Bảo vệ quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát

                                                                             TS. Phạm Mạnh Hùng                                   

 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) là cơ sở pháp lý góp phần  bảo vệ quyền con người. Một số nguyên tắc liên quan đến bảo vệ quyền con người đã được ghi nhận trong BLTTHS như: Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4); Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 5); Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Điều 6); Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (Điều 7); Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (Điều 8); Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9); Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11)...

Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ pháp luật, pháp chế, bảo vệ quyền con người. Việc bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự được thể hiện trên hai phương diện: Một là, đấu tranh chống tội phạm, phát hiện kịp thời để đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật đối với người phạm tội xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp, trong đó có các quyền của con người. Hai là, bảo đảm các quyền của con người (của người bị tình nghi, bị can, bị cáo, người bị kết án) không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng.

1. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự.

Ở Việt Nam, Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố và kiểm sát điều tra được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án hình sự và trong suốt quá trình điều tra các vụ án hình sự.

Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật; việc điều tra được khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra được phát hiện kịp thời; khắc phục và xử lý nghiêm minh; việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật.

Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn: Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của pháp luật; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật. Trường hợp không phê chuẩn thì trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do; huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can; quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn: Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra viên; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra; kiến nghị với cơ quan, tổ chức và đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

Theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các biện pháp sau đây có thể được Viện kiểm sát sử dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tình nghi, bị can trong giai đoạn điều tra:  

Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra rõ ràng là không có căn cứ thì Viện kiểm sát ra văn bản yêu cầu cơ quan đã khởi tố ra quyết định huỷ bỏ hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 109 BLTTHS;

Nếu thấy quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan đã khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ làm rõ căn cứ khởi tố. Viện kiểm sát có thể hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại để làm rõ căn cứ khởi tố bị can trước quyết định việc phê chuẩn hay huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can.

 Nếu hết thời hạn tạm giữ vẫn không đủ căn cứ phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì Viện kiểm sát ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can và yêu cầu cơ quan đã khởi tố bị can trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

Nếu qua nghiên cứu hồ sơ thấy có dấu hiệu của việc lạm dụng việc bắt khẩn cấp, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ chưa thể hiện rõ căn cứ để bắt khẩn cấp hoặc người bị bắt không nhận tội, các chứng cứ trong hồ sơ có mâu thuẫn, người bị bắt là người nước ngoài, người có chức sắc trong tôn giáo, người có uy tín trong đồng bào dân tộc ít người hoặc trong trường hợp cần thiết khác thì Viện kiểm sát trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước quyết định việc phê chuẩn hay không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp.

Nếu xét thấy việc gia hạn tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì ra quyết định không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ và yêu cầu người đã ra quyết định tạm giữ trả tự do ngay cho người bị tạm giữ theo quy định tại Điều 87 BLTTHS.

Khi nhận được hồ sơ xin phê chuẩn lệnh tạm giam, nếu thấy chưa rõ căn cứ thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung tài liệu chứng cứ làm rõ căn cứ để xem xét, quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn.

 Nếu còn thời hạn tạm giam nhưng thấy biện pháp tạm giam đối với bị can không còn cần thiết thì Viện kiểm sát đề nghị Cơ quan điều tra ra quyết định huỷ bỏ biện pháp tạm giam hoặc thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác hoặc Viện kiểm sát trực tiếp huỷ bỏ biện pháp tạm giam đối với bị can.

Trong quá trình điều tra vụ án, Viện kiểm sát có thể trực tiếp gặp, hỏi cung bị can khi thấy bị can kêu oan, lời khai của bị can trước sau không thống nhất, lúc nhận tội, lúc chối tội; bị can khiếu nại về việc điều tra; có căn cứ để nghi ngờ về tính xác thực trong lời khai bị can hoặc trường hợp bị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêm trọng. Sau khi kết thúc điều tra, nhận hồ sơ vụ án từ Cơ quan điều tra chuyển sang, Viện kiểm sát có thể trực tiếp hỏi cung bị can để kiểm tra tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Trong quá trình kiểm sát điều tra, nếu thấy có mâu thuẫn trong lời khai giữa bị can, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, hoặc khi cần thiết phải nhận dạng người hay đồ vật, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên tiến hành việc đối chất hoặc nhận dạng.

Trong quá trình kiểm sát điều tra, khi xác định bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS mà bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa, thì Viện kiểm sát phải yêu cầu Cơ quan điều tra yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình.

Sau khi nhận được kết luận điều tra cùng hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra chuyển sang, nếu có một trong những căn cứ xác định bị can không phạm tội; bị can phạm tội nhưng thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại và người bị hại không yêu cầu hoặc rút yêu cầu hoặc có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự đối với bị can thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án.

Với nhiệm vụ, quyền hạn và các biện pháp thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát vừa là người quyết định việc truy tố người phạm tội trước Tòa án để xét xử, bảo đảm nguyên tắc, bất cứ hành vi phạm tội nào xâm phạm đến quyền con người đều phải được phát hiện, xử lý trước pháp luật, vừa bảo đảm các hoạt động điều tra, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người bị tình nghi, bị can, bị cáo được tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Như vậy, sự tham gia của Viện kiểm sát trong giai đọan điều tra vụ án hình sự để thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội và người phạm tội đều được phát hiện, xử lý theo quy định của pháp luật; đồng thời, bảo đảm việc điều tra tuân thủ đúng pháp luật, mọi hoạt động xâm phạm đến các quyền của con người không bị pháp luật tước bỏ đều phải được phát hiện và xử lý. 

2. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự.

Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tộ, việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời.

Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có các nhiệm vụ và quyền hạn: Đọc cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu có; tham gia xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm; thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; kiểm sát các bản án, biên bản phiên toà và quyết định của Toà án theo quy định của pháp luật; yêu cầu Toà án cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án hoặc quyết định của Toà án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các biện pháp sau đây có thể được Viện kiểm sát sử dụng để bảo vệ quyền con người, phát hiện, phòng ngừa và khắc phục những sai lầm trong giai đoạn xét xử, bảo vệ quyền và lợi ích của bị cáo:

Trước khi xét xử, Viện kiểm sát có thể gặp bị cáo để hỏi cung đối với những trường hợp: Vụ án có bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, vụ án có bị cáo mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, lời khai của các bị cáo trong vụ án có mâu thuẫn, bị cáo kêu oan hoặc những trường hợp Viện kiểm sát thấy cần thiết.

 Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát có thể tổ chức thực nghiệm điều tra bằng cách cho dựng lại hiện trường diễn lại hành vi, tình huống.

 Trước khi mở phiên toà, nếu thấy việc truy tố không đúng, Viện kiểm sát có thể rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố. Trường hợp rút toàn bộ quyết định truy tố thì đề nghị Toà án đình chỉ vụ án.

 Tại phiên toà, sau khi xét hỏi nếu có căn cứ rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố; có tình tiết mới theo hướng có lợi cho bị cáo làm thay đổi quyết định truy tố thì Kiểm sát viên rút quyết định truy tố. Trường hợp tình tiết mới đưa ra tại phiên toà có căn cứ để kết luận về một tội danh khác nặng hơn thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà.

Kiểm sát viên kiểm sát việc chấp hành các thủ tục tố tụng tại phiên toà của Hội đồng xét xử, thư ký Toà án và những người tham gia tố tụng từ khi bắt đầu đến khi kết thúc phiên toà, nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, bảo đảm cho việc xét xử được công minh đúng pháp luật.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà trong các trường hợp: Bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng; người bào chữa vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS; người tham gia tố tụng khác vắng mặt sẽ gây trở ngại cho việc xét xử vụ án; thành phần Hội đồng xét xử không đúng với quy định của BLTTHS.

Viện kiểm sát kháng nghị bản án quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm trong các trường hợp có vi phạm pháp luật trong việc xét xử, trong đó, có trường hợp có căn cứ để xác định Bị cáo không phạm tội hoặc bị Tòa án xử quá nặng, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Đối với những vi phạm pháp luật của Tòa án chưa đến mức phải kháng nghị thì Viện kiểm sát kiến nghị với Tòa án có biện pháp khắc phục vi phạm.

Như vậy, với những nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động truy tố, buộc tội người phạm tội, để Tòa án xét xử, kết tội, quyết định hình phạt. Bằng cách đó góp phần phòng ngừa tội phạm và khôi phục các quyền và lợi ích của người bị hại, người có quyền, lợi ích có liên quan bị kẻ phạm tội xâm phạm. Mặt khác, Hoạt động kiểm sát xét xử của Viện kiểm sát còn bảo đảm hoạt động xét xử của Tòa án tuân thủ đúng quy định của pháp luật, khắc phục tình trạng xét xử oan người vô tội, quyết định hình phạt và các biện pháp xử lý đối với bị cáo nặng hơn quy định của pháp luật hoặc áp dụng các biện pháp không được áp dụng đối với bị cáo; mọi hoạt động vi phạm pháp luật đều phải được xử lý kịp thời.

3. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam.

Công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam là một trong các công tác kiểm sát thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân nhằm đảm bảo: Việc tạm giữ, tạm giam theo đúng quy định của pháp luật; chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý được chấp hành nghiêm chỉnh; tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, tạm giam và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng.

Như vậy, hoạt động của Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam là một trong những phương thức để Viện kiểm sát bảo vệ quyền của con người (của người bị tạm giữ, tạm giam).

Khi thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tạm giữ, tạm giam, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện các quyền và các biện pháp sau:

 Một là, thường kỳ trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam. Nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật xảy ra ở nhà tạm giữ, trại tạm giam thì Viện kiểm sát có thể trực tiếp tiến hành kiểm sát nhà tạm giữ, trại tạm giam vào bất kỳ thời gian nào, không kể là ngày hay đêm. Nếu phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật gây ra thì Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam, nơi đã kiểm sát, có biện pháp chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm pháp luật.

Hai là, kiểm tra hồ sơ, tài liệu của cơ quan cùng cấp và cấp dưới có trách nhiệm tạm giữ, tạm giam; gặp, hỏi người bị tạm giữ, tạm giam về việc thực hiện các quy định của pháp luật trong tạm giữ, tạm giam, đảm bảo cho việc tạm giữ, tạm giam được thực hiện khách quan, toàn diện, đúng quy định pháp luật.

Ba là, tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc tạm giữ, tạm giam. Sau khi tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, nếu xét thấy cần thiết Kiểm sát viên có thể trực tiếp gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người tố cáo, người bị tố cáo và những người có liên quan để xác minh nội dung những khiếu nại, tố cáo; trực tiếp giải quyết những khiếu nại, tố cáo có liên quan đến việc chấp hành các quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam; kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu xử lý những hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và chế độ đối với người bị tạm giữ, tạm giam và người chấp hành án phạt tù, chuyển đến cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giải quyết những khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và theo dõi kết quả giải quyết của cơ quan, đơn vị đó.

Bốn là, yêu cầu cơ quan cùng cấp và cấp dưới quản lý nơi tạm giữ, tạm giam kiểm tra những nơi đó và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân.

Năm là, yêu cầu cơ quan cùng cấp, cấp dưới và người có trách nhiệm thông báo tình hình tạm giữ, tạm giam trả lời về quyết định, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam.

Sáu là, kháng nghị cơ quan cùng cấp và cấp dưới yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền kháng nghị với cơ quan cùng cấp và cấp dưới, yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam; chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật trong trường hợp quyết định của Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam về việc tạm giữ, tạm giam, trái pháp luật.

Khi xác định được nguyên nhân, điều kiện dẫn đến vi phạm pháp luật hoặc những việc nếu không có biện pháp khắc phục sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát kiến nghị cơ quan có thẩm quyền và người có trách nhiệm có biện pháp tích cực để khắc phục, phòng ngừa vi phạm pháp luật.

Trong quá trình kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận kịp thời các trường hợp có dấu hiệu oan, tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và chuyển việc khiếu oan, sai đó đến cơ quan có trách nhiệm xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

Khi kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, khi phát hiện có căn cứ để không tiếp tục tạm giữ, tạm giam thì Viện kiểm sát ra quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, tạm giam. Đó là các trường hợp: Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp mà một người vẫn bị tạm giữ; người bị tạm giữ không có quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền; người bị tạm giữ đã được Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định tạm giữ nhưng vẫn bị tạm giữ, người bị tạm giữ đã có quyết định trả tự do; người mà Viện kiểm sát nhân dân không phê chuẩn gia hạn tạm giữ, người đã hết thời hạn tạm giữ mà không có quyết định hợp pháp nào khác nhưng vẫn bị giữ; người bị tạm giam nhưng không có lệnh hoặc lệnh không có phê chuẩn của Viện kiểm sát; người bị tạm giam mà Viện kiểm sát nhân dân quyết định không gia hạn tạm giam; người đã có quyết định huỷ bỏ việc tạm giam; người đã có quyết định trả tự do hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác; người đã có quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án mà không bị giam giữ về hành vi phạm tội khác.

 Khi thực hiện công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm trong việc quản lý giam giữ thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự để tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật.

4. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án.

Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà án, Cơ quan thi hành án, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án, nhằm đảm bảo các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành đúng quy định pháp luật, đầy đủ, kịp thời. Đồng thời, bảo đảm các quyền và lợi ích của con người (của người bị kết án) không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng.

Khi thực hiện kiểm sát thi hành án hình sự, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn: Yêu cầu Toà án cùng cấp và cấp dưới ra quyết định thi hành án hình sự đúng quy định của pháp luật; yêu cầu Toà án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự tự kiểm tra việc thi hành án hình sự và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát; cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc thi hành án hình sự.

Viện kiểm sát có trách nhiệm phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật trong thi hành án hình sự theo thẩm quyền; ra quyết định trả tự do ngay cho người đang chấp hành án phạt tù không có căn cứ và trái pháp luật.

Để thực hiện chức năng kiểm sát thi hành án hình sự, Viện kiểm sát có thể định kỳ và đột xuất kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án của cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự; kiểm sát hồ sơ thi hành án hình sự của cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự. Việc kiểm sát trực tiếp việc thi hành án của cơ quan thi hành án hình sự nhằm kịp thời phát hiện vi phạm trong thi hành án, bảo đảm việc thi hành án tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Qua đó, góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp không bị pháp luật tước bỏ của người bị kết án.   

Trong quá trình kiểm sát thi hành án hình sự, nếu phát hiện có căn cứ để miễn, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ chấp hành án thì Viện kiểm sát có trách nhiệm đề nghị các cơ quan có thẩm quyền ra các quyết định miễn, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ chấp hành án đối với người bị kết án; đồng thời, Viện kiểm sát tham gia việc xét giảm, miễn thời hạn chấp hành án, chấp hành biện pháp tư pháp, rút ngắn thời gian thử thách để phát biểu quan điểm về việc giải quyết đó.

Trong trường hợp phát hiện có vi phạm trong việc thi hành án hình sự, Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu Toà án, cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp, cấp dưới, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự trong việc thi hành án hình sự và cá nhân có liên quan đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc thi hành án hình sự và chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật. Bằng cách đó, góp phần khắc phục những sai lầm, khôi phục lại những quyền, lợi ích hợp pháp không bị pháp luật tước bỏ của người đang phải chấp hành án.

Trong quá trình kiểm sát thi hành án hình sự, nếu phát hiện được có căn cứ để không buộc một người phải tiếp tục chấp hành hình phạt tại trại giam thì Viện kiểm sát ra quyết định trả tự do ngay cho người bị bị kết án. Đó là các trường hợp: Người đã được Toà án xét xử và quyết định trả tự do; người được tuyên không phạm tội, được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt; người bị phạt hình phạt không phải là tù giam, thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian đã bị tạm giam; người đã chấp hành xong thời hạn phạt tù ghi trong bản án nếu họ không bị tạm giam về một hành vi phạm tội khác; người đã có quyết định giảm hết thời hạn chấp hành hình phạt tù; người đã có quyết định đặc xá của Chủ tịch nước; người đã có quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người đã có quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, người bị bắt thi hành bản án đã được Toà án có thẩm quyền thông báo đã hết thời hiệu.

Khi thực hiện công tác kiểm sát việc thi hành án hình sự, nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm trong quản lý giam giữ thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tóm lại, với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra, xét xử, giam giữ, thi hành án hình sự, Viện kiểm sát góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự. Các quyền năng và biện pháp mà Viện kiểm sát sử dụng để bảo vệ quyền con người rất đa dạng, như: Yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; tự mình thực hiện một số hoạt động điều tra để xác minh, làm rõ những vấn đề còn nghi ngờ; yêu cầu hủy bỏ hoặc tự ra quyết định hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của Cơ quan điều tra; không phê chuẩn các quyết định hạn chế quyền của người bị tình nghi, bị can khi chưa đủ căn cứ; đình chỉ vụ án đối với bị can khi có căn cứ xác định bị can không phạm tội hoặc có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự; trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù khi có căn cứ theo luật định; ra quyết định truy tố và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án tại các phiên toàn xét xử các vụ án hình sự; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án để khắc phục vi phạm; kiến nghị các cơ quan có liên quan đến các hoạt động tố tụng hình sự để có các biện pháp khắc phục, phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật...

Những hoạt động của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự góp phần bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự; đồng thời, là một trong những yếu tố bảo đảm nguyên tắc chế ước và kiểm soát quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi