy định của luật, phán quyết của Tòa án sẽ có hiệu lực pháp luật nếu trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra bản án mà các bên không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hay giám đốc thẩm. Tương tự như vậy, phán quyết của Tòa án cấp phúc thẩm cũng sẽ có hiệu lực nếu trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra bản án mà không có kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm. Nếu có kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm thì phán quyết của Tòa án cấp dưới nếu không bị Tòa án cấp giám đốc thẩm hủy bỏ sẽ có hiệu lực kể từ ngày phán quyết của Toà cấp giám đốc thẩm được ban hành. Phán quyết của Tòa án cấp giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay khi ban hành và do đó, chỉ có thể bị xem xét lại theo thủ tục tái thẩm.

Bị cáo và luật sư của bị cáo, kiểm sát viên, người bị hại (hoặc đại diện của họ) có quyền yêu cầu xem xét lại các quyết định của Tòa án. Các kiểm sát viên đệ trình biên bản trình bày về kết quả xem xét của Tòa án cấp trên trong khi đó tất cả các bên khác phải đệ trình khiếu nại của mình. Các bên dân sự tham gia tố tụng trong vụ án cũng có quyền kháng cáo phần quyết định dân sự có liên quan đến mình trong bản án hình sự. Tòa án tái thẩm có quyền bác bỏ khiếu nại hay trình bày, sửa đổi hoặc giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp dưới. Cả Tòa án tái thẩm và giám đốc thẩm đều có quyền giữ nguyên và trả lại quyết định. Tại tất cả các cấp chống án theo quy định của Bộ luật năm 2001 thì Tòa án cấp trên có nhiệm vụ xác định quyết định của Tòa án cấp dưới có hợp pháp, căn cứ rõ ràng và công bằng không.

4.9.Thủ tục chống án

Các quyết định của Tòa án hòa giải bị xem xét lại khi có kháng cáo chống án. Một thẩm phán Tòa án quận sẽ xem xét lại các quyết định của Tòa án hòa giải. Những căn cứ chống án cũng giống với các căn cứ kháng cáo phúc thẩm, nhưng căn cứ chống án có thể dựa trên cả vấn đề pháp lý và vấn đề thực tiễn. Thủ tục xem xét kháng cáo chống án do thẩm phán Tòa án quận tiến hành dưới hình thức một phiên xét xử de novo với sự tham dự của kiểm sát viên và bị cáo. Mặc dù thủ tục tương tự như ở các nước theo truyền thống pháp luật lục địa ở Châu Âu, nhưng đây là một hình thức xét xử phúc thẩm mới ở Nga.

Liên quan đến cả thủ tục chống án và phúc thẩm, các phán quyết và lệnh được ban hành tại phiên tòa không tách biệt đối tượng xem xét nếu chúng có liên quan tới chứng cứ được đưa ra, các biện pháp bảo đảm trật tự tại Tòa, các lệnh phạt tiền, cho phép hoặc bác bỏ yêu cầu đệ trình kiến nghị của các bên. Chúng phải được xem xét như một phần phán quyết của Tòa án. Kiến nghị xem xét việc tạm hoãn thi hành án hoặc tạm hoãn bản án chưa có hiệu lực và một bên tham gia tố tụng có thể sửa đổi hoặc rút lại lời khiếu nại hoặc trình bày cho đến tận thời điểm xét xử. Tuy nhiên, Bộ luật TTHS năm 2001 quy định nếu lời trình bày hoặc khiếu nại không theo mẫu do Tòa án yêu cầu thì nó sẽ không được xem xét.

Để hỗ trợ hoặc chống đối lại việc xét xử theo thủ tục chống án, các bên có quyền đệ trình những vật chứng mới tại Tòa án hoặc yêu cầu Tòa án triệu tập những nhân chứng và nhà chuyên môn ra trước Tòa. Trên thực tế, tại phiên xét xử kiểu này (de novo), các bên có quyền kiến nghị với Tòa án để triệu tập nhân chứng mới, tiến hành các phân tích pháp y, yêu cầu những vật chứng và tài liệu mà cấp sơ thẩm đã từ chối xem xét. Thẩm phán Tòa án quận không cần thiết phải triệu tập các nhân chứng và chuyên gia, những người mà trước đó được kiểm tra tại Tòa án cấp sơ thẩm trừ khi có tranh chấp của một bên bởi vì Bộ luật TTHS năm 2001 đã quy định cho phép thẩm phán được đọc những lời khai làm chứng của các đối tượng này một cách trực tiếp từ biên bản.

Tòa án xét xử theo thủ tục chống án chỉ có quyền đảo ngược bản án tha bổng và đưa ra lời kết tội và tuyên án theo lời trình bày hoặc khiếu nại lập luận rằng việc tha bổng là không có căn cứ. Tòa án có thể sửa đổi phán quyết tha bổng chỉ khi có khiếu nại của chính bị cáo được tha bổng dựa trên những lý do của việc tha bổng. Mặt khác, Tòa án cũ được ban hành quyết định làm xấu đi tình trạng của bị cáo theo trình bày của kiểm sát viên hoặc khiếu nại của người bị hại hoặc đại diện của họ. Các bên có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm quyết định của Tòa án cấp chống án.

4.10.Thủ tục phúc thẩm

Các quyết định của Tòa án quận, bao gồm cả quyết định của cấp chống án đối với bản thẩm của Tòa hòa giải là đối tượng để xem xét theo thủ tục phúc thẩm được tiến hành bằng một Hội đồng 3 thẩm phán của Tòa án các chủ thể thuộc liên bang. Xét xử phúc thẩm xem xét lại quyết định của bồi thẩm đoàn được Tòa hình sự Tòa án tối cao Liên bang Nga tiến hành và Uỷ ban phúc thẩm của Tòa án tối cao có quyền xét xử phúc thẩm các quyết định của Tòa án tối cao nếu chính Tòa án tối cao đã xét xử sơ thẩm vụ án đó. Các bên tham gia phiên tòa phúc thẩm có quyền đưa vật chứng bổ sung cho Tòa án xem xét mà những vật chứng này đã không được đảm bảo bằng con đường điều tra bổ sung. Do đó, khi một bên cung cấp những vật chứng như vậy thì phải chỉ rõ là họ đã thu được những vật chứng đó như thế nào. Các quyết định phúc thẩm được ban hành dưới dạng phán quyết.

Các Toà phúc thẩm ở Nga cũng xem xét đến cả những vấn đề pháp lý và thực tế của vụ án. Đặc biệt là Điều 379 Bộ luật tố tụng hình sự quy định những căn cứ để sửa đổi hoặc đảo ngược quyết định của Tòa án cấp dưới là: 1) Có sự mâu thuẫn giữa bản án của Tòa án với các tình tiết trong vụ án được Tòa án cấp dưới xác định; 2). Có sự vi phạm luật tố tụng hình sự; 3). Có sai lầm trong việc áp dụng luật hình sự và phán quyết về mức án trong bản án là bất công. Điều 380 quy định rằng một phán quyết của Tòa án phải không có sự mâu thuẫn giữa các tình tiết của vụ án. Ví dụ như bản án của Tòa án không dựa trên những bằng chứng đã được kiểm tra trong quá trình xét xử tại Tòa hoặc có những bằng chứng xung đột về những vấn đề có tầm quan trọng đối với việc ra bản án của Tòa án và phán quyết không chỉ ra rằng tại sao lại chấp nhận chứng cứ này mà lại bác bỏ chứng cứ khác. Điều 381 chỉ ra một số căn cứ cho việc sửa đổi hoặc đảo ngược lại quyết định của Tòa án do vi phạm các nguyên tắc của tố tụng hình sự bao gồm: Việc xét xử không có luật sư biện hộ trong các trường họp bắt buộc phải có luật sư hoặc có sự xâm phạm đến quyền được luật sư trợ giúp của bị cáo; Dựa vào những bằng chứng đã bị Tòa án loại trừ để làm căn cứ ra quyết định; Vi phạm quyền sử dụng ngôn ngữ của bị cáo và quyền được sự trợ giúp của người phiên dịch; Phán quyết được đưa ra bởi một Hội đồng xét xử hoặc bởi một Bồi thẩm đoàn được thành lập một cách bất hợp pháp.

Theo quy định tại Điều 382, sai lầm trong việc áp dụng luật hình sự gồm các dạng: Vi phạm các quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự; Áp dụng không đúng các điều khoản của Bộ luật hình sự hoặc tuyên án vượt quá khung cao nhất của Bộ luật hình sự. Cuối cùng, Bộ luật TTHS năm 2001 xác định, một phán quyết không công bằng là một phán quyết không phù hợp với tính chất nghiêm trọng của tội phạm hoặc tính cách cá nhân của bị cáo nên mức án là quá khoan dung hoặc quá nghiêm khắc. Điều 383 quy định thêm rằng một bản án có thể sẽ bị tuyên nghiêm khắc hơn nếu mức án của Toà sơ thẩm hay cấp chống án bị coi là quá nhẹ, và việc giảm nhẹ có thể được xem xét nếu Kiểm sát viên, Tư tố viên, người bị hại hoặc đại diện của người bị hại yêu cầu.

Theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2001, Tòa án cấp phúc thẩm có thể đảo ngược lại phán quyết tha bổng, nhưng chỉ theo kiến nghị xem xét lại bản án tha bổng của kiểm sát viên hoặc người bị hại (đại diện của người bị hại) hoặc theo khiếu nại của bị cáo bất đồng với những căn cứ của việc tha bổng. Hơn nữa, Tòa án cấp phúc thẩm có thể giảm mức án hoặc áp dụng các quy định ít nghiêm khắc hơn của luật hình sự, nhưng không thể vượt quá giới hạn hoặc làm xấu đi tình trạng của bị cáo bằng việc bắt bị cáo phải chịu một tội phạm nghiêm trọng hơn hoặc mức án nghiêm khắc hơn.

Đối với các phiên tòa có Bồi thẩm đoàn, do Bộ luật tố tụng hình sự năm 2001 quy định, Bồi thẩm đoàn phải xác định thực tế có tội hay vô tội, mang tính ràng buộc pháp lý với các Tòa án nên Điều 379 của Bộ luật tố tụng hình sự miễn hoàn toàn căn cứ thực tế của cấp sơ thẩm như 1 căn cứ để đảo ngược hoặc sửa đổ phán quyết của Bồi thẩm đoàn. Bộ luật năm 2001 còn quy định thêm rằng, phán quyết tha bổng của bồi thẩm đoàn chỉ có thể bị đảo ngược nếu có vi phạm luật tố tụng hình sự mà xâm phạm đến quyền của Kiểm sát viên, của người bị hại hoặc đại diện của người bị hại trong việc đệ trình chứng cứ hay ảnh hưởng đến nội dung bản câu hỏi của Bồi thẩm viên và những câu trả lời.

4.11.Thủ tục giám đốc thẩm

Thủ tục giám đốc thẩm có thể do Hội đồng thẩm phán Tòa án chủ thể thuộc Liên bang Nga, Hội đồng Thẩm phán và Uỷ ban Thẩm phán Tòa hình sự Tòa án tối cao liên bang Nga tiến hành. Khiếu nại hoặc trinh bày yêu cầu giám đốc phải được đệ trình lên Tòa án cấp này để xem xét. Các Tòa án cấp này phải cho phép kiểm sát viên, bị cáo, luật sư biện hộ hoặc người bảo vệ quyền lợi và các bên khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bị ảnh hưởng một cách trực tiếp tham dự phiên tòa nếu họ có yêu cầu. Theo quy định của pháp luật, một thẩm phán, người chưa từng tham gia xét xử vụ án trước đó sẽ đưa ra các tình tiết của vụ án, quyết định thẩm vấn và lý do của khiếu nại hoặc trình bày yêu cầu xem xét theo thủ tục giám đốc trước Hội đồng thẩm phán. Nếu lời trình bày đă được đưa ra thì Kiểm sát viên có quyền phát biểu để hỗ trợ thêm cho nội dung trình bày. Nếu bị cáo, luật sư biện hộ và người bị hại có mặt thì mỗi bên có quyền đáp lại ý kiến đó.

Để bảo đảm việc ra quyết định một cách đúng đắn, Tòa án cấp giám đốc thẩm không hạn chế tranh luận, Tòa án cũng có thể kiểm tra toàn bộ tiến trình giải quyết vụ án một cách đầy đủ. Tòa án cấp giám đốc thẩm có toàn quyền xem xét cả vấn đề pháp lý lẫn thực tiễn của vụ án. Theo Điều 408, Tòa án cấp giám đốc thẩm có quyền sửa đổi hoặc đảo ngược bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị. Các quyết định sửa đổi hoặc đảo ngược kết quả của vụ án phải dựa trên cơ sở kết quả biểu quyết theo đa số của Hội đồng Thẩm phán.

4.12.Thủ tục xét lại vụ án trên cơ sở tình tiết mới hoặc phát hiện ra tình tiết mới (thủ tục tái thẩm)

Một vụ án đã có quyết định chung thẩm vẫn có thể được mở lại trên cơ sở những tình tiết mới hoặc phát hiện những tình tiết mới. Theo Bộ luật năm 2001, các tình tiết mới bao gồm: có một văn bản của Tòa án Hiến pháp liên bang Nga tuyên bố một đạo luật do Tòa án nào đó đã áp dụng là bất hợp hiến hoặc văn bản của Công ước Châu Âu về nhân quyền cho rằng Tòa án Nga đã vi phạm Công ước này. Các tình tiết mới được phát hiện bao gồm những lời khai làm chứng chưa được biết của nạn nhân hoặc nhân chứng cũng như các hành vi phạm tội của Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán.

Kiểm sát viên có quyền bắt đầu việc mở lại vụ án để tiến hành tố tụng trên cơ sở các tình tiết mới hoặc các tình tiết mới được phát hiện. Không có quy định nào về thời hạn mở lại vụ án đối với một phán quyết chung thẩm, tuy nhiên lại có thời hạn đối với việc tái thẩm một bản án tuyên tha bổng, lệnh hay phán quyết đình chỉ vụ án hình sự và phán quyết chung thẩm kết tội trên cơ sở khoan dung hoặc cần phải áp dụng các quy định nghiêm khắc hơn của Luật hình sự để kết án bị cáo. Trong những trường hợp này, Bộ luật TTHS năm 2001 quy định việc đệ trình kiến nghị xem xét vụ án theo thủ tục tái thẩm không chỉ là trước khi hết thời hiệu áp dụng của pháp luật đối với tội phạm (nếu có) mà còn không quá 1 năm kể từ khi phát hiện tình tiết mới.

Theo kiến nghị của Kiểm sát viên, Tòa án tổ chức một phiên xét xử để xem xét quyết định liệu có mở lại vụ án theo cùng một thủ tục được sử dụng trong tiến trình tái thẩm hay không. Tòa án cấp tái thẩm có thể đảo ngược lại phán quyết và bắt buộc phải đưa ra xét xử ở một phiên tòa mới, đảo ngược phán quyết hoặc đình chỉ vụ án hay từ chối kiến nghị của Kiểm sát viên. Chánh án Tòa án tối cao liên bang có thẩm quyền mở thủ tục tái thẩm đối với một phán quyết chung thẩm bị coi là áp dụng một cách không hợp hiến hoặc vi phạm Công ước Châu Âu về nhân quyền. Trong những trường hợp này, việc quyết định luôn thuộc Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao.

Tài liệu tham khảo

1.              Luật TTHS Liên bang Nga.

2.              Luật tổ chức VKS Liên bang Nga.

3.             Tư pháp hình sự so sánh - Tài liệu dịch của Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp.

4.                Báo cáo nghiên cứu về tổ chức và  hoạt động của hệ thống tư pháp Liên bang Nga của Giáo sư William E.Butler Trường Đại học tổng hợp quốc gia Pennsyl vania ngày 4/6/2010.

5.              Bài viết của PGS. TS Luật Nguyễn Thái Phúc - Cơ quan đại diện Bộ Tư pháp tại TP Hồ Chí Minh về mô hình TTHS ở Liên Xô cũ và Liên bang Nga hiện nay.

6.                Bài viết của PGS.TS Lê Cảm - Trường Đại học quốc gia Hà Nội về mô hình tố tụng hình sự các nước xã hội chủ nghĩa

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi