MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRUNG QUỐC

1.Mục tiêu và nhiệm vụ của tố tụng hình sự Trung Ọuốc

Mô hình tố tụng hình sự Trung Quốc về cơ bản là mô hình tố tụng thẩm vấn. Tuy nhiên, so với tố tụng hình sự Việt Nam, tố tụng hình sự Trung Quốc mang nhiều yếu tố tranh tụng hơn với mục đích bảo đảm việc điều tra, làm sáng tỏ bản chất của tội phạm một cách chính xác, kịp thời, trừng trị người phạm tội theo đúng pháp luật, bảo đảm người vô tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tăng cường nhận thức của người dân về sự cần thiết phải chấp hành pháp luật, tích cực đấu tranh với những hành vi phạm tội nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền cá nhân; tài sản, quyền dân chủ và các quyền khác của họ; đảm bảo tiến hành thuận lợi công cuộc phát triển chủ nghĩa xã hội [1] .

2. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tố tụng

2.1.Cơ quan tiến hành tố tụng

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án là các cơ quan tiến hành tố tụng, có vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau nhưng đều có chung một nhiệm vụ là làm sáng tỏ tội phạm một cách chính xác, kịp thời, trừng trị người phạm tội theo đúng pháp luật.

Cơ quan điều tra

Cơ quan điều tra thuộc nhánh quyền hành pháp đóng vai trò chính trong việc phát hiện, khám phá tội phạm. Theo quy định tại Điều 3 và Điều 18 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc thì hầu hết việc điều tra các vụ án hình sự do Cơ quan điều tra tiến hành. Riêng đối với một số tội phạm như: tội tham ô, hối lộ, thiếu trách nhiệm của cán bộ nhà nước, các tội xâm phạm quyền cá nhân của công dân như giam giữ trái phép, bức cung, dùng nhục hình, trả thù, mưu hại, khám xét trái phép và tội phạm xâm phạm quyền dân chủ của công dân do cán bộ nhà nước lợi dụng chức năng và quyền hạn để thực hiện hoặc các tội nghiêm trọng do cán bộ nhà nước thực hiện bằng việc lợi dụng chức năng và quyền hạn thì thuộc thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát [2] .

Ở Trung Quốc, ngoài các vụ án hình sự được phát động bởi công tố quyền còn các vụ án tư tố (vụ án mà người bị hại tự mình khởi tố trước Tòa án nhân dân). Đối với loại án này, Tòa án phải có trách nhiệm thẩm tra và ra quyết định có khởi tố hay không khởi tố. V nguyên tắc thì Tòa án không điều tra đối với loại án tư tố nhưng trong trường hợp tư tố viên vì lý do khách quan không thể thu thập và cung cấp chứng cứ liên quan và có đơn đề nghị thì Tòa án có thể tiến hành thu thập chứng cứ theo đúng luật nếu thấy cần thiết.

Theo quy định tại các điều 2, 3 và 6 Bản Hướng dẫn của Bộ Công an về áp dụng pháp luật tố tụng hình sự thì nhiệm vụ của Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự là điều tra rõ ràng, chính xác và kịp thời sự thật phạm tội, áp dụng chính xác pháp luật, trừng phạt phần tử phạm tội. Thẩm quyền cụ thể là: khởi tố, điều tra, dự thẩm đối với vụ án hình sự theo pháp luật; quyết định, thi hành các biện pháp cưỡng chế; không khởi tố các trường hợp không truy cứu trách nhiệm hình sự, xóa án cho các trường hợp đã truy cứu, chuyển giao cho Viện kiểm sát nhân dân thẩm tra, quyết định đối với vụ án đã kết thúc điều tra, cần phải xử lý theo pháp luật, kể cả truờng hợp người bị tình nghi phạm tội chưa đến mức xử phạt hình sự nhưng cần xử lý hành chính. Cơ quan điều tra phải chịu sự giám sát pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân khi tiến tố tụng hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân

Ở Trung Quốc, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tư pháp, được tổ chức thành một hệ thống độc lập. Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và chức năng giám sát pháp luật của nhà nước nói chung, giám sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự nói riêng một cách độc lập theo quy định của pháp luật mà không bị can thiệp bởi bất kỳ cơ quan hành chính, tổ chức hoặc cá nhân nào [3] . Tuy nhiên, Viện kiểm sát ở địa phương chịu sự giám sát của Đại hội Đại biểu nhân dân địa phương - cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

Nhiệm vụ của Viện kiểm nhân dân trong giai đoạn điều tra là tiến hành điều tra các vụ án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân; kiểm sát việc khởi tố của cơ quan điều tra; phê chuẩn hoặc quyết định bắt giữ; truy tố người phạm tội ra trước Toà án để xét xử. Trong đoạn xét xử, Viện kiểm sát có trách nhiệm luận tội, đưa ra mức hình phạt, giám sát hoạt động xét xử của Tòa án, bảo đảm làm rõ sự thật một cách chính xác và kịp thời, vận dụng đúng đắn pháp luật, trừng phạt các phần tử phạm tội, bảo đảm người vô tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bảo đảm thi hành pháp luật hình sự của Nhà nước một cách thống nhất, đúng đắn để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền thân thể, quyền tài sản, quyền dân chủ và các quyền khác của công dân, bảo đảm tiến hành thuận lợi sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa [4] .

Tòa án nhân dân

Theo quy định tại Điều 5 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc thì Toà án nhân dân thực hiện chức năng xét xử độc lập theo luật và không bị can thiệp bởi bất kỳ cơ quan hành chính, tổ chức hoặc cá nhân nào. Tuy nhiên, trên thực tế Tòa án không được hoàn toàn độc lập. Hoạt động của Tòa án bị giám sát bởi ủy ban Pháp luật chính trị của Đảng cộng sản Trung quốc. Đảng cộng sản Trung Quốc chỉ đạo về cơ cấu và hoạt động của Tòa án. Hệ thống tòa án Trung Quốc được chia thành 4 cấp bao gồm: Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân trung cấp và Tòa án nhân dân sơ cấp. Mỗi cấp Tòa án tương ứng với mỗi cấp chính quyền địa phương. Bên cạnh các Tòa án nhân dân thì Trung Quốc còn có các Tòa án quân đội được tổ chức trong Quân đội để xét xử các vụ án hình sự, dân sự liên quan đến quân nhân xảy ra trong nội bộ Quân đội. Tòa án cũng phụ thuộc chính quyền địa phương về vấn đề ngân sách và nhân sự. Hội đồng nhân dân quyết định ngân sách và nhân sự của Tòa án cùng cấp. Thẩm phán cũng không thể đưa ra quyết định độc lập. Quyết định của Thẩm phán được xem xét kỹ lưỡng, bị giám sát, bị chỉ đạo và bị hủy bỏ bởi ủy ban Thẩm phán và Chánh án của mỗi Tòa án mà không ai trong số những người này tham gia xét xử trực tiếp vụ án.

2.2.Người tham gia tố tụng

Luật tố tụng hình sự Trung Quốc quy định có 14 loại người tham gia tố tụng bao gồm: người bị tình nghi phạm tội (nghi can), người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, tư tố viên, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện theo pháp luật, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch. Các quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng được quy định ở nhiều điều luật khác nhau, theo đó người bị tình nghi, bị can, bị cáo có quyền: bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, được yêu cầu hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, được thông báo kết luận giám định, quyền yêu cầu giám định bổ sung. Ngoài ra bị cáo còn có quyền: được hỏi người làm chứng và người giám định; tranh luận tại phiên tòa; được đọc biên bản phiên tòa và yêu cầu bổ sung hay sửa chữa biên bản này nếu thấy có sai sót; kháng cáo bản án, quyết định của tòa án; nói lời sau cùng. Người bị tình nghi, bị can, bị cáo có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng.

Người bị hại trong các vụ án hình sự có các quyền như: nộp đơn kiện dân sự; được thông báò kết luận giám định; tham gia phiên tòa; yêu cầu triệu tập nhân chứng mới tới phiên tòa, thu thập chứng cứ mới, giám định bổ sung và các yêu cầu khác; được hỏi bị cáo, người làm chứng và người giám định; tranh luận tại phiên tòa...

Theo quy định của luật tố tụng hình sự Trung Quốc thì người bào chữa có các quyền: gặp gỡ, trao đổi với bị cáo đang bị tạm giữ; tư vấn, trích, sao các tài liệu từ khi Viện kiểm sát bắt đầu thẩm tra tư pháp; thu thập thông tin liên quan đến vụ án; yêu cầu triệu tập nhân chứng mới tới phiên tòa, thu thập chứng cứ mới, giám định bổ sung và các yêu cầu khác; được hỏi người làm chứng và người giám định. Ngoài các quyền được luật tố tụng quy định thì người bào chữa cũng có các nghĩavụ sau: xuất trình chứng cứ trước tòa; phải dựa vào sự thật khách quan, tài liệu, quan điểm và pháp luật để bào chữa cho bị can, bị cáo; không được giúp bị can, bị cáo giấu giếm, tiêu hủy hoặc làm sai lệch chứng cứ hoặc kiểm điểm lời thú tội của họ; không được đe doạ hoặc xúi giục nhân chứng sửa đổi lời khai hoặc khai man; không được tiến hành những hành động khác để can thiệp vào tiến trình tố tụng của các cơ quan tư pháp. Nếu người bào chữa vi các quy định này thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Bên cạnh việc quy định các quyền của người tham gia tố tụng thì luật tố tụng hình sự Trung Quốc cũng quy định rất rõ trách nhiệm của tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra phải bảo đảm cho người tham gia tố tụng hưởng các quyền tố tụng theo quy định của pháp luật [5] .

Quyển bào chữa của người bị tình nghi, bị can, bị cáo và cơ chế bảo đảm quyển bào chữa của những người này

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc thì người bị tình nghi, bị cáo có thể tự bào chữa hoặc chọn một hoặc hai người khác làm người bào chữa. Ở Trung Quốc, quyền bào chữa là quyền năng pháp lý đặc biệt của bị can, bị cáo được thực hiện trên hai phương diện: Thứ nhất, tự bào chữa, tức là tự mình vận dụng các quy định của pháp luật, dựa trên căn cứ thực tế khách quan của vụ án để chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước cơ quan công quyền. Thứ hai, nhờ người khác bào chữa, cụ thể là nhờ luật sư, người do tổ chức hoặc đơn vị công tác của bị cáo đề nghị, người giám hộ hoặc họ hàng và bạn bè của nghi can, bị cáo mà những người này được luật tố tụng hình sự cho phép vận dụng các quy định của pháp luật và các căn cứ khách quan để giúp đỡ về mặt pháp lý cho bị can, bị cáo. Tuy nhiên, để bảo đảm chất lượng bào chữa cũng như hạn chế có quá nhiều người tham gia bào chữa cho một bị cáo, luật tố tụng hình sự Trung Quốc quy định: một bị cáo không được mời quá hai người làm người bào chừa. Trong các vụ án có nhiều người phạm tội, một người bào chữa không được bào chữa cho hai bị cáo trở lên trong cùng một vụ án [6] . Để thực hiện nhiệm vụ bào chữa, người bào chữa phải thu thập tài liệu, đồ vật chứng minh sự vô tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho nghi can, bị cáo và phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nghi can, bị cáo.

Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra phải bảo đảm hoạt động bào chữa của luật sư theo pháp luật [7] . Sau khi tiến hành thẩm vấn lần thứ nhất hoặc từ ngày áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo luật đối với người bị tình nghi phạm tội, Cơ quan điều tra phải thông báo cho người bị tình nghi phạm tội biết họ có quyền mời luật sư để tư vấn pháp luật cho họ [8] . Đối với vụ án có liên quan đến bí mật quốc gia, nếu người bị tình nghi phạm tội hoặc người thân thích của họ đề nghị cho mời luật sư, Cơ quan điều tra cấp huyện trở lên, trong vòng 3 ngày sau khi nhận được đề nghị phải ra quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn và thông báo cho người bị tình nghi phạm tội và người thân thích của họ biết [9] . Đối với vụ án không liên quan đến bí mật quốc gia, Luật sư gặp gỡ người bị tình nghi phạm tội thì không cần thông qua phê chuẩn; Cơ quan điều tra không được ra quyết định không phê chuẩn vì lý do cần phải giữ bí mật trong quá trình điều tra [10] . Cơ quan điều tra phải bố trí cuộc gặp gỡ trong vòng 48 giờ sau khi Luật sư đưa ra đề nghị gặp gỡ người bị tình nghi phạm tội; đối với vụ án đồng phạm lớn và phức tạp như có tổ chức, các vụ án do các tổ chức xã hội đen thực hiện; tổ chức khủng bố hoặc phạm tội buôn lậu, phạm tội ma túy, phạm tội tham ô hối lộ v.v... thì trong vòng 05 ngày sau khi Luật sư đưa ra đề nghị gặp gỡ người bị tình nghi phạm tội, Cơ quan điều tra phải cho phép gặp [11] . Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, vai trò của Luật sư là rất hạn chế trong việc tư vẩn, kiến nghị hay khiếu nại thay mặt người bị tình nghi. Luật sư chỉ được khuyên 1 một cách chung chung về vụ án, về quyền của người bị tình nghi và luật sư cũng không thể trợ giúp pháp lý cho người bị tình nghi trong việc chuẩn bị bào chữa. Trong giai đoạn này, Cơ quan điều tra có thể có mặt trong bất cứ cuộc tiếp xúc nào giữa người bị tình nghi với Luật sư [12]

Trong giai đoạn truy tố và xét xử, theo quy định của Luật tố tụng hình sự Trung Quốc thì bị cáo có quyền bào chữa và Toà án nhân dân phải có trách nhiệm đảm bảo cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa [13] . Nếu vụ án do Kiểm sát viên đưa ra trước tòa và bị cáo không có người chữa do khó khăn về tài chính hoặc vì lý do khác thì Tòa án nhân dân có chỉ định một Luật sư bào chữa cho bị cáo. Nếu bị cáo là người mù, điếc hoặc là người chưa thành niên hoặc người có khả năng bị án tử hình và không chỉ định bất kỳ ai người bào chữa cho mình thì Tòa án nhân dân phải chỉ định một Luật sư bào chữa cho bị cáo [14] . Tuy nhiên, trong quá trình xét xử bị cáo vẫn có quyền từ chối người bào chữa do tòa án nhân dân chỉ định nhưng bị cáo phải nhờ người bào chữa khác hoặc Tòa án nhân dân phải chỉ định người khác bào chữa cho bị cáo [15] .

Trong giai đoạn truy tố, xét xử, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân phải tạo thuận lợi và đảm bảo thời gian cho người bào chữa tư vấn, tra cứu, sao trích, các chứng cứ, các tài liệu, các tình tiết liên quan đến vụ án và cho phép người bào chữa có thể gặp gỡ, trao đổi với bị cáo đang bị giam giữ [16] .

Theo số liệu thống kê đáng tin cậy thì hầu hết các bị cáo ở Trung Quốc không có Luật sư bào chữa trong quá trình xét xử. Chỉ có một số ít bị cáo có khả năng tài chính để thuê Luật sư bào chữa và các bị cáo thuộc diện có người bào chữa bắt buộc. Thậm chí nếu Luật tố tụng hình sự Trung Quốc quy định bắt buộc phải có người bào chữa cho bị cáo thì cũng không có đủ Luật sư để bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa. Hiện nay, ở Trung Quốc có khoảng 100.000 Luật sư, hầu hết trong số họ đều không phải là Luật sư trong lĩnh vực hình sự [17] .

Vai trò của người bị hại trong tố tụng hình sự

Trong tố tụng hình sự Trung Quốc, đối với vụ án công tố, người bị hại có vai trò hạn chế trong quá trình tiến hành tố tụng. Người bị hại cung cấp nhân chứng cho Luật sư để Luật sư thu thập thông tin liên quan đến vụ án [18] ; thông báo với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân hoặc Toà án nhân dân về các tình tiết của tội phạm [19] . Khi người bị hại cho rằng vụ án cần được khởi tố, điều tra nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện và người bị hại đề nghị Viện kiểm sát nhân dân xem xét. Viện kiểm sát nhân dân phải yêu cầu Cơ quan điều tra tuyên bố lý do không khởi tố vụ án. Nếu Viện kiểm sát nhân dân cho rằng lý do không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra là không có căn cứ thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án [20] . Sau khi nhận được quyết định miễn tố bằng văn bản do Viện kiểm sát gửi mà người bị hại không tán thành thì có thể khiếu nại lên Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp và yêu cầu truy tố. Viện kiểm sát nhân dân phải thông báo quyết định sau khi đã thẩm tra cho người bị hại biết. Nếu Viện kiểm sát nhân dân đồng ý với quyết định không truy tố, người bị hại có thể kiện ra Toà án nhân dân. Người bị hại cũng có thể trực tiếp kiện ra Toà án nhân dân mà không cần phải khiếu nại trước. Sau khi Toà án nhân dân đã thụ lý vụ án, Viện kiểm sát nhân dân phải chuyển hồ sơ vụ án liên quan cho Toà án nhân dân [21] . Tại phiên tòa người bị hại có trách nhiệm trình bày lập luận của mình về tội phạm bị cáo buộc trong cáo trạng và với sự cho phép của Thẩm phán chủ toạ, người bị hại đặt câu hỏi đối với bị cáo [22] .

Đối với các vụ án tư tố, người bị hại có vai trò rất lớn trong tố tụng hình sự, theo đó người bị hại trực tiếp khởi tố người phạm tội ra trước Tòa án có thẩm quyền. Nếu người bị hại chịu thiệt hại vật chất do hành vi phạm tội của bị cáo thì có quyền nộp đơn yêu cầu giải quyết việc bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự [23] . Nếu người bị hại chết hoặc mất khả năng hành động, người đại diện pháp lý hoặc họ hàng thân thích của người bị hại có quyền đưa vụ án ra trước toà và Toà án phải chấp nhận theo luật [24] . Tuy nhiên, để Tòa án thụ lý vụ án thì người khởi tố phải chứng minh lý do người bị hại không thể tự mình khởi tố và quan hệ của mình với người bị hại. Trong các vụ án tư tố, người bị hại phải chứng minh vụ án do mình khởi tố là vụ án ít nghiêm trọng, phải chứng minh rằng bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật bởi vì hành vi của bị cáo xâm phạm đến các quyền nhân thân hoặc quyền tài sản của họ. Người đứng ra khởi tố phải có đơn khởi tố, nếu gặp khó khăn trong việc viết đơn khỏi tố thì có thể tố cáo bằng miệng. Trong trường hợp người khởi tố biết rõ còn có người khác cũng xâm phạm, gây hại cho mình nhưng chỉ kiện một hoặc một số người xâm hại (một hoặc một số bị cáo) thì Tòa án vẫn thụ lý giải quyết và coi như người khởi tố đã bỏ quyền khởi tố đối với người khác đã xâm hại mình. Sau khi phán quyết, tuyên án, người khởi tố mới đưa đơn tố cáo đối với những người khác còn lại thì Tòa án không thụ giải quyết. Nếu trong số những người bị hại, chỉ có một hoặc một số người đứng ra khởi tố thì Tòa án cần thông báo cho những người bị hại khác tham gia tố tụng. Người được thông báo nếu không tham gia phiên tòa thì bị coi như đã từ bỏ quyền khởi tố của mình. Sau khi Tòa án tuyên án, người đã không tham gia tố tụng trước đó lại đệ đơn khởi tố về chính vụ án hình sự đó thì Tòa án không thụ lý giải quyết, trừ trường hợp người đó khởi kiện dân sự trong vụ án hình sự.

3.Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

3.1.Quan hệ giữa Viện kiểm sát và cơ quan điều tra

Theo quy định tại Điều 7 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc thì khi tiến hành tố tụng hình sự Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra phải phân công trách nhiệm, phối hợp, hỗ trợ và kiểm tra lẫn nhau nhằm bảo đảm thực thi luật pháp một cách chính xác và có hiệu quả.

Như vậy, theo quy định trên thì quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự Trung Quốc được thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra có sự phân công chức trách, quyền hạn rõ ràng theo pháp luật, mỗi bên có chức năng riêng, mỗi bên chịu trách nhiệm riêng của mình, không thay thế cho nhau, cũng không đùn đẩy lẫn nhau.

Thứ hai, trên cơ sở phân công trách nhiệm nhưng cùng đảm nhận chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự nên Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra phải phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác mật thiết, làm cho việc xử lý vụ án được tiếp nối nhau về mặt trình tự, hoàn thành nhiệm vụ làm rõ sự thật vụ án, truy cứu, trừng phạt tội phạm.

Thứ ba, quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra là quan hệ chế ước, ràng buộc lẫn nhau để tạo sự cân bằng với nhau theo sự phân công và trình tự thuộc chức năng tố tụng. Thông qua việc chế ước giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra nhằm ngăn chặn hoặc kịp thời uốn nắn các sai sót, bảo đảm chấp hành pháp luật chính xác, không để xảy ra oan, sai.

Sự phối hợp và chế ước giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra là quan hệ mang tính tương hỗ, tính hai chiều nhưng do trong giai đoạn điều tra và truy tố, nếu xét về quan hệ của hai hành vi tố tụng là điều tra và công tố thì mục đích của điều tra là đưa ra công tố, điều tra chỉ là sự chuẩn bị của công tố, buộc phải phục tùng theo yêu cầu của công tố.Nếu xét về quan hệ chức năng của hai cơ quan thì Cơ quan điều tra là người thực hiện cụ thể hoạt động điều tra, còn Viện kiểm sát chịu trách nhiệm thẩm tra phê chuẩn bắt giữ và thẩm tra truy tố - thẩm tra công tác điều tra theo quy định của pháp luật. Do vậy, trong quan hệ phối hợp, chế ước lẫn nhau, Viện kiểm sát nằm ở vị trí chủ đạo.

Theo quy định tại Điều 8 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc thì Viện kiểm sát nhân dân thực hiện việc giám sát tư pháp hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật. Do vậy ngoài quan hệ phân công, phối hợp, chế ước, quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra còn là quan hệ giữa chủ thể giám sát và đối tượng bị giám sát. Trong quan hệ này, Viện kiểm sát là chủ thể thực hiện việc giám sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ hoạt động điều tra vụ án hình sự, còn cơ quan công an và hoạt động điều tra của Điều tra viên là khách thể bị giám sát và đối tượng bị giám sát. Đây là quan hệ mang tính một chiều, chứ không phải là quan hệ hai chiều như trong quan hệ phối hợp, chế ước lẫn nhau.

3.2.Quan hệ giữa Viện kiểm sát và Tòa án

Quan hệ công tác giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong tố tụng hình sự Trung Quốc chủ yếu bao gồm mối quan hệ:

Một là, mối quan hệ giữa công tố và quyền xét xử, thể hiện ở hai mặt sau:

Thứ nhất, quyết định truy tố của Viện kiểm sát làm phát sinh hoạt động xét xử của Tòa án, các trình tự xét xử được phát động bởi việc truy tố, Tòa án không thể tiến hành xét xử nếu không có việc truy tố của viện kiểm sát.

Thứ hai, quyết định truy tố của Viện kiểm sát giới hạn phạm vi xét xử của Tòa án vì để bảo đảm thống nhất giữa đối tượng xét xử củaTòa án với đối tượng truy tố củaViện kiếm sát thì không thể xét xử bị cáo hoặc các sự việc chưa bị truy tố.

Trong mối quan hệ trên thì giữa Viện kiêm sát và Tòa án có quan hệ chế ước lẫn nhau. Vai trò chế ước này được thể hiện một cách tập trung ở chỗ: Truy tố là tiền đề của xét xử đồng thời giới hạn nội dung xét xử là bước tiếp của truy tố nhưng quyết định cuối cùng vận mệnh của truy tố. Chính do quyền truy tố và bản chất quyền truy tố là quyền thỉnh cầu tư pháp và quyền xét xử là quyền quyết định tư pháp nên trong quan hệ giữa kiểm sát và xét xử thì xét xử đóng vai trò chủ đạo. Viện kiểm sát phải tôn trọng việc thực hiện quyền xét xử, tạo mọi điều kiện cần thiết để Tòa án nhân dân thi hành chính xác có hiệu quả quyền xét xử.

Hai là, theo quy định của luật tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát có chức năng giám sát hoạt động xét xử của Tòa án nên quan hệ giữa Viện kiểm sát và Tòa án là quan hệ giữa chủ thể kiểm sát với đối tượng bị kiểm sát. Theo đó nếu Viện kiểm sát cho rằng phán quyết của Tòa án nhân dân có sai lầm thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm hoặc trình tự giám đốc thẩm. Nếu phát hiện Tòa án nhân dân khi xét xử vụ án đã vi phạm trình tự tố tụng mà pháp luật quy định thì Viện kiểm sát có quyền đưa ra yêu cầu Tòa án sửa đổi.

4.Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Trung Quốc

Các biện pháp ngăn chặn được quy định trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc năm 1997 bao gồm: bảo lĩnh, giám sát nơi cư trú, tạm giữ, tạm giam.

Việc tạm giam do Cơ quan điều tra quyết định. Luật tố tụng hình sự quy định: Có thể thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh hoặc biện pháp giám sát nơi cư trú trong giai đoạn tiền xét xử và cho phép người đại diện của người bị tình nghi có thể nộp đơn đề nghị thay đổi biện pháp tạm giam tới Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án. Trong thực tế, nhiều trường hợp Cơ quan điều tra tự mình trả tự do cho người đang bị tạm giam với nhiều căn cứ khác nhau, trong đó có căn cứ: thiếu chứng cứ hoặc có sự hợp tác của người bị tình nghi trong quá trình điều tra.

Luật tố tụng hình sự Trung Quốc chú trọng quy định cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền tạm giam hơn là quy định cho Tòa án xem xét lại quyết định tạm giam. Ở Trung Quốc, không có khái niệm rằng để tạm giam người bị tình nghi trong trại tạm giam thì cơ quan ra quyết định trung lập như Tòa án cần phải đưa ra quyết định phê chuẩn. Đây cũng là đặc trưng của tố tụng thẩm vấn, khác với tố tụng tranh tụng - cơ quan có thẩm quyền quyết định việc tạm giam thường là Tòa án. Luật tố tụng hình sự Trung Quốc quy định nhiều thời hạn khác nhau để tạm giam người bị tình nghi, bị cáo trong mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau nhưng lại không quy định cơ chế pháp luật để bảo đảm quyền của người bị giam giữ không bị giam giữ quá thời hạn luật định.

Theo Điều 69 Luật tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra phải đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn thời hạn tạm giam từ 3 đến 7 ngày. Nhưng trong các vụ án nghiêm trọng thì có thể gia hạn thời hạn tạm giam đến 30 ngày. Trong thời hạn 7 ngày, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn. Nếu từ chối phê chuẩn, Cơ quan điều tra có thể đề nghị xem xét lại nhưng phải trả tự do cho người đang bị tạm giam.

Bắt giữ chính thức: Sau khi hết hạn thời hạn tạm giam, cách duy nhất mà các Điều tra viên có thể tiếp tục tạm giam hợp pháp người bị tình nghi là có được sự chấp thuận của Viện kiểm sát đối với việc "bắt giữ chính thức ” nghi can và chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát mới có quyền phê chuẩn bắt giữ chính thức.

Luật tố tụng hình sự quy định trong thời hạn 24 giờ tạm giữ, Cơ quan điều tra phải thông báo cho gia đình người bị tình nghi, luật sư, hoặc người đại diện của người bị tạm giữ và những người này đại diện cho người bị tạm giữ có thể đề nghị cho bảo lĩnh hoặc giam giữ tại nhà (giám sát nơi cư trú). Tuy nhiên, trong thực tế có rất ít người bị tạm giữ được trả tự do. Cơ quan công an hoăc kiểm sát có thể ra quyết định người bị tình nghi được bảo lĩnh hoặc giam giữ tại nhà.

5.Trách nhiệm chứng minh trong tố tụng hình sự và cách thức chứng minh

Toàn bộ hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Trung Quốc về thực chất là 1 hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ. Theo quy định của luật tố tụng hình sự Trung Quốc thì chỉ cơ quan tiến hành tố tụng là: Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân và Cơ quan điều tra mà cụ thể là người tiến hành tố tụng trong các quan này, đó là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên mới có quyền thu thập chứng cứ [25] . Trong ba cơ quan tiến hành tố tụng thì Cơ quan điều tra có vai trò chủ đạo trong việc thu thập chứng cứ, Cơ quan điều tra phải tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ chứng minh sự có hay vô tội của người bị tình nghi phạm tội hoặc chứng minh tội phạm nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng [26] ; phải thu thập các loại chứng cứ chứng minh tình tiết phạm tội tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tình nghi phạm tội [27] .

Như vậy chứng minh tội phạm là trách nhiệm riêng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh là mình vô tội. Đây là đặc trưng điển hình của mô hình tố tụng thẩm vấn của Trung Quốc.

Bên cạnh việc quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm, luật tố tụng hình sự Trung Quốc quy định cụ thể, chặt chẽ về trình tự, thủ tục của việc thu thập chứng cứ, các nguyên tắc đánh giá và loại bỏ chứng cứ, trách nhiệm cung cấp chứng cứ, theo đó Thẩm phán, Kiếm sát viên, Điều tra viên theo trình tự, thủ tục quy định trong luật phải thu thập các loại chứng cứ khác nhau chứng minh sự có tội hay vô tội của nghi can, bị cáo và mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Nghiêm cấm việc bức cung, dùng nhục hình và thu thập chứng cứ bằng các biện pháp như đe doạ, dụ dỗ, lừa gạt và các biện pháp bất hợp pháp khác. Phải đảm bảo các điều kiện cho mọi công dân có liên quan đến vụ án hoặc người có thông tin về các tình tiết của vụ án cung cấp chứng cứ một cách khách quan và đầy đủ, trừ những trường hợp đặc biệt, họ có thể được mời tới để hỗ trợ điều tra vụ án. Các đơn vị và cá nhân liên quan phải cung cấp các chứng cứ chính xác. Chứng cứ liên quan đến bí mật quốc gia phải được giữ bí mật. Người làm sai lệch, che giấu hoặc tiêu huỷ chứng cứ, bất kể là bên nào trong vụ án đều bị truy cứu trách nhiệm pháp lý [28] .

6. Các giai đoạn của quá trình tố tụng và phương pháp tố tụng được áp dụng trong các giai đoạn tố tụng

6.1. Giai đoạn điều tra

Quá trình tố tụng ở Trung Quốc là một quá trình liên tục, từ giai đoạn điều tra, đến giai đoạn truy tố, rồi đến giai đoạn xét xử. Trong quá trình này, giai đoạn điều tra được xem là giai đoạn đặc biệt quan trọng, mang tính quyết định, vì nó thiết lập hồ sơ vụ án là cơ sở cho các giai đoạn tiếp theo. Các hoạt động điều tra và kết quả của chúng được lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Các giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng được tiến hành dựa trên cơ sở hồ sơ vụ án được thiết lập trong giai đoạn điều tra.

Trong giai đoạn điều tra, phương pháp tố tụng được áp dụng là phương pháp điều tra, thẩm vấn. Đối với người bị tình nghi bị bắt giữ thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi bị bắt giữ, người bị tình nghi phải được thẩm vấn. Đối với nghi can không bị bắt giữ thì có thể triệu tập nghi can đến một địa điểm chỉ định trong thành phố hoặc thị trấn nơi nghi can cư trú hoặc thẩm vấn tại nơi cư trú của người này. Thời điểm thẩm vấn từ lúc triệu tập hoặc buộc phải trình diện không quá 12 giờ. Việc thẩm vấn do hai Điều tra viên tiến hành và phải được lập thành biên bản, người bị tình nghi được xem và ký vào biên bản. Khi thẩm vấn người bị tình nghi, đầu tiên các Điều tra viên phải đưa ra câu hỏi “người bị tình nghi có phạm tội hay không?” và để cho người bị tình nghi trình bày các tình tiết phạm tội hoặc vô tội, sau đó các Điều tra viên có thể hỏi thêm và người bị tình nghi phải trả lời một cách trung thực các câu hỏi của Điều tra viên nhưng cũng có quyền từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào không liên quan đến vụ án [29] . Biên bản thẩm vấn phải được công bố cho người bị tình nghi kiểm tra. Nếu thấy biên bản còn thiếu hoặc chưa chính xác, người bị tình nghi có thể yêu cầu bổ sung hoặc sửa chữa. Khi người bị tình nghi công nhận biên bản không sai sót thì ký tên hoặc điểm chỉ vào đó. Điều tra viên có thể yêu cầu hoặc cho phép người bị tình nghi tự viết một bản tường trình [30] . Người bị tình nghi có thể mời một luật sư ngay sau lần thẩm vấn đầu tiên. Tại giai đoạn này, vai trò của Luật sư là rất hạn chế trong việc tư vấn, kiến nghị hay khiếu nại thay mặt người bị tình nghi. Luật sư cũng không thể trợ giúp pháp lý cho người bị tình trong việc chuẩn bị bào chữa.

Mặc dù Luật tố tụng hình Trung Quốc quy định cấm Cơ quan điều tra có hành vi bức cung, đe dọa dụ dỗ, lừa gạt hoặc các biện pháp hợp pháp khác để thu thập chứng để có được lời nhận tội của người tình nghi nhưng Luật tố tụng hình sự Trung Ọuốc lại không quy định việc loại trừ chứng cứ thu thập được một cách bất hợp pháp hay thủ tục để xác định có hay không biện pháp bất hợp pháp được sử dụng để có được lời nhận tội của người bị tình nghi.

Như vậy, vai trò hạn chế của luật sư trong giai đoạn điều tra và thiếu biện pháp giải quyết đối với hành bất hợp pháp của Cơ quan điều tra trong quá trình thẩm vấn dẫn đến nhiều hậu quà xấu trong các vụ án mà người bị tình nghi nhận tội do bị ép buộc [31] . Những vụ án về người vô tội nhận tội do bị ép buộc đã dẫn đến rất nhiều đề nghị cải cách tư pháp ở Trung Quốc, chẳng hạn như đề nghị có mặt Luật sư ngay trong lần thẩm vấn đầu tiên người bị tình nghi [32] hay các cơ quan tư pháp được quay băng video toàn bộ cuộc thẩm vấn [33] hay quy định cấm các Kiểm sát viên và Điều tra viên sử dụng những lời nhận tội do bị ép buộc [34] . Tuy nhiên cho đến nay những đề nghị này chưa được đưa vào luật tố tụng hình sự của Trung Quốc.

Sau khi kết thúc điều tra, Điều tra viên phải làm báo cáo kết thúc điều tra vụ án (thủ tục này tương tự thủ tục ra bản kết luận điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam). Nếu chứng cứ đã đầy đủ, rõ ràng và đáng tin cậy thì Cơ quan điều tra làm văn bản đề nghị truy tố và chuyển hồ sơ, chứng cứ của vụ án sang Viện kiểm sát cùng cấp để thẩm tra và quyết định theo thẩm quyền.

6.2.Giai đoạn truy tố

Sau khi nhận hồ sơ kết thúc điều tra, Viện kiểm sát nhân dân phải tiến hành thẩm tra các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Phương pháp tố tụng được sử dụng trong giai đoạn này vẫn là phương pháp thẩm vấn. Khi thẩm tra một vụ án, Viện kiểm sát nhân dân phải thẩm vấn bị can và ghi lại ý kiến của người bị hại và những người do bị can và người bị hại chỉ định [35] . Khi thẩm tra vụ án, nếu Viện kiểm sát thấy cần thiết phải điều tra bổ sung thì có thể trả lại hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra để tiến hành điều tra bổ sung.

Trường hợp Viện kiểm sát nhân dân quyết định truy tố vụ án ra trước Tòa án thì Viện kiểm sát xây dựng bản cáo trạng và làm văn bản đề nghị truy tố gửi Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử.

6.3.Giai đoạn xét xử

Sau khi nhận được hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng do Viện kiểm sát chuyển đến, một Thẩm phán sẽ được chỉ định để thẩm tra các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào kết quả thẩm tra, Tòa án ra một trong các quyết định: Quyết định thụ lý vụ án; Quyết định không thụ lý vụ án; Quyết định trả lại vụ án cho Viện kiểm sát; Yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu.

Theo quy định của luật tố tụng hình sự Trung Quốc trước năm 1996 thì Kiểm sát viên phải chuyển tất cả chứng cứ thu thập được đến Tòa án và người bào chữa có thể được xem xét các chứng cứ trước khi xét xử. Tuy nhiên quy định này đã dẫn đến tình trạng các Thẩm phán xem xét chứng cứ trước khi xét xử và quyết định hậu quả pháp lý trước khi mở phiên tòa xét xử. Chính vì vậy để đảm bảo sự tập trung của Thẩm phán vào giai đoạn xét xử và để hạn chế hiện tượng “quyết định trước, xét xử sau”, Luật tố tụng hình sự Trung Quốc năm 1997 không quy định thủ tục tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và không cho phép Kiểm sát viên chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cùng các chứng cứ đến phiên tòa trước khi xét xử mà Kiểm sát viên phải nộp danh sách chứng cứ, danh sách các nhân chứng và bản sao hoặc ảnh của các chứng cứ quan trọng đến Tòa án [36] . Tuy nhiên, quy định này đã hạn chế quyền bào chữa của người bào chữa vì họ không được xem xét tất cả chứng cứ trước khi xét xử.

Sau khi thẩm tra chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nếu thấy cáo trạng đã nêu đầy đủ các tình tiết, chứng cứ phạm tội thì Tòa án có thẩm quyền phải mở phiên xét xử. Mười ngày trước khi mở phiên tòa, Tòa án chuyển bản cáo trạng của Viện kiểm sát cho đương sự; thông báo cho bị cáo quyền có luật sư bào chữa hoặc chỉ định luật sư bào chữa cho họ trong những trường hợp pháp luật quy định; 05 ngày trước khi mở phiên tòa, Tòa án phải thông báo cho bị cáo và luật sư của họ các thông tin về người làm chứng và chứng cứ được xem xét tại phiên tòa; 03 ngày trước khi mở phiên tòa, Tòa án phải thông báo cho Viện kiểm sát về thời gian, địa điểm mở phiên tòa; gửi giấy triệu tập và thông báo về nội dung vụ án, thời gian, địa điểm mở phiên tòa cho bị cáo, Luật sư bào chữa, bị hại và những người tham gia tố tụng khác. Sau khi có quyết định mở phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ được thành lập, số lượng thành viên Hội đồng được chỉ định tùy theo cấp Tòa án xét xử và trình tự xét xử. Hầu hết các vụ án hình sự được xét xử bởi Hội đồng xét xử gồm có ba người mà thường có hai Thẩm phán chuyên nghiệp và một Hội thẩm nhân dân.

Trong tố tụng thẩm vấn không có cơ chế ‘‘mặc cả thú tội" như trong tố tụng tranh tụng. Nhưng giống như tố tụng tranh tụng của Hoa Kỳ, hoạt động tố tụng hình sự ở Trung Quốc, điển hình là ở giai đoạn xét xử thiên nhiều về mặc cả thú tội hơn là xét xử để làm rõ tình tiết còn tranh cãi hoặc tranh luận để làm rõ chứng cứ. Mặc dù theo quy định của luật tổ tụng hình sự thì Tòa án có thẩm quyền điều tra và yêu cầu các nhân chứng khai tại phiên tòa để làm rõ những tình tiết có tranh cãi nhưng rất ít khi Tòa án làm điều này. Trong khi đó các chuyên gia tư pháp hình sự của Trung Quốc không tán thành với “mặc cả thú tội” ngoại trừ các tội ít nghiêm trọng có mức hình phạt từ 3 năm tù trở xuống.

Cho dù những người xây dựng và áp dụng Luật tố tụng hình sự Trung Quốc đang xem xét quy định về sự có mặt của nhân chứng tại phiên tòa và thẩm tra chéo nhưng trong thực tế, chỉ có ít nhân chứng có mặt và khai báo tại phiên tòa và có rất ít lời khai của nhân chứng được thẩm tra chéo [37] . Hơn nữa, biên bản ghi lời khai nhân chứng chỉ có thể được đọc tại phiên tòa nên không có cơ hội cho người bào chữa được thẩm tra chéo nhân chứng [38] .

Phiên tòa bắt đầu bằng việc xét hỏi về căn cước, tình trạng gia đình của bị cáo và tiến trình tố tụng cơ bản của vụ án đó, tiếp theo bị cáo được quyền đề nghị thay đổi Thẩm phán và Kiểm sát viên. Sau khi kết thúc phần thủ tục, Tòa án tiến hành việc điều tra. Việc điều tra tại phiên tòa giúp Tòa án xem xét, kiểm tra chứng cứ đã thu thập được có đủ giá trị chứng minh cho sự thật vụ án hay không, giúp các bên tìm kiếm, khẳng định, củng cố các chứng cứ có lợi cho mình. Chính vì vậy, thẩm vấn (hỏi - đáp) là phương thức chủ yếu được sử dụng tại phiên tòa trong giai đoạn điều tra tại phiên tòa.

Thủ tục điều tra tại phiên tòa được bắt đầu bằng việc Kiểm sát viên công bố cáo trạng, bị cáo hoặc người đại diện tố tụng của họ trong vụ án dân sự kèm theo (nếu có tố tụng dân sự kèm theo) đọc đơn kiện dân sự. Tiếp đó bị cáo, người bị hại có thể trình bày về sự việc phạm tội nêu trong cáo trạng.

Kiểm sát viên công bố từng chứng cứ như: công bố biên bản ghi lời kể, lời chứng, kết luận giám định và biên bản khám nghiệm,kiểm tra của người bị hại, nhân chứng, người giám định, tiếp đến Tòa án hỏi bị cáo và luật sư bào chữa của bị cáo xem họ có ý kiến nào liên quan đến chứng cứ và Tòa án để cho những người này được xuất trình, đọc văn bản ghi lời kể, lời chứng, kết luận giám định và biên bản khám nghiệm, kiểm tra chưa được công bố tại phiên tòa. Tiếp đến, Kiểm sát viên hoặc bị hại (nếu vụ án được khởi tố theo yêu cầu người bị hại) xét hỏi nhân chứng, rồi đến bị cáo và luật sư bào chữa hỏi nhân chứng và người bị hại có thể hỏi bị cáo.

Khi thẩm tra các tài liệu, chứng cứ được công bố tại phiên tòa, nếu phát hiện có sự mâu thuẫn quan trọng về nội dung vụ án đã được nhận định khi điều tra, xét xử tại phiên tòa có thể ảnh hưởng đến việc ra phán quyết đúng đắn thì Hội đồng xét xử quyết định phục hồi điều tra tại phiên tòa [39] . Trong quá trình điều tại phiên tòa, nếu thấy nghi ngờ về chứng cứ, Hội đồng xét xử có thể tuyên bố ngừng phiên tòa để kiểm tra tính xác thực của chứng cứ bẳng các biện pháp khám nghiệm, kiểm tra, thu giữ, xét hỏi và phong tỏa [40] . Tiêu chuẩn của chứng minh tại phiên tòa là các tình tiết của vụ án rõ ràng, chứng cứ đầy đủ và đáng tin cậy

Khi Hội đồng xét xử thấy rằng việc điều tra tại phiên tòa đã rõ ràng thì chủ tọa tuyên bố kết thúc việc điều tra chuyển sang phần tranh luận tranh luận tại phiên tòa tập trung vào các vấn đề về sự thật, chứng cứ của vụ án và việc áp dụng pháp luật [41] . Việc tranh luận tại phiên tòa được thực hiện theo thứ tự: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến, sau đó đến người bị hại và người đại diện tố tụng của họ phát biểu ý kiến, tiếp đến bị cáo tự bào chữa và người bào chữa bào chữa cho bị cáo và cuối cùng các bên tiến hành tranh luận với nhau [42] . Trong quá trình tranh luận, nếu có tình tiết mới phát sinh và thấy rằng cần phải điều tra thì Chủ tọa phiên tòa có thể tuyên bố tạm dừng việc tranh luận để khôi phục việc điều tra tại phiên tòa cho đến khi điều tra làm rõ sự thật thì mới tiếp tục việc tranh luận [43] . Sau khi kết thúc việc tranh luận, bị cáo được nói lời sau cùng, tiếp đến Hội đồng xét xử nghị án trong thời gian ngắn, rồi quay trở lại phiên tòa để tuyên án. Bị cáo cũng có thể được tuyên thẳng là có tội hoặc tuyên vô tội nếu xét thấy chứng cứ không đầy đủ và việc truy tố không có cơ sở [44] .

7. Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của tố tụng: buộc tội - bào chữa - xét xử

Tố tụng hình sự Trung Quốc cũng bao hàm ba chức năng cơ bản, đó là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Mỗi chức năng có vị trí, vai trò, bản chất, chủ thể thực hiện, hoạt động đặc trưng khác nhau và đặc biệt là giữa chúng có sự độc lập với nhau. Chức năng buộc tội do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, tư tố viên, người bị hại, nguyên đơn dân sự và người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện; Chức năng bào chữa do người bào chữa, nghi can, bị can, bị cáo và người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện; Chức năng xét xử chỉ do một chủ thể duy nhất thực hiện đó là Tòa án, mà cụ thể là các thành viên Hội đồng xét xử (Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân). Tuy nhiên, các chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ràng buộc nhau trong suốt quá trình giải quyết vụ án, một chức năng tồn tại, vận động vì sự tồn tại và vận động của hai chức năng kia. Trong ba chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử thì chức năng buộc tội và chức năng bào chữa là đối lập nhau, còn chức năng xét xử có vị trí trung tâm và giữ vai trò quyết định vì bản chất của xét xử là đưa ra phán quyết đối với hành vi phạm tội và người phạm tội. Các hoạt động thực hiện hai chức năng buộc tội và bào chữa xét đến cùng chính là nhằm tạo các điều kiện cần thiết để thực hiện chức năng xét xử. Trong tố tụng hình sự Trung Quốc, ba chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử chưa được phân định rõ ràng vì trong thực tế cả ba cơ quan là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án cùng thực hiện một hoạt động đó là điều tra, thẩm vấn.

Mô hình tố tụng hình sự của Trung Quốc phân chia các giai đoạn tố tụng một cách rõ rệt: giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử. Trong giai đoạn điều tra, truy tố chỉ xuất hiện hai chức năng, đó là chức năng buộc tội và chức năng bào chữa. Chủ thể chính thực hiện chức năng buộc tội trong giai đoạn này là Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát (cụ thể là Điều tra viên và Kiểm sát viên), còn chủ thể thực hiện chức năng bào chữa là người bị tình nghi phạm tội, bị can và người bào chữa. Tuy nhiên, trong giai đoạn này chức năng buộc tội có vai trò nổi trội vì tố tụng hình sự Trung Quốc nhấn mạnh vào hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ của cơ quan công an với sự tham gia tích cực của Viện kiểm sát - cơ quan giám sát hoạt động điều tra. Kết quả điều tra được lưu giữ và phản ánh trong hồ sơ vụ án, làm cơ sở cho Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can ra tòa và buộc tội tại phiên tòa; là cơ sở để Tòa án xét xử và cũng là cơ sở để người bào chữa thực hiện chức năng bào chữa. Trong giai đoạn điều tra, truy tố, luật tố tụng hình sự Trung Quốc không quy định việc loại trừ chứng cứ thu thập được một cách bất hợp pháp cũng như không quy định thủ tục để xác định có hay không biện pháp bất hợp pháp sử dụng để có được lời nhận tội của người bị tình nghi vì tố tụng hình sự Trung Quốc có khuynh hướng đề cao vai trò của chức năng buộc tội với mục đích “trừng trị người phạm tội”, hơn là cơ chế để bảo đảm “ làm oan người vô tội”. Trong đoạn điều tra, truy tố, chức năng bào chữa có vai trò hạn chế. Người bào chữa chỉ thực hiện được chức năng bào chữa của mình sau lần thẩm vấn đầu tiên; người bào chữa bị hạn chế trong việc tư vấn, kiến nghị hay khiếu nại thay mặt người bị tình nghi, họ chi được khuyên một cách chung chung về vụ án, về quyền của người bị tình nghi và không thể trợ giúp pháp lý cho người bị tình nghi trong việc chuẩn bị bào chữa. Thậm chí, chức năng bào chữa không được thực hiện một cách độc lập vì Luật tố tụng quy định cho Cơ quan điều tra có thể có mặt trong bất cứ cuộc tiếp xúc nào giữa người bị tình nghi với Luật sư bào chữa và quy định cho Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định việc cho phép Luật sư bào chữa tham gia vụ án, thu thập thông tin trong giai đoạn khởi tố, điều tra và truy tố vụ án hình sự. Cụ thể là quy định: Với sự cho phép của Viện kiểm sát nhân dân và với sự đồng ý của người bị hại, họ hàng thân thích hoặc nhân chứng do người bị hại cung cấp, luật sư bào chữa có thể thu thập thông tin liên quan đến vụ án; với sự chấp thuận của Viện kiểm sát, những người bào chữa khác cũng có thể tư vấn, trích, sao các tài liệu nói trên, gặp gỡ, trao đổi với nghi can đang bị giam giữ [45] .

Ở giai đoạn điều tra, với việc quy định cho Cơ quan điều tra có quyền chứng minh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của nghi can, bị can đã khiến cho chức năng buộc tội “lấn sân ” chức năng bào chữa.

Đến giai đoạn xét xử, ba chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử cùng xuất hiện với sự tham gia của các chủ thể thực hiện các chức năng này. Trong mô hình tố tụng hình sự Trung Quốc, Tòa án không chỉ thực hiện chức năng xét xử mà còn thực hiện một số việc của chức năng buộc tội khi quy định cho Thẩm phán tham gia vào quá trình điều tra, thẩm vấn tại phiên tòa, trực tiếp xét hỏi và kiểm tra nhân chứng, chứng cứ. Tuy nhiên, vai trò buộc tội của Hội đồng xét xử ở mức độ hạn chế hơn vì luật tố tụng hình sự Trung Quốc không đặt trách nhiệm chứng minh tại tòa thuộc về Hội đồng xét xử mà đề cao vai trò buộc tội do Kiểm sát viên thực hiện tại phiên tòa. Tại phần xét hỏi, Kiểm sát viên xét hỏi trước hành vi phạm tội của bị cáo, sau đó đến người bào chữa và người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử không xét hỏi trước mà chỉ lắng nghe và có thể hỏi ở bất kỳ thời điểm nào về các tình tiết cần làm sáng tỏ nếu thấy cần thiết.

Trong giai đoạn xét xử, Luật tố tụng hình sự Trung Quốc mở rộng vai trò của chức năng bào chữa và bảo đảm sự bình đẳng giữa chức năng bào chữa với chức năng buộc tội bằng việc quy định cho bị cáo, người bào chữa, người đại diện theo pháp luật của những người này có quyền đề nghị Chánh án lần lượt cho gọi nhân chứng, người giám định ra tòa làm chứng hoặc xuất trình những chứng cứ, đọc lời chứng đã ghi thành văn bản của nhân chứng chưa có mặt tại phiên tòa, kết luận giám định của người giám định; bị cáo và Luật sư bào chữa có thể hỏi nhân chứng; sau khi đưa ra chứng cứ thì bị cáo và người bào chữa tranh luận với Kiểm sát viên, người bị hại.

Để hạn chế tình trạng “quyết định trước, xét xử sau”, xem xét chứng cứ trước khi xét xử và quyết định hậu quả pháp lý trước khi mở phiên tòa, không để việc xét xử mang tính hình thức, bảo đảm việc tranh luận có ý nghĩa, có tính quyết định đối với phán quyết của Tòa án, Luật tố tụng hình sự Trung Quốc không cho phép Kiểm sát viên chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cùng các chưng cứ đến Tòa án trước khi xét xử mà chỉ chuyển các chứng cứ quan trọng.

Ngoài ba chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử, trong tố tụng hình sự Trung Quốc còn có một chức năng khác là chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự. Tại phiên tòa ngoài chức năng buộc tội, Viện kiểm sát còn thực hiện chức năng kiểm sát xét xử để đảm bảo việc xét xử được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Kết luận

Mô hình tố tụng hình sự Trung Quốc về cơ bản là mô hình tố tụng thẩm vấn có kết hợp với một số yếu tố của tố tụng tranh tụng. Đặc trưng điển hình của mô hình tố tụng thẩm vấn của Trung Quốc là quy định cả ba cơ quan; Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đều có quyền thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội. Nghi can, bị can, bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải chứng là mình vô tội. Trong ba cơ tiến hành tố tụng nêu trên thì cơ quan điều tra có vai trò nổi trội trong việc thu thập chứng cứ. Trong thực tiễn điều tra, thu thập chứng cứ, vẫn có tình trạng Cơ quan điều tra lạm dụng việc áp dụng các pháp cưỡng chế, biện pháp chặn và sử dụng một số biện bất hợp pháp để có được lời nhận tội của nghi can, bị can, bị cáo dù Luật tố tụng hình sự Trung quy định quyền bào chữa và nhờ người khác bào chữa của nghi can, bị can, bị cáo cũng như cơ chế để bảo đảm quyền bào chữa của họ nhưng trong thực tiễn vai trò người bào chữa là rất hạn chế, có rất ít Luật sư tham gia bào chữa trong các vụ án hình sự. Ngoài ra Luật tố tụng hình sự Trung Quốc còn quy định Viện kiểm sát có quyền giám sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra nhưng thực tế hiệu quả hoạt động chưa cao. Do đó, tình trạng oan, sai trong việc giải quyết các vụ án hình sự vẫn còn xảy ra nhất là khi không có cơ chế để bảo đảm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp Ịuật khi xét xử. Hơn nữa, phương pháp tố tụng được sử dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử vẫn là phương pháp thẩm vấn (xét - hỏi) mà không sử dụng phương pháp đối tụng. Chỉ trong giai đoạn xét xử, ba chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử mới cùng xuất hiện và cũng tại giai đoạn này yếu tố tranh tụng mới được phát huy khi luật tố tụng hình sự quy định các thủ tục và trình tự để cho bên buộc tội, bên bào chữa đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, xét hỏi các nhân chứng và tranh luận bình đẳng với nhau. Tuy vậy, ba chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử vẫn chưa được phân định rõ ràng, luật tố tụng hình sự Trung Quốc còn có quy định cho phép chức năng buộc tội “lấn sân ” chức năng bào chữa và chức năng xét xử “lấn sân ” chức năng “buộc tội”. Một số tồn tại, hạn chế trong mô hình tố tụng hình sự Trung Quốc hiện hành đã dẫn đến các yêu cầu cải cách tư pháp, tuy nhiên cho đến nay những đề nghị đó vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu mà chưa được cụ thể hóa trong luật tố tụng hình sự Trung Quốc.

Tài liệu tham khảo

1. Luật tố tụng hình sự nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1997.

2. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1979, được sửa đổi năm 1983.

3. Luật cán bộ kiểm sát nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1995.

4. Quy tắc tố tụng hình sự Viện kiểm sát nhân dân năm 1997, được sửa đổi năm 1998.

5. Sổ tay kiểm sát viên hình sự Trung Quốc, tập 1 và tập 2 do Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Dự án VIE/95/018) xuất bản năm 2000.

6. Giáo trình công tác kiểm sát - Nhà xuất bản pháp luật Bắc Kinh, Trung Quốc, năm 2002.

7. Giáo trình chế độ công tố tập 1, tập 2 - Nhà xuất bản pháp luật Bắc Kinh, Trung Quốc, năm 2002.

8. Báo cáo chuyên đề của Tiến sĩ Diệp Phong, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc tại Hội thảo quốc tế về “Cải cách tư pháp ở Trung Quốc và kinh nghiệm công tố” do Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức tại Hà Nội, tháng 12/2004.

9. Báo cáo của Đoàn khảo sát của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Trung Quốc tháng 11/1997 và tháng 10/2005.

10. Criminal procedure a worldwide study - Carolina Academíc Press - Durham, North Carolina, year 2007


[1] Điều 2 Luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (sau đây được viết tắt là Luật tố tụng hình sự Trung Quốc)

[2] Điều 18 Luật Tố tụng hình sự Trưng Quốc

[3] Điều 5 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[4] Điều 2 Quy tắc tố tụng hình sự Viện kiểm sát nhân dân Trung Quốc

[5] Điều 14 Luật Tố tụng hình sự Trung Quốc

[6] Điều 35 Giải thích số 23/GT-TANDTC ngày 08/9/1998 của Tòa án nhân dân tối cao về một số vấn đề chấp hành “ Luật tố tụng hình sự nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa” (sau đây viết tắt là Giải thích số 23 ngày 08/9/1998 của Tòa án nhân dân tối cao về áp dụng pháp luật hình sự).

[7] Điều 35 Hướng dẫn của Bộ công an về áp dụng pháp luật tố tụng hình sự.

[8] Điều 36 Hướng dẫn của Bộ công an về áp dụng pháp luật tố tụng hình sự.

[9] Điều 41 Hướng dẫn của Bộ công an về áp dụng pháp luật tố tụng hình sự.

[10] Điều 43 Hướng dẫn của Bộ công an về áp dụng pháp luật tố tụng hình sự.

[11] Điều 44 Hướng dẫn của Bộ công an về áp dụng pháp luật tố tụng hình sự.

[12] Điều 96 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[13] Điều 11Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[14] Điều 34 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[15] Điều 38 Giải thích số 23 ngày 08/9/1998 của Tòa án nhân dân tối cao về áp dụng pháp luật hình sự

[16] Điều 36 Luật tố tụng hình sự, Điều 40, 41 Giải thích số 23 ngày 08/9/1998 của Tòa án nhân dân tối cao về áp dụng pháp luật hình sự

[17] Theo báo cáo của Đoàn luật sư trong lĩnh vực hình sự thì có nhiều luật sư không sẵn sàng bào chữa trong các vụ án hình sự vì họ cho rằng các  cơ quan pháp luật hình sự Trung Quốc có nhiều khả năng áp dụng Điều 308 Luật hình sự Trung Quốc để xử lý họ.Điều 308 Luật hình sự quy định tội phạm đối với luật sư hối lộ những người khai man trước tòa. Trong hệ thống tố tụng Trung Quốc, khi nhân chứng không bị thẩm tra chéo, luật sư cung cấp lời khai nhân chứng mà trái ngược với lời khai của nhân chứng do cơ quan Công an thu thập thì luật sư gặp nhiều rủi ro.

[18] Điều 36 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[19] Điều 84 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[20] Điều 87 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[21] Điều 145 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[22] Điều 155 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[23] Điều 77 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[24] Điều 88 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[25] Điều 43 và Điều 45 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[26] Điều 89 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[27] Điều 51 Hướng dẫn của Bộ Công an về áp dụng pháp luật tố tụng hình sự

[28] Điều 43 và Điều 45 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[29] Điều 93 Luật tố tụng sự Trung Quốc

[30] Điều 95 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[31] “Nhục hình vẫn còn lan rộng’ ờ Trung Quốc, Phái đoản Liên Hợp quốc nói như vậy” - Thời báo New York, ngày 02/12/2005.

[32]   “Những người bị tình nghi có thể yêu cầu ghi biên bàn cuộc thẩm vấn”, Báo Pháp luật ra ngày 08/5/2005. Theo bài báo này, ba cơ quan công an cấp huyện ờ tinh Bắc Kinh, Hồ Nam, Cam Túc đã được chọn để tiến hành thí điêm cho những người bị tình nghi có quyền được chọn có hay không việc yêu cầu luật sư có mặt hoặc cuộc thâm vấn được ghi băng, ghi hinh. Cũng có thể xem “Trung Quốc bắt đầu quay video cuộc thẩm vấn cùa cơ quan công an đối với người bị tình nghi” Reuters, ngày 10/5/2005.

[33]   “Để phòng ngừa việc cưỡng ép thú tội, tinh Giang Tô đã ra quy định yêu cầu quay video và ghi âm toàn bộ những cuộc thẩm vấn”, báo luật pháp hàng ngày, ngày 20/5/2005. Theo bài báo này, Viện kiểm sát tinh Giang Tô quy định bắt buộc phài quay viđeo và ghi âm đối với các vụ án do Viện kiểm sát trực tiếp điều tra công chức hay quan chức phạm tội.

[34]   “Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án tinh Tứ Xuyên ban hành văn bàn liên ngành ngày 05/4/2005 quy định về việc xừ lý chứng cứ trong các vụ án hình sự”. Văn bản liên ngành quy định những lời thú tội thu thập được do ép buộc, lừa đối, xúi dục không được sử đụng làm chứng cứ trong các vụ án.

[35] Điều 139 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

[36] Điều 150 Luật tố tụng hinh sự Trung Quốc.

[37] “Phân tích sâu sắc rằng: Phiên tòa ngày nay không có nhân chứng”, Quang Minh nhật báo, ngày 05/4/2005. Cũng có thể xem Ji Xiangde “Bình luận: để nhân chúng khai báo tại phiên tòa thì cần nhất là sự bảo đảm mang tính quyền lực nhà nước”, Zhangyi Wang ngày 07/12/2004 trên trang Web: www.CECC.gov với nội dung là ờ thành phố Nam Ninh của tình Quảng Tây, nhân chứng khai báo tại Tòa trong tất cà các vụ án hình sự đạt tỷ lệ chưa đến 1%. Năm 2000, TruỂmg Đại học luật và chính trị của Trung Quốc khảo sát tại một huyện cùa Thượng Hài cho thấy rằng nhân chứng khai báo tại Tòa trong các vụ án hinh sự chi chiếm 5%.

[38]    Điều 47 quy đjnh rằng: “Lời khai của nhân chứng có thể được sử dụng làm cơ sở quyết định vụ án chi sau khi nhân chứng đã được thẩm vấn và kiểm tra chéo tại Tòa án trước cả hai bên...”.

[39]   Điều 152 Giài thích số 23 ngày 08/9, Tòa án nhân dân tối cao về áp dụng pháp luật tố tụng hình sự.

[40] Điều 153 và Điều 154 Giải thích số 23 ngày 08/9/1998 của tòa án nhân dân tối cao về áp dụng pháp luật tố tụng hình sự.

[41] Điều 160 giải thích số 23 ngày 08/9/1998 của Tòa án nhân dân tối cao về áp dụng pháp luật tố tụng hình sự.

[42] Điều 161 Giải thích số 23 ngày 08/9/1998 củạ Tòa án nhân dân tối cao về ấp dụng pháp luật tố tụng hình sự.

[43] Điều 166 Giài thích số 23 ngày 08/9/1998 cùa Tòa án nhân dân tối cao về áp dụng pháp luật tố tụng hình sự.

[44] Điều 162 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc.

[45] Điều 36 và Điều 37 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi